Giải nghĩa một số từ Hán Việt - Pdf 56

Sắc thái tu từ từ Hán Việt
• Sắc thái trang trọng
• Sắc thái tao nhã
• Sắc thái khái quát và trừu tượng
• Sắc thái cổ
Tu từ học nghiên cứu những thuộc tính biểu cảm của các phương tiện ngôn ngữ. Sự vận dụng
các kết quả nghiên cứu đó sẽ giúp cho lời văn hay hơn, đẹp hơn. Trải qua quá trình lựa chọn, cải
biên và vận dụng kéo dài hàng ngàn năm, lớp từ Hán Việt đã trở thành một bộ phận hữu cơ trong
kho tàng di sản văn hoá của dân tộc ta và được chúng ta sử dụng để thể hiện sắc thái tu từ trong
các phong cách chức năng khác nhau. Từ Hán Việt là nguồn chất liệu đáng kể trong văn học bác
học và văn chương bình dân. Các tác phẩm văn học kinh điển của dân tộc ta, như: Chinh phụ
ngâm, Cung oán ngâm khúc, Truyện Kiều, Khóc Trương Quỳnh Như, Chiều hôm nhớ nhà... đều sử
dụng từ Hán Việt.
Ngày nay, trong kho từ ngữ tiếng Việt còn tồn tại hàng loạt cặp từ Hán Việt và thuần Việt có
nghĩa tương đương nhau về sắc thái ý nghĩa, về mặt biểu cảm và được dùng song song với nhau.
Trong đó, từ Hán Việt thường mang sắc thái cổ kính và không thông dụng còn các từ thuần Việt
mang tính hiện đại, thông dụng. Và các nhà thơ cổ điển đã dịch một khái niệm cổ điển sang hiện
đại. Ví dụ:
quyền môn →
cửa
quyền
phù vân → mây nổi
thanh sử → sử xanh

Có thể nói tới 4 sắc thái tu từ của từ Hán Việt.
1. Sắc thái trang trọng
Một số từ Hán Việt thay thế từ thuần Việt vì Hán Việt tạo cảm giác trang trọng, nghiêm trang
hơn:
phụ nữ – đàn bà
nông dân –
dân

Và ở đây, chính các từ thuần Việt đã tạo nên âm hưởng, tạo nên cảm giác thân quen ấy. Trái lại,
trong bài thơ của bà huyện Thanh Quan đó lại là hình ảnh về buổi chiều của nội tâm. Tác giả đã
đẩy lùi bức tranh vào thế giới của tâm tưởng, ý niệm. Trong Mẹo giải thích từ Hán Việt của Phan
Ngọc có viết: Các từ Hán Việt mà nữ thi sĩ dùng đẩy ta vào thế giới muôn đời. Trên đời chỉ có
những ông chài, những thôn bản, những trẻ chăn trâu, những người ở đài cao, những người
khách trọ cảnh ấm lạnh của cuộc đời. Làm gì có những ngư ông, những viễn phố, những mục tử,
những cô thôn, làm gì có trang đài, người lữ... Từ Hán Việt đều đặt vào vị trí quyết định – vần
cuối câu thơ – dễ gây tiếng vọng trong tâm hồn ta, kéo ta về cõi vĩnh viễn của ý niệm. Và nỗi u
hoài của nhà thơ là nỗi u hoài của cái kiếp trước không biết đến tháng năm, thời đại. Đây là nghệ
thuật lựa chọn từ ngữ rất công phu. Những từ đó là những tín hiệu thẩm mĩ, những mô típ nghệ
thuật gắn với phong cách Đường thi và trở thành nét đẹp truyền thống của thơ ca Việt Nam.
4. Sắc thái cổ
Một số từ Hán cổ quen dùng trong quá khứ đến bây giờ dùng lại gợi sắc thái cổ: tôn ông,
huynh ông, phụ vương, ái phi, đồng môn, đồng tuế...
Mô tả những hình ảnh cổ kính của một triều đại đã qua với một tâm trạng nuối tiếc, trong bài
thơ Thăng Long thành hoài cổ, bà huyện Thanh Quan đã sử dụng những từ Hán Việt một cách có
ý thức. Và việc xếp những từ này vào cuối dòng thơ càng in đậm những hình tượng ngưng đọng
trong kí ức. Tất cả đưa đến cho ta cảm giác về một sự đổi thay của tạo hoá:
Tạo hoá gây chi cuộc hí trường
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ hàn cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Nghìn năm gương cũ soi thành cổ
Cảnh đấy người đây chốn đoạn trường
Nhà thơ Sóng Hồng cũng dùng từ Hán Việt để gợi lại không khí cổ:
Đêm lạnh cành sương đượm
Long lanh bóng nguyệt vờn
Tố Hữu khi nói về truyền thống cổ xưa của dân tộc cũng sử dụng từ Hán Việt:

Thao là cái túi đựng tên bắn, lược là phương sách dụng binh. Thao lược còn là cách gọi ghép các chữ lục thao tam lược. Lục
thao là tên sách do Lã vọng đời Chu soạn, Trang tử hiệu đính gồm có sáu cách đánh trận là văn thao, võ thao, hổ thao, long thao, báo
thao và khuyển thao. Tam lược là sách do Hoàng Thạch Công soạn cho Trương Lương đời Hán, gồm có ba lược là ba phép dụng
binh. Về sau thao lược được dùng để chỉ người có tài dùng quân.
4. Phù phiếm:
Phù là nổi trên mặt nước và đứng tại chỗ. Phiếm là nổi trên mặt nước và trôi đi, trôi lại. Cả từ phù phiếm chỉ sự vật hay tính cách
nổi và nông cạn, không có căn nguyên gốc rễ vững vàng.
5. Hy sinh:
Tên gọi các con vật được chọn để tế thần linh thời cổ ở Trung Hoa, thường là trâu, bò, dê, lợn, gà... được dùng tế sống hay cắt lấy tiết
để tế, lúc này con vật tế được gọi là con hy và con sinh.
6. Xã đàn:
Đàn đắp cao để tế thổ thần, cầu cho dân được ở yên. Xưa lập quốc trước nhất phải lập đàn thờ thần xã (thổ thần, chữ xã gồm bộ kỳ
chỉ sự thờ cúng và chữ thổ chỉ thần đất) và đàn thờ thần tắc (tắc là Hậu Tắc, tên của thần nông) nhằm cầu cho dân được lạc nghiệp vì
thời cổ dân sống chủ yếu nhờ nông nghiệp. Từ đó người ta dùng xã tắc để chỉ quốc gia, đất nước.
7. Tơ hào:Đáng lẽ phải gọi là ti hào, vì tơ là âm cổ của ti, có nghĩa là sợi tơ, một loại sợi rất nhỏ. Còn hào là sợi lông nhỏ chạy
ngang thành hàng trong cái lông chim vào mùa thu, mùa chim mới mọc lông. Tơ hào đều chỉ những vật nhỏ bé nên có nghĩa như
chút xíu, mảy may.
8. Tổ chức:Tổ là xếp các đầu dây dọc lại với nhau. Chức là dùng các sợi dây ngang đan kết với các sợi dây dọc lại thành một
mạng lưới thống nhất. Tổ chức có nghĩa là sự kết hợp của những tế bào trong một vật thể, còn được dùng như một động từ.
9. Ảnh hưởng:Ảnh là cái bóng của một sự vật. Hưởng là tiếng vang của một vật thể khi bị gõ, bị cọ xát trong không khí, từ đó
ảnh hưởng được dùng để chỉ chung tác động của một sự vật hay một sự việc tới một sự vật hay sự việc khác.
10.Táo quân:Táo quân là gọi tắt nhóm từ đông trù tư mệnh táo chủ thần quân, tục gọi là vua bếp. Thường đặt ở phía đông
của nhà, là một trong ngữ tự gia đường tôn thần (năm vị thần được thờ trong nhà). Một là ở cổng nhà, hai là ở lối đi từ cổng vào
nhà, ba là cửa chính vào nhà, bốn là phòng chính của nhà nơi đặt bàn thờ, năm là bếp (táo). Táo quân có nhiệm vụ hàng năm vào
ngày 23 tháng chạp lên thiên đình báo cáo việc trong năm ở dưới trần.
11.Tinh vi:Tinh là gạo được giã kỹ lấy chất lõi ở trong (chữ tinh có bộ mễ chỉ gạo) xưa được quan niệm là cái quý nhất của hạt
gạo. Trong sách Luận ngữ có câu nói của Khổng tử: “Dư thực bất yếm tinh” (Ta ăn gạo giã kỹ không bao giờ chán). Còn vi là
vật hay sợi rất nhỏ nhoi. Tinh thì tốt còn vi thì quá tủn mủn và thường là xấu. Ví như văn thơ đời Tấn thường bỏ hàng mấy trang
sách để mô tả làn da má của phụ nữ (mỏng và mịn đến mức gió thổi mạnh thì rách) hay cặp lông mi của người đẹp như thể là vi.
Cũng vì thế mà ở tiếng Hán cổ vi còn có nghĩa là vô hay phi (không có gì).

