1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Bậc học Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục
Tiểu học có vai trò quan trọng, giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát
triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản, góp
phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là những con người
phát triển toàn diện, có tri thức và tay nghề, có năng lực thực hành, chủ động, sáng tạo.
Bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân cho học sinh.
Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt là nhiệm vụ quan trọng của nền giáo dục quốc
dân. Nhiệm vụ đó càng nặng nề hơn trong trường Tiểu học. Học sinh Tiểu học còn nhỏ
tuổi, sự hiểu biết về ngôn ngữ còn hạn chế. Để có một vốn ngôn ngữ trau chuốt, các em
phải được huấn luyện ngay từ lúc tập nói. Các em phải được rèn dũa, được uốn nắn ngay
từ khi viết từ, viết câu đầu tiên.
Chữa từ sai, câu sai cho học sinh là một vấn đề quan trọng trong việc bồi dưỡng kiến
thức Tiếng Việt. Để có cách nói, cách viết trong sