Đặc điểm lâm sàng, chụp cắt lớp vi tính và kết quả điều trị nhồi máu não cấp bằng tiêu huyết khối đường tĩnh mạch - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, tai biến mạch máu não là loại bệnh lý rất thường gặp trên lâm
sàng mà hậu quả làm cho nhiều người bệnh trở nên tàn phế, thậm chí có thể gây
tử vong là nguyên nhân đứng hàng thứ ba sau các bệnh tim mạch và ung thư ở
các nước phát triển [1],[2]. Do vậy gánh nặng rất lớn về chi phí y tế của gia đình
và xã hội. Đột quỵ não được chia làm hai thể chính là nhồi máu não và chảy máu
não, trong đó nhồi máu não chiếm khoảng 80% - 85% [3],[4].
Đột quỵ thiếu máu não cục bộ gây ra bởi sự tắc nghẽn động mạch não
cấp tính, dẫn đến tình trạng giảm lượng máu nuôi não một cách đột ngột ở
vùng chi phối của động mạch bị tắc. Hậu quả là, tế bào não thuộc vùng thiếu
máu bị tổn thương và kết cục cuối cùng là nhồi máu não, với các thiếu sót
chức năng thần kinh trên lâm sàng và dođiều trị hiệu quả hiện có thể áp dụng
cho bệnh nhân phải được khởi động ngay trong vòng vài phút, vì vậy hầu hết
các biểu hiện thần kinh cấp tính gặp ở một bệnh nhân đến cấp cứu cần được
giả định là đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp tính cho đến khi khai thác tiền
sử, khám lâm sàng và thăm dò hình ảnh học chứng minh được các biểu hiện
này không liên quan đến đột quỵ thiếu máu não cục bộ [5].
Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã tiến hành điều trị thuốc tiêu sợi
huyết Alteplase đường tĩnh mạch ở bệnh nhân nhồi máu não cấp trong vòng 3
giờ đầu với hai mức liều khác nhau. Các quốc gia ở Châu Âu và Châu My
xem liều 0,9 mg/kg như là liều chuẩn, còn các quốc gia ở Châu Á lại có
khuynh hướng sử dụng liều thấp 0,6 mg/kg [6] nhưng vẫn cho kết quả phục
hồi chức năng tốt sau ba tháng tương tự liều 0,9 mg/kg và biến chứng chảy
máu trong sọ có triệu chứng thấp hơn nhiều so với những bệnh nhân được
điều trị liều 0,9 mg/kg. Nhật Bản là nước chỉ sử dụng mức liều 0,6 mg/kg, đặc
biệt thử nghiệm lâm sàng J-ACT II ( Japan Alteplase Clinical Trial II ) với 58
bệnh nhân nhồi máu não cấp do tắc động mạch não giữa được điều trị bằng

1


2.

Kết quả điều trị nhồi máu não cấp bằng tiêu huyết khối đường tĩnh
mạch.

2


3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. GIẢI PHẪU HỆ MẠCH NÃO

1.1.1. Hệ động mạch cảnh trong

Hình 1.1: Giải phẫu hệ động mạch cảnh và động mạch đốt sống-thân nền[9]
Não được cấp máu bởi hai hệ thống động mạch [8],[10],[11]: hệ thống
động mạch cảnh trong và hệ thống động mạch cột sống- thân nền. Hai hệ
thống này nối thông với nhau ở nền sọ tạo nên đa giác Willis và nối thông với
động mạch cảnh ngoài qua động mạch mắt.

3


4

a. Động mạch cảnh trong là một trong hai nhánh tận của động mạch
cảnh chung, cấp máu cho hầu hết các cơ quan chứa trong hộp sọ và ổ mắt. Bắt

