1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư dạ dày (UTDD), trong đó chủ yếu là ung thư biểu mô dạ dày, là một
trong những bệnh ung thư phổ biến nhất, với số lượng mắc mới trên thế giới lên tới
952.000 ca mỗi năm. Năm 2012, UTDD là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ
ba trên thế giới; 70% số ca được báo cáo đó là ở những nước đang phát triển, một
nửa trong số này là ở Đông Á [1]. Việt Nam thuộc khu vực nguy cơ UTDD trung
bình cao, với tỷ lệ mắc mới chuẩn hóa theo tuổi là 21,8 ở nam và 10,0 ở nữ mỗi
100.000 dân [2].
Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán, điều trị nhưng tiên lượng UTDD
hiện nay vẫn còn xấu, đặc biệt là ung thư dạ dày tiến triển, với tỷ lệ sốngthêm 5
năm chỉ khoảng 28% [3]. Các liệu pháp hóa trị là cần thiết ở đa số bệnh nhân ung
thư dạ dày tiến triển, nhưng chúng chỉ cải thiện tiên lượng ở một số ít bệnh nhân có
chọn lọc với thời gian sống thêm tối đa không quá 12 tháng và độc tính cao [4]. Bên
cạnh đó, hiện nay, vẫn chưa có dấu ấn sinh học nào giúp lựa chọn bệnh nhân vào
các liệu pháp hóa trị này.
Chính vì vậy, việc xác định các yếu tố nguy cơ để dự phòng và phát hiện sớm
UTDD sẽ là một hướng nghiên cứu mới của nền y học hiện đại. Bên cạnh các yếu tố
nguy cơ liên quan đến môi trường và lối sống thì yếu tố di truyền đóng vai trò khá
quan trọng đối với sự hình thành và phát triển ung thư. Trong những năm gần đây,
cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành Y sinh học phân tử, nhiều phương pháp
mới ra đời đã giúp việc chẩn đoán và phát hiện sớm một số loại ung thư nói chung
và UTDD nói riêng. Nguyên tắc chung của phương pháp này là sử dụng kỹ thuật
phân tích DNA xác định các gen gây ung thư. Các gen này có thể được phát hiện ở
trong các mô ung thư, hạch lympho hoặc tủy xương và thậm chí ở cả máu ngoại vi.
Dựa vào việc phân tích tính đa hình thái trên một số gen chủ chốt có thể xác định
được nguy cơ gây UTDD thông qua sự phân bố kiểu gen của từng cá thể.
Gen mucin 1 (MUC1) là một thành viên trong họ mucin, mã hóa chất nhầy
glycoprotein bám trên màng tế bào, có ở nhiều cơ quan như phổi, tuyến vú, thực
quản, tá tràng, mắt,…. Tại dạ dày, protein nhầy này tạo ra một rào cản vật lý có vai
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Sơ lược về ung thư dạ dày
1.1.1. Dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ ung thư dạ dày
1.1.1.1. Dịch tễ học
Ung thư dạ dày (UTDD) là một loại ung thư thường gặp, với khoảng 989.000
trường hợp mắc mới mỗi năm trên toàn thế giới [12]. Tổ chức Y tế Thế giới ước tính
trong năm 2012, UTDD chiếm 723.000 trường hợp tử vong trên toàn thế giới [13].
UTDD phân bố không đồng đều trên thế giới, sự biến đổi địa lý ảnh hưởng lớn đến đến
tỷ lệ mắc bệnh này trên toàn thế giới, có tới khoảng hai phần ba số bệnh nhân UTDD là
ở các nước đang phát triển. Tỷ lệ mắc cao nhất được thấy ở Nhật Bản, Nam Mỹ, Đông
Âu, tỷ lệ mắc thấp nhất ở Bắc Mỹ, Ấn Độ, Nigieria và Úc [14].
Hình 1.1: Tỷ lệ mắc UTDD chuẩn hóa theo tuổi trên thế giới
(trên 100.000 người) [11]
Việt Nam thuộc khu vực có tỷ lệ mắc UTDD trung bình cao, với tỷ lệ mắc
UTDD chuẩn hóa theo tuổi ở nam là 21,8 và ở nữ là 10,0 mỗi 100.000 dân [2].
Theo nghiên cứu của Trần Văn Huy tại Bệnh viện Trung ương Huế, trong nhóm
bệnh ung thư tiêu hóa, UTDD chiếm tỉ lệ cao nhất (52,4%) [15].