23.Gia thất :Gia là nhà, thất là buồng. Kinh Lễ có câu “Nam chi hữu thất, nữ chi hữu gia” nghĩa là: đàn ông có buồng (để
vợ ở), đàn bà có nhà (nơi mình về, chỉ nhà chồng). Vì vậy vợ chồng lấy nhau gọi là yên bề gia thất. Ở nước ta, chữ gia
thất còn dịch là nhà như “nhà ơi!” để vợ chồng gọi nhau hoặc “nhà tôi” để xưng hô với người khác. Còn chữ “mình” lại
xuất phát từ thần thoại châu Âu: Xưa, một vị thần thấy các cặp vợ chồng không được “cơm lành canh ngọt” bèn chặt
mọi người ra làm đôi để các nửa người đi tìm nửa kia của mình mà lắp. Nhưng nói chung đa số đều lắp nhầm, nên cứ
đi lang thang để gọi “mình ơi! mình ơi!” và gọi người mình yêu là một nửa của tôi.
24.Giá thú:Giá là con gái về nhà chồng (gồm chữ nữ là con gái và chữ gia là nhà, chữ này có âm Việt hóa là gả); thú là
đàn ông lấy vợ (gồm chữ thủ là lấy và chữ nữ là đàn bà).
25.Hôn nhân:Hôn là nhà trai thông gia với nhà gái; nhân là nhà gái thông gia với nhà trai.
26.Nam nữ thụ thụ bất thân :Nam nữ là trai và gái; thụ
1
là trao một vật gì đó, thụ
2
là nhận một vật gì đó, bất thân là không
được gần nhau. Cả câu nghĩa là nam nữ không được đưa vật trực tiếp cho nhau. Kinh Lễ có câu “Trí chi nhi hậu thủ
chi” nghĩa là nam (hay nữ) đặt một vật xuống (rồi bỏ đi), người kia đến mà nhặt lấy.
27.Tang bồng :Tang là cây dâu. Xưa thường dùng gỗ cây dâu để làm cung bắn; Bồng là cỏ bồng, một thứ cỏ thẳng mà
cứng, thường dùng làm tên bắn. Xưa người Hán khi sinh con trai thường treo một cái cung ngoài cửa, tỏ ý muốn con
sau này tung hoành trời đất, thỏa chí tang bồng.
28.Gươm đàn :Gươm đàn là từ Việt dịch từ từ Hán Việt: Kiếm cung. Gươm là âm Việt hóa của từ kiếm (cũng như gương
là từ Việt hóa của kính, gắng và gượng là từ Việt hóa của cưỡng. Goá là từ Việt hóa của quả. Gần là từ Việt hóa của
cận. Đàn là từ Hán Việt, là một thứ cung không bắn bằng tên mà bắn bằng đá mài tròn hay đất sét viên tròn rồi nung
kỹ. Các viên đó sau này có âm là đạn. Trong truyện Kiều có câu tả về Từ Hải như sau: “Gươm đàn nửa gánh, non sông
một chèo” là mượn từ câu nói của Hoàng Sào, lãnh tụ khởi nghĩa nông dân đời Đường: “Bán kiên cung kiếm bằng
thiên túng / Nhất trạo giang sơn vãn địa duy”. Nghĩa là: nửa vai cung kiếm tung hoành trời đất, một chèo giang sơn kéo
lệch đất trời. Trong các bản dịch sang tiếng Pháp, các dịch giả dịch từ đàn thành guitare là không đúng.
29.Điếm nhục (như trong điếm nhục gia phong) :Điếm là vết bẩn, vết xước trên viên ngọc (chữ điếm có bộ ngọc), nhục là
dơ bẩn, có âm cổ là nhuốc (như vụ có âm cổ là mùa, vũ có âm cổ là múa, chủ có âm cổ là chúa, chú (chú thích) có âm
cổ là chua). Điếm nhục là làm dơ bẩn.
30.Học trò :Vốn có âm Hán Việt là học đồ (người theo thầy học chữ). Trước thế kỷ XVII có một số từ âm đầu đ trong tiếng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status