thành bên yên bướm, liên quan mật thiết với thần kinh vận nhãn, thần kinh
ròng rọc, thần kinh vận nhãn ngoài. Đoạn này có thể phát sinh hiện tượng
thông động mạch cảnh trong- xoang tĩnh mạch hang. Ở đoạn này nó cho một
nhánh bên là động mạch mắt nối thông với động mạch cảnh ngoài, tiếp đó nó
chia thành động mạch thông sau, động mạch não giữa và động mạch não trước.
Tắc động mạch cảnh trong đoạn trong sọ sẽ gây tổn thương trên diện rộng và
làm cắt đứt vòng đa giác Willis.
b. Động mạch não trước: Đi bên trong hành khứu, tại đây hai động mạch
não trước nối thông với nhau bằng động mạch thông trước, đi tiếp lên và nằm
trên thể chai, tưới máu cho các vùng: mặt trong của thùy đỉnh và thùy đỉnh, bờ
trên và khoảng 1/3 diện tích phần trên của bán cầu đại não, phần trong của mặt
dưới thùy trán, 4/5 trước của thể chai, đầu nhân đuôi, phần trước nhân đậu,
phần trước của đồi thị, nửa trước của cánh tay trước bao trong.

5


6

Hình 1.3: Giải phẫu các động mạch não[9]
c. Động mạch não giữa: là nhánh tận lớn nhất của động mạch cảnh
trong, là nhánh xuất phát phía ngoài hơn ở chỗ chia đôi động mạch cảnh
trong. Đoạn đầu tiên của nó (đoạn M1- đoạn xương bướm) chạy theo mẫu
giường trước khoảng 1- 2 cm. Sau đó động mạch não giữa đổi hướng ra ngoài
để vào đáy khe Sylvius, ở đó nó nằm trên bề mặt thùy đảo và chia ra các
nhánh của nó (đoạn M2- đoạn thùy đảo). Nó ngoặt gấp về phía sau để đi dọc
theo bề mặt của nắp thùy đảo (đoạn M3- đoạn nắp) và rồi cuối cùng đi ra khỏi
khe Sylvius lên bề mặt lồi phía ngoài của não (đoạn M4, M5 - các đoạn tận).
Đoạn M1 của động mạch não giữa cho rất nhiều nhánh xiên cấp máu cho
vùng sâu của não.

sau dưới, các nhánh cho mặt bên hành tủy. Hai động mạch đốt sống gặp nhau
tại rãnh hành cầu tạo thành động mạch thân nền. Động mạch thân nền đi đến
rãnh cầu cuống chia thành hai động mạch não sau. Động mạch não sau nối
thông với động mạch não giữa qua động mạch thông sau.

7


8

Động mạch thân nền cấp máu cho: phần cao của hành não, động mạch
tiểu não giữa và động mạch tiểu não trên. Tắc động mạch thân nền sẽ gây tổn
thương hành não với nguy cơ tử vong rất cao.
Động mạch não sau: cho những nhánh bàng hệ tưới máu cho não giữa và
đồi thị, động mạch mạc sau và những nhánh tận tưới máu mặt dưới và trong
thùy thái dương, phần sau thể chai, thể gối ngoài và mặt trong thùy chẩm.
Như vậy, các động mạch lớn của não: bao gồm động mạch cảnh trong,
động mạch não giữa, động mạch não trước, động mạch não sau, động mạch
đốt sống thận nền, động mạch thông trước, động mạch thông sau.
1.2. KHÁI NIỆM VÙNG TRANH TỐI TRANH SÁNG
Khái niệm này cho rằng: tùy thuộc vào tình trạng dòng máu nuôi còn lại,
vùng nhu mô não bị suy giảm chức năng có thể tồn tại và hồi phục nếu được
tái tưới máu đầy đủ trong một khoảng thời gian giới hạn. Tại vùng nhu mô
não bị thiếu máu, các tổn thương không hồi phục bắt đầu từ vùng trung tâm,
nơi bị giảm lưu lượng máu nặng nhất và tiến triển dần theo thời gian lan đến
vùng ngoại vi, là nơi có tình trạng tưới máu ít bị ảnh hưởng hơn.
Có nhiều mức độ khác nhau về nhu cầu năng lượng nhằm duy trì chức
năng màng và truyền tải các thông tin, do vậy có nhiều ngưỡng tiêu thụ năng
lượng khác nhau. Ngoài ra, cần đòi hỏi lưu lượng dòng máu phải được duy trì
một cách liên tục nhằm bảo tồn chức năng thần kinh và tính toàn vẹn về mặt

gam/ phút. Sau một thời gian ngắn ở tình trạng thiếu máu, ion kali sẽ bị thoát
khỏi tế bào, chứng tỏ có hiện tượng mất chức năng của màng tế bào và dẫn tới
sự khử cực do giảm oxy mô. Trung bình, ở mỗi mức độ giảm lưu lượng dòng
máu, tế bào thần kinh có thể vẫn được chịu đựng trong một khoảng thời gian
xác định: với lưu lượng dòng máu từ 17 đến 20ml/ 100gam/ phút, tế bào thần
kinh có thể duy trì trong một thời gian dài không xác định. Dựa trên mô hình
sử dụng trong nhiều nghiên cứu, khi mức lưu lượng máu não giảm đến mức
12ml/ 100gam/ phút và kéo dài trong 2 đến 3 giờ sẽ dẫn tới tình trạng nhồi
máu não, tuy nhiên ở riêng từng cá thể, tế bào có thể bị hoại tử trong một
khoảng thời gian ngắn hơn, hoặc với lưu lượng dòng máu não cao hơn [15]

9


10

1.3. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG NHỒI MÁU NÃO.

Khi xảy ra đột quỵ, bệnh nhân có các dấu hiệu khởi phát bệnh sau đó
đạt tới triệu chứng tối đa rồi giảm đi khi có sự hồi phục ổ nhồi máu hoặc phù
nề não giảm bớt [8],[11],[16].
Các triệu chứng lâm sàng giai đoạn toàn phát: Tùy thuộc vào vị trí
nhánh động mạch bị tổn thương mà có triệu chứng lâm sàng tương ứng [16].
* Tổn thương động mạch não giữa:
+ Tổn thương nhánh nông trước:
Các triệu chứng bao gồm: Liệt nửa người khác bên ưu thế tay- mặt, rối
loạn cảm giác khác bên ưu thế tay- mặt, bán manh bên đồng danh, thất ngôn
vận động Broca.
+ Tổn thương nhánh nông sau:
Bán cầu ưu thế (bán cầu trái với người thuận tay phải) có thể thấy:Bán

BỆNH NHÂN THIẾU MÁU NÃO CỤC BỘ CẤP TÍNH.

1.3.1. Vai trò của của chụp cắt lớp vi tính (CLVT) sọ não.
1.3.1.1. Chụp cắt lớp vi tính sọ não không cản quang.
Chụp cắt lớp vi tính sọ não là một trong những ky thuật hình ảnh cận
lâm sàng quan trọng trong chẩn đoán đột quỵ. Ky thuật này cho phép chẩn
đoán xác định được chảy máu trong sọ và chảy máu dưới nhện. Trong điều trị
thuốc tiêu huyết khối đường tĩnh mạch, chụp cắt lớp vi tính sọ não được xem
là bắt buộc để loại trừ chảy máu não [11],[17].
Trên phim chụp CLVT sọ não không cản quang có thể phát hiện các
dấu hiệu sớm của thiếu máu não cục bộ cấp tính:
Dấu hiệu tăng tỷ trọng tự nhiên của động mạch [19] như dấu hiệu tăng
tỷ trọng hình dải (hyperdense sign) và tăng tỷ trọng hình chấm (dot sign). Các
dấu hiệu này có ý nghĩa chỉ điểm là có tắc động mạch nhưng không có nghĩa
là thiếu máu trong vùng cấp máu của động mạch đó. Dấu hiệu tăng tỷ trọng
hình dải thường gặp trong tắc nghẽn đoạn M1 còn dấu hiệu tăng tỷ trọng hình
chấm gặp do huyết khối gây tắc đoạn M2 hoặc M3 của động mạch não giữa.