4
1.1.1.2. Các yếu tố nguy cơ
UTDD là hậu quả của tương tác phức tạp giữa yếu tố vật chủ với môi trường.
Yếu tố môi trường
Nhiều nghiên cứu cho thấy nhóm nguy cơ môi trường quan trọng nhất là
chế độ ăn uống, hút thuốc lá và nhiễm H. pylori.
- Chế độ ăn uống có nhiều nitrat như các loại cá, thịt chế biến sẵn, các loại
thức ăn xông khói, ướp muối, sẽ làm tăng nguy cơ UTDD. Nitrosamin có trong thức
ăn hoặc do một số loại thức ăn chứa nitrat tạo ra là một chất gây UTDD [16], [3].
Ăn ít rau và trái cây cũng làm tăng nguy cơ UTDD [16].
di truyền là một loại UTDD di truyền được xác định rõ là do đột biến dòng phôi
trong gen E-cadherin (CDH1) [26].
- Polyp dạ dày: U tuyến chiếm khoảng 10% polyp dạ dày, là các khối u xuất
phát từ tổ chức tuyến của dạ dày, có nguy cơ tiến triển thành ung thư cao nhất.
Khoảng 2% polyp tăng sản cũng có thể phát triển thành ung thư. Các polyp tuyến
đáy vị thường gặp ở phần đáy dạ dày, không diễn biến thành ác tính trừ những
người có hội chứng đa polyp tuyến gia đình [22].
- Loét dạ dày tá tràng: Nghiên cứu thuần tập lớn nhất của Hansson theo dõi
gần 60.000 bệnh nhân Thụy Điển vào viện vì loét dạ dày hoặc loét tá tràng trong
thời gian trung bình 9 năm cho thấy nguy cơ UTDD tăng 1,8 lần ở những bệnh nhân
loét dạ dày lành tính và giảm 0,6 lần ở những bệnh nhân loét tá tràng lành tính [27].
1.1.2. Phân loại ung thư dạ dày
1.1.2.1. Theo vị trí
Hiện nay, người ta có khuynh hướng chia UTDD thành 2 loại là ung thư tâm vị
và ung thư không thuộc tâm vị bởi lẽ dịch tễ, bệnh nguyên, mô bệnh học, điều trị và
tiên lượng của UTDD từ hai vị trí này khác nhau rất rõ [28], [29], [30], [31].
+ Tâm vị: là ung thư trong khoảng 1cm trên đến 2 cm dưới đường nối thực
quản dạ dày.
+ Không thuộc tâm vị gồm các vị trí sau:
o Phình vị, thân vị
o Bờ cong lớn, bờ cong nhỏ
o Hang, môn vị
o Vị trí khác như khi tổn thương ảnh hưởng lên toàn bộ dạ dày hoặc
6
chồng lấn giữa các khu vực không thuộc tâm vị.
Hình 1.2: Vị trí tổn thương trong ung thư dạ dày
UTDD không thuộc tâm vị thường gặp hơn ở những khu vực có tỷ lệ mắc
bottle). Ở giai đoạn đầu, ung thư thể xơ đét dễ nhầm với viêm dạ dày.
8
Hình A: Dạng polyp
Hình B: Dạng nấm
Hình C: Dạng loét
Hình D: Dạng thâm nhiễm
Hình 1.3: Phân loại hình ảnh đại thể theo Borrmann
Các thầy thuốc nội soi và phẫu thuật viên thường dùng bảng phân loại này
để mô tả hình ảnh đại thể của khối u vì nó là cách phân loại đơn giản, dễ sử
dụng và cũng có giá trị tiên lượng nhất định trong UTDD.
1.1.2.3. Theo mô bệnh học
Về mặt vi thể, phân loại UTDD rất đa dạng và phức tạp, chủ yếu dựa trên
kiểu hình mô học chiếm ưu thế nhất [35]. Hiện nay, hai cách phân loại đang được áp
dụng nhiều nhất dùng để tiên lượng cho bệnh nhân đó là phân loại của Lauren
(1965) và của WHO (2010).
9
Bảng 1.1: Phân loại mô bệnh học ung thư biểu mô dạ dày [36], [37]
Lauren 1965
Typ ruột
Typ lan tỏa
Typ hỗn hợp
thêm 5 năm của 3 thể trên lần lượt là 100%, 25% và 7,7% [38].
Tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn là độ sâu xâm lấn (giai đoạn T), tình trạng di
10
căn hạch vùng (giai đoạn N) và di căn xa (giai đoạn M) [42]. UTDD càng sớm tiên
lượng càng tốt [3]. Những kết quả này ủng hộ cho sự ra đời phương pháp đánh giá
giai đoạn UTDD dựa trên đánh giá giai đoạn TNM của AJCC/UICC được sử dụng
trên phạm vi toàn thế giới (Bảng 2.2) [31].
Bảng 1.2. Hệ thống đánh giá giai đoạn ung thư dạ dày của Ủy ban Hợp nhất
Hoa Kỳ về Ung thư và Liên minh Kiểm soát Ung thư Quốc tế lần thứ 7 [31]
Giai đoạn
T
Tis (T0)
T1
T2
T3
T4a
T4b
N
N0
N1
N2
N3
M
M0
M1
Bệnh
0
I
1.2.1. Vị trí gen
Ở người, gen MUC1 nằm ở nhánh dài nhiễm sắc thể số 1, vùng 2, băng 2
(ký hiệu: 1q22), kích thước 4407 bp, gồm 7 exon và 6 intron.
11
Hình 1.4: Vị trí của gen MUC1 [43]
1.2.2. Cấu trúc gen và các biến thể
MUC1 chứa 7 exon, exon 1-4 mã hóa cho MUC1-N và exon 4-7 mã hóa
MUC1-C (Hình 1.4).
Hình 1.5: Cấu trúc gen MUC1 và các biến thể [44]
Ở người, có một số biến thể của MUC1 là kết quả trong luân chuyển cắt bỏ
exon và nối intron. Một nghiên cứu gần đây xác định được 78 biến thể của MUC1
[45] với các biến thể phổ biến nhất là MUC1/A, MUC1/B, MUC1/C, MUC1/D,
12
MUC1/X (hoặc MUC1/Z), MUC1/Y, và MUC1/ZD. MUC1/A, MUC1/B, MUC1/C,
và MUC1/D mã hóa toàn bộ chiều dài MUC1, qua sự cắt nối intron I và exon 2
(Hình 1.4B), chúng chỉ khác nhau bởi chiều dài VNTR [46] [47]. MUC1/B là được
gọi là mRNA MUC1 bình thường. Biến thể MUC1/X (hoặc MUC1/Z), MUC1/Y, và
MUC1/ZD được tạo ra từ các vị trí cắt nối thay thế nằm trong exon 2, nơi VNTR
mã hóa trong exon 2 được bỏ qua (Hình 1.4C) [48], [49]. Dạng MUC1/Y 54 bp
ngắn hơn MUC1/X và thể hiện rõ hơn trong ung thư vú, buồng trứng và tiền liệt
tuyến [50], [51]. MUC1/ZD cũng thiếu vùng VNTR và trình tự thoái hóa phụ,
nhưng có chứa một miền C đặc biệt (43 acid amin), đó là kết quả của sự dịch khung
[52]. Một dạng tiết của MUC1 được gọi là MUC1/SEC mà thiếu cả hai TMD và
CT, liên kết với MUC1/Y gây phosphoryl hóa tyrosine của MUC1/Y [53]. Hiện nay
(TACE), còn gọi là ADAM17 hay MMP-MT1, để tạo ra các đoạn peptid: MUC1*
(16 kDa) hoặc MUC1-CTF15 (15 kDa) với ECD ngắn hơn. Về chức năng, MUC1*
hoạt động như một thụ thể yếu tố tăng trưởng cho NM23-H1 và MUC1-CTF 15 đóng
vai trò như một chất nền cho γ-secretase.
(D) Trình tự acid amin của MUC1 CT, nổi bật những vị trí tiềm tàng
phosphoryl hóa và gắn các protein. Các tyrosin (màu đỏ), threonin (màu xanh lá
cây) và serine (màu xanh nước biển) của MUC1 CT được phosphoryl hóa bởi thụ
thể yếu tố tăng trưởng và kinase nội bào. Các tiểu đơn vị P85 của PI3K, PKC-δ,
GSK-3β và c-Src phosphoryl hóa gốc tyrosine của trình tự YHPM, threonin của
trình tự TDR, serine của trình tự SPY và tyrosin của trình tự YEKV tương ứng. βcatenin liên kết trực tiếp với các trình tự SAGNGGSSLS giàu serine. Những gốc
được phosphoryl hóa trở thành các vị trí liên kết tiềm năng cho các phân tử tín hiệu
nội bào và do đó có thể tích hợp thác tín hiệu khác nhau hoặc điều chỉnh tình trạng
kích hoạt của chúng. Ví dụ, phosphotyrosin của trình tự SANL hoạt động như một
vị trí bám cho protein Grb-2 [55]. MUC1-C monomer được dimer hóa quanh trình
tự CQC để tạo thành một dimer có chức năng [56].