11


12

Hình 1.5: Dấu hiệu tăng tỷ trọng hình dải (A) và dấu hiệu tăng tỷ trọng
hình chấm (B) [Error: Reference source not found].
Các biểu hiện sớm của giảm tỷ trọng nhu mô não: giảm tỷ trọng nhân
bèo, dấu hiệu xóa dải băng thùy đảo (insular ribbon sign), mất phân biệt chất
xám và chất trắng.
Nhược điểm của chụp CLVT sọ não không tiêm thuốc cản quang là
không cho biết chính xác vùng thiếu máu, không đo được thể tích vùng thiếu

độc hại, tạo ảnh trên các bình diện dọc và ngang, cho hình ảnh rõ nét cả vùng
hố sau, đáy não [11]. Chụp CHT sọ não có giá trị chẩn đoán hơn hẳn so với
chụp CLVT sọ não trong đột quỵ não cấp với độ đặc hiệu tương đương, nhưng
có độ nhạy cao hơn nhiều lần [23], cho phép đo thể tích vùng thiếu máu một
cách dễ dàng và chính xác hơn so với chụp CLVT, phát hiện dễ dàng tổn
thương có chảy máu hay không, phát hiện vùng giảm tưới máu dựa vào sự
không tương xứng giữa xung tưới máu và xung khuếch tán, ngoài ra còn cho
phép phát hiện vị trí mạch máu bị tắc.
1.3.2.1. Chụp cộng hưởng từ khuyếch tán.
Các xung CHT cơ bản có độ nhạy thấp hơn chụp khuếch tán trong giai
đoạn cấp của đột quỵ não, do vậy chụp khuếch tán là thành phần không thể thiếu
trong trong chẩn đoán đột quỵ não bằng ky thuật CHT. Chụp CHT khuếch tán có
khả năng phát hiện các tổn thương cấp chỉ trong vòng ít phút sau khi xảy ra tình

13


14

trạng thiếu máu não cục bộ, trong khi đó nếu sử dụng xung CHT truyền thống thì
cần ít nhất vài giờ để có thể ghi nhận được bất kỳ sự thay đổi nào.
1.3.2.2. Chụp cộng hưởng từ mạch máu não.
Chụp CHT mạch TOF 3D (Time of flight 3D) là ky thuật không xâm lấn,
được thực hiện nhanh chóng không cần thuốc đối quang từ. Đây là ky thuật ưu
tiên sử dụng khi phối hợp với xung khuếch tán- tưới máu trong đánh giá đột quỵ
não cấp. Ky thuật này là phương pháp đáng tin cậy để phát hiện sự tắc nghẽn ở
động mạch cảnh và động mạch não giữa, não trước, cũng như động mạch thân
nền. Ngoài ky thuật chụp CHT mạch TOP 3D, chụp CHT mạch có sử dụng thuốc
đối quang từ cho hình ảnh chính xác và có độ tin cậy cao hơn [24].
Trong bệnh cảnh đột quỵ não cấp, chụp CHT mạch máu nội sọ có thể

Kiểm soát tốt huyết áp nếu bệnh nhân có tăng huyết áp [26]. Điều trị hạ
áp nếu huyết áp tâm thu > 220 mmHg hoặc huyết áp tâm trương > 120 mmHg
ở những bệnh nhân không được điều trị thuốc tiêu huyết khối; tuy nhiên nếu
bệnh nhân được điều trị thuốc tiêu huyết khối thì cần duy trì huyết áp tâm thu
dưới 185 mmHg và huyết áp tâm trương dưới 110 mmHg
Cần điều trị hạ thân nhiệt nếu bệnh nhân có sốt (nhiệt độ trên 38 0C),
các nguyên nhân gây sốt cần được xác định và điều trị.
Duy trì đường máu ở mức bình thường nếu bệnh nhân có hạ hay tăng
đường huyết. Ở bệnh nhân tăng đường máu, đường máu nên duy trì ở mức
140- 180 mg/dl (tương đương 7mmol/l- 10 mmol/l).
1.4.2. Thuốc tiêu huyết khối đường tĩnh mạch.
Hiệu quả của các phương pháp điều trị nội khoa thông thường đối với
bệnh nhân đột quỵ thiếu máu máu não cục bộ cấp tính còn thấp, tỷ lệ di chứng và
tỷ lệ tử vong còn cao [30], do đó đòi hỏi các phương pháp điều trị đặc hiệu cho
những bệnh nhân này.
Điều trị thuốc tiêu huyết khối đường tĩnh mạch là một trong những biện
pháp điều trị đặc hiệu đầu tiên để bảo tồn việc tái tưới máu não bằng cách ly giải
cục máu đông. Có thể áp dụng rộng rãi phương pháp này ở các Khoa Cấp cứu
hoặc khoa Thần kinh tại các Bệnh viện đáp ứng đủ các điều kiện về trình độ
chuyên môn (có thầy thuốc chuyên khoa Cấp cứu, Thần kinh, Chẩn đoán hình

15


16

ảnh đã được đào tạo về đánh giá và điều trị thuốc tiêu huyết khối), được trang bị
đầy đủ các phương tiện máy móc phục vụ cho chẩn đoán và theo dõi bệnh nhân
đột quỵ não cấp.
Thuốc tiêu huyết khối Alteplase được nhiều nghiên cứu trên thế giới

nghiên cứu 66 bệnh nhân đột quỵ não cấp trong vòng 3 giờ đầu điều trị thuốc tiêu
huyết khối đường tĩnh mạch Alteplase liều thấp 0,6 mg/kg tại Khoa Cấp cứu Bệnh
viện Bạch Mai cho thấy đạt hiệu quả cao và an toàn.72,73% bệnh nhân có điểm
NIHSS cải thiện giảm trên 4 điểm sau 24 giờ. Điểm NIHSS giảm xuống 7,5 ± 6,12
sau 24 giờ điều trị (p
18


19

thuốc này được phát triển dựa trên các kết quả đầy hứa hẹn của hàng nghìn
thử nghiệm trên động vật, tuy nhiên các thử nghiệm trên người chưa chứng
minh được hiệu quả.Vì vậy chưa có một thuốc nào được khuyến cáo để điều
trị nhằm mục đích bảo vệ tế bào não cho những bệnh nhân thiếu máu não.
Các biện pháp điều trị dự phòng cấp hai khác gồm các thuốc chống
ngưng tập tiểu cầu hoặc thuốc chống đông tùy theo chỉ định, các thuốc điều trị rối
loạn lipid.
1.5. TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ THUỐC TIÊU HUYẾT
KHỐI ĐƯỜNG TĨNH MẠCH.

1.5.1. Tiêu chuẩn đánh giá kết quả dựa vào lâm sàng.
Trên lâm sàng: sử dụng thang điểm đột quỵ não NIHSS (xin xem chi tiết
tại phụ lục II) để đánh giá kết quả điều trị tiêu huyết khối đường tĩnh mạch.
- Tiêu chuẩn thành công khi điểm NIHSS giảm trên 4 điểm hoặc
NIHSS = 0 điểm so với trước khi dùng thuốc tiêu huyết khối.
- Tiêu chuẩn thất bại khi điểm NIHSS không giảm trên 4 điểm hoặc
tăng điểm so với thời điểm trước khi sử dụng thuốc tiêu huyết khối.
1.5.2. Tiêu chuẩn đánh giá kết quả dựa vào hình ảnh học.
- Tiêu chuẩn đánh giá tái thông mạch:
Vào năm 2010, tác giả Mori [7] đã đưa ra tiêu chuẩn đánh giá tái thông
mạch máu dựa trên vào chụp CLVT mạch não hoặc CHT mạch não, tiêu
chuẩn Mori đánh giá tái thông mạch máu gồm 4 mức độ:
+ Mức độ 0: Không có tái thông; hoàn toàn không có dòng chảy qua chỗ
tắc mạch.
+ Mức độ 1: Tái thông mạch máu rất ít.


20


21

CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện đa khoa Tỉnh Vĩnh Phúc từ
tháng 1/2017 - 04/2018.
2.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu gồm những bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp tính
trong vòng 4,5 giờ đầu kể từ khi khởi phát, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn lựa
chọn và không vi phạm các tiêu chuẩn loại trừ. đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn
lựa chọn và không vi phạm các tiêu chuẩn loại trừ. Các tiêu chuẩn này dựa trên
các tiêu chuẩn nghiên cứu của Viện nghiên cứu các rối loạn thần kinh và đột quỵ
não Hoa kỳ (National Institute of Neurological Disorders and Stroke/NINDS)
công bố năm 1996 và đã được Hiệp hội Đột quỵ não Hoa kỳ thông qua. [31].
2.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
Các bệnh nhân được lựa chọn vào nghiên cứu khi đáp ứng đủ tất cả các
tiêu chuẩn dưới đây:
- Tuổi của bệnh nhân trên 18 tuổi;
- Các triệu chứng khởi phát của đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp tính rõ
ràng dưới 270 phút trước khi dùng thuốc Alteplase.
- Chẩn đoán đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp tính với các dấu hiệu
thiếusót về thần kinh rõ ràng và định lượng được dựa trên bảng điểm NIHSS.
- Không có dấu hiệu của xuất huyết não hay xuất huyết dưới nhện trên