MUC1-N gồm miền giàu prolin, threonin và serine (PTS) và miền SEA. Tên
miền PTS, cũng chính là trình tự lõi lặp lại (VNTR), được một exon mã hóa rất đa
hình cho nhiều chuỗi 20-21 acid amin lặp đi lặp lại [57].
Ở Bắc Âu, các VNTR gồm 20-120 lần lặp đi lặp lại, với 40-80 lần lặp đi lặp
lại là phổ biến nhất [58]. Trình tự acid amin của vùng VNTR có thể thay đổi trong
các dòng tế bào ung thư khác nhau, phù hợp với tính chất đa hình cao của trình tự
này [59]. MUC1 được O-glycosyl hóa và N-glycosylated rộng rãi tạo nên mucin
chức năng trưởng thành [60].
1.2.3.2. Chức năng
Ở tế bào bình thường:
Trong các tế bào biểu mô bình thường, MUC1 nằm ở đỉnh bề mặt của các tế
bào và đóng vai trò như một hàng rào chống lại những tác nhân ngoại sinh tới tế bào
[61]. Các protein MUC1 trên bề mặt tế bào bao gồm tiểu đơn vị đầu N và C, được
xem như MUC1-N và MUC1-C tương ứng. Sau khi được dịch, protein MUC1 đơn
16
[8], [67]. Nó còn giúp tế bào ung thư tồn tại trong điều kiện thiếu oxy và dinh
dưỡng bởi điều chỉnh chuyển hóa lipid và đường, trạng thái năng lượng tế bào [68].
1.3. Đa hình thái đơn nucleotid của gen MUC 1
1.3.1. Đa hình thái đơn nucleotide
Hiện tượng đa hình thái đơn (SNPs) là những biến thể trình tự DNA xảy ra khi
một nucleotid đơn A, T, G, C ở trong bộ gen bị thay đổi so với bộ gen chung của
loài. Một biến thể để được coi là 1 SNP thì nó phải xảy ra ở ít nhất 1% dân số [69].
SNPs là một hiện tượng tương đối phổ biến diễn ra trong suốt chiều dài DNA
của 1 người, trung bình xảy ra 1 lần sau mỗi 300 nucleotid nghĩa là bộ gen người có
khoảng 3 tỷ bp sẽ có khoảng 10 triệu SNPs. Nó có thể xảy ra ở bất kỳ vị trí nào
trên hệ gen, ở vùng mã hóa hay không mã hóa, tuy nhiên người ta tìm thấy SNPs
với tần suất cao ở các đoạn DNA giữa các gen [69], [70].
Mặc dù hơn 99% trình tự DNA của con người là giống nhau, nhưng chỉ một
sự thay đổi nhỏ trong hệ gen cũng có thể tác động lớn đến việc làm thế nào mà con
người bị bệnh cũng như khả năng thích nghi với các yếu tố từ môi trường như: chất
độc, vi khuẩn, virus… và đáp ứng với các liệu pháp điều trị. Điều này làm cho
SNPs có vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực y sinh học. Tuy vậy, cho đến nay
ứng dụng quan trọng nhất của tính đa hình thái đơn nucleotid là so sánh vùng gen
giữa các nhóm người với nhau để xác định mối liên quan giữa SNPs với sự hình
thành và phát triển ung thư [69] ,[71].
17
Hình 1.7. Hình ảnh minh họa hiện tượng SNP
(Nguồn: )
1.3.2. Đa hình thái đơn nucleotid của gen MUC 1
Xu [72]
Jia [73]
Trung
Quốc
Ba lan
hình
606/1264
Rs407203
304/1465
7,
452/372
Quốc
Vùng đa
UTDD
2009
138/241
Jia [73]
Zhang [54]
Li [10]
Trung
UTDD
2011
1681/1858
UTDD
2012
596/587
Mỹ
UTDD
2014
132/125
Trung
UTDD
Nhiễm
Quốc
HP
Trung
Quốc
UTDD
Rs407203
7
Rs407203
7
Rs407203
7
Rs407203
7
Rs407203
7
Rs407203
7
Rs207080
3
Rs642718
Có
Có
1.4. Tình hình nghiên cứu về SNP rs2070803 và rs4072037
Trong những thập kỷ gần đây, nhờ những tiến bộ trong hiểu biết sâu sắc, đầy đủ
hơn về cơ chế gen nguy cơ gây ung thư dạ dày, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ
19
thuật, đặc biệt là ngành Y sinh học phân tử, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để
điều tra về vai trò tiềm năng của các biến thể di truyền MUC1 trong UTDD và gần đây
đã xác định được biến thể tiềm năng liên quan đến tính nhạy cảm ung thư.
Năm 2010, Abnet và cộng sự [77] đã tiến hành nghiên cứu trên 1625 bệnh
nhân UTDD và 2100 nhóm chứng. Họ đã xác định một SNP đáng chú ý rs4072037
A/G gen MUC1 trong đó alen A sẽ tăng nhạy cảm UTDD. Một nghiên cứu khác
trên bệnh nhân UTDD tại Nhật Bản tiết lộ 10 SNP hàng đầu được xác định liên
quan có ý nghĩa đến UTDD lan tỏa, trong đó bao gồm hai vị trí trên nhiễm sắc thể
1q22 [78]. Sau đó, Saeki và cộng sự [9] dựng lên bản đồ tính nhạy cảm để khám
phá những vị trí liên quan đến UTDD ở nhiễm sắc thể 1q22 và báo cáo rằng 2 SNP
rs2070803 và rs4072037 liên quan có ý nghĩa đến tính nhạy cảm tới UTDD lan tỏa
tại Nhật Bản và các kết quả đã được xác nhận ở Nhật Bản và nghiên cứu Hàn Quốc.
SNP rs4072037 nằm trong exon 2 của gen MUC1 và kiểm soát vị trí nối tại ranh
giới giữa exon 1 và 2 [9] [79]. SNP này ảnh hưởng đến vùng gen khởi động
promotor và phá vỡ các chức năng sinh lý của MUC1 [9], [80]. Các rs4072037 alen
G tương quan với VNTR lớn và alen A với VNTR nhỏ [79]. Tuy nhiên, các VNTR
không phải là hậu quả trực tiếp của tính đa hình với tính nhạy cảm GC vì vùng TR
không được dịch trong các tế bào biểu mô dạ dày bình thường hoặc ác tính [9].
Điều này cho thấy VNTR là một vùng gắn đa hình cho các biến thể di truyền, chẳng
hạn như rs4072037, liên quan đến nguy cơ ung thư dạ dày. SNP rs2070803 G/A có
vị trí giữa gen MUC1 và TRIM46 và các chức năng của nó chưa được hiểu rõ.
Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy mối liên quan giữa UTDD với SNP tại
các vị trí rs2070803 và rs4072037 (Bảng 1.2).
2009
2010
2010
2010
2011
2011
2011
2012
2013
2013
2014
OR (95%CI)
và kiểu gen
1.81
AA to AG + GG
2.20 (1.41–3.44)
AA to GG
0.72 (0.62–0.85)
G to A, allelic
0.75 (0.65–0.87)
G to A, allelic
1.74 (1.26–2.39)
A to G, allelic
1.62 (1.32–1.99)
A to G, allelic
0.73
G to A, allelic
0.46 (0.32–0.67)
AA + AG to GG
Hàn
Quốc
Nhật bản
Trung
Quốc
Trung
Quốc
Caucasia
n
Caucasia
n
Hàn
Quốc
Loại
Tha
ung
m
thư
khảo
UTDD
[72]
UTDD
[75]
[82]
1.5. Kỹ thuật PCR-RFLP
1.5.1. Phản ứng PCR
Kỹ thuật PCR (Polymerase chain reaction) do nhà khoa học Kary Mullis phát
minh vào năm 1983 đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lĩnh vực Y-Sinh học, nó
giúp các nhà khoa học đi từ những quy trình cơ bản nhất để thực hiện các nghiên
cứu chuyên sâu trong nhiều lĩnh vực, trong đó có Y học. PCR là kỹ thuật khuếch
đại một đoạn DNA ở môi trường ngoài cơ thể mà không cần sử dụng các sinh vật
21
sống như E.coli hay nấm men. Nguyên lý của kỹ thuật PCR cũng tuân thủ những
nguyên tắc cơ bản của sao chép DNA trong cơ thể như: đoạn DNA khuôn cần
tháo xoắn, cần có các cặp mồi, nguyên liệu và môi trường thích hợp, cần enzym
DNA polymerase và các nucleotid gắn vào sợi DNA khuôn theo nguyên tắc bổ
sung. Tuy nhiên kỹ thuật PCR có khác biệt là dùng nhiệt độ để tháo xoắn thay
cho enzym helicase, enzym DNA polymerase là enzym chịu nhiệt và có hệ thống
điều chỉnh nhiệt độ cho từng giai đoạn của phản ứng [83], [84], [85].
Một phản ứng PCR là một chuỗi gồm nhiều chu kỳ nối tiếp nhau, mỗi chu kỳ
gồm 3 giai đoạn [83], [84]:
- Giai đoạn 1- biến tính: chuỗi xoắn kép DNA khuôn bị biến tính
bởi nhiệt độ cao, thường là 94-950C, tách thành hai chuỗi đơn.
- Giai đoạn 2- gắn mồi: nhiệt độ được hạ xuống về nhiệt độ gắn mồi (40700C) cho phép các đoạn mồi gắn với các sợi DNA khuôn.
- Giai đoạn 3- kéo dài: nhiệt độ được nâng lên đến nhiệt độ tối ưu để enzym
xúc tác cho quá trình tổng hợp sợi DNA (thường là 720C).
Như vậy từ một sợi DNA xoắn kép ban đầu sau n chu kỳ của phản ứng PCR
Loại III: enzym cắt DNA tại vị trí cách vị trí nhận biết khoảng vài chục
nucleotid.
Một số enzym tạo ra các vết cắt ở cùng 1 vị trí trên mạch đối diện tạo ra các
đoạn DNA “đầu bằng”, còn hầu hết các enzym giới hạn đều tạo ra các vết cắt hơi
chéo nhau (hình chữ chi) tạo ra các đoạn DNA “đầu dính”.
23
Hình 1.9. Các kiểu cắt của enzym giới hạn
1.5.3. Kỹ thuật PCR-RFLP
Nguyên lý của kỹ thuật PCR-RFLP dựa trên cơ sở khuếch đại có chọn lọc
một đoạn DNA bằng kỹ thuật PCR. Sau đó tiến hành phân cắt đoạn DNA này
bằng enzym giới hạn thích hợp ta được các đoạn DNA có chiều dài khác nhau.
Sự khác nhau này có thể nhận biết bằng cách điện di sản phẩm trên gel. Sau khi
phân tích kết quả ta có thể tìm được tính đa hình của đoạn DNA ban đầu.
Như vậy, quy trình của kỹ thuật PCR-RFLP sẽ bao gồm các bước:
- Tách chiết DNA từ tế bào có nhân.
-
Dùng phản ứng PCR để khuếch đại 1 đoạn gen cần nghiên cứu có
kích thước phù hợp.
- Điện di kiểm tra sản phẩm PCR thu được.
- Cắt sản phẩm PCR thu được bằng enzym giới hạn thích hợp.
- Điện di sản phẩm thu được và đọc kết quả.
1.6. Kỹ thuật giải trình tự gen
Giải trình tự gen tức là phát hiện được thứ tự sắp xếp của 4 nucleotid
A,T,G,C trên phân tử DNA.
Hiện nay phương pháp Sanger được sử dụng phổ biến trên toàn thế giới.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Bệnh - Chứng
- Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm kiểm chuẩn, Trường Đại học Y Hà Nội.
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 09/2016 đến tháng 12/2017.
2.2.2. Kỹ thuật thu thập thông tin
Thông tin được thu thập theo bộ cấu trúc được thiết kế sẵn.
2.2.3. Nội dung các biến số nghiên cứu
- Thông tin cơ bản cá nhân: Tuổi, giới,…
- Tiền sử: Hút thuốc lá, uống rượu gồm các thông tin có/không, tần suất, mức
độ,…
- Thông tin về khác: nhiễm Helicobacter Pylori (HP), phân loại u, kích thước
u, vị trí, giai đoạn,…