- Huyết áp không kiểm soát được (huyết áp tâm thu trên 185 mmHg hoặc
huyết áp tâm trương trên 110 mmHg).
- Chấn thương hoặc chảy máu tiến triển.
Cận lâm sàng:
- Không chụp cắt lớp vi tính sọ não và/hoặc chụp cộng hưởng từ sọ não
hoặc có bằng chứng chảy máu não trên chụp cắt lớp vi tính sọ não và/hoặc
chụp cộng hưởng từ sọ não.
22


23

- Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính sọ não và/hoặc cộng hưởng từ sọ não có
thiếu máu não cục bộ trên 1/3 diện chi phối động mạch não giữa.
- Có bất thường về đường huyết (dưới 2,8 mmo/l hoặc trên 22,2 mmol/l).
- Số lượng tiểu cầu dưới 100,000/mm3.
- Điều trị thuốc chống đông gần đây với tỷ lệ INR trên 1,5 lần chứng.
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu, loạt ca mô tả dọc.
2.3.2. Cỡ mẫu nghiên cứu.
Cỡ mẫu thuận tiện
2.3.3. Phương pháp thu thập số liệu.
Chúng tôi sử dụng một mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất (xin xem
phần phụ lục) bao gồm hỏi bệnh, khám bệnh, kết quả các xét nghiệm cận lâm
sàng, hình ảnh học và hướng xử trí,
2.3.4. Phương tiện nghiên cứu.
- Mẫu bệnh án theo các mục tiêu nghiên cứu.
- Máy móc nghiên cứu:

- Đặt đường truyền tĩnh mạch chắc chắn (có thể đã đặt khi lấy máu làm xét nghiệm).
- Cho bệnh nhân thở oxy qua kính mũi 3 lít/ phút.
- Sử dụng thuốc Alteplase theo liều nghiên cứu.
- Cách tính liều thuốc: cân nặng thực tế của bệnh nhân x 0,6 mg/kg, liều
tối đa không quá 60 mg.
- Cách dùng: tiêm liều nạp 15% tổng liều trong 1 phút, 85% tổng liều còn
lại truyền tĩnh mạch liên tục trong 60 phút.
2.3.5.3. Theo dõi và đánh giá bệnh nhân
- Đánh giá các dấu hiệu thần kinh cách 15 phút một lần trong khi truyền,
đánh giá điểm NIHSS ngay sau khi kết thúc truyền, sau đó cách 30 phút đánh
giá các dấu hiệu thần kinh một lần trong 6 giờ và tiếp theo cách 1 giờ một lần
cho đến đủ 24 giờ.

24


25

- Đo huyết áp cách 15 phút một lần trong khi truyền, sau đó cách 30 phút
một lần trong 6 giờ và tiếp theo cách 1 giờ một lần cho đến đủ 24 giờ.
- Nếu bệnh nhân đau đầu nhiều, tăng huyết áp cấp tính, buồn nôn hoặc
nôn phải dừng truyền ngay lập tức và cho bệnh nhân đi chụp cắt lớp vi tính sọ
não không cản quang để kiểm tra.
- Nếu huyết áp tâm thu tăng trên 180 mmHg hoặc huyết áp tâm trương
tăng trên 105 mmHg, phải theo dõi chặt chẽ và điều trị ngay để duy trì huyết
áp dưới 185/110 mmHg.
- Không dùng các thuốc chống đông hoặc các thuốc chống ngưng tập tiểu
cầu trong vòng 24 giờ kể từ khi bắt đầu điều trị thuốc tiêu huyết khối.
Sau 24 giờ:
- Bệnh nhân được chụp lại phim cắt lớp sọ não hoặc cộng hưởng từ sọ não


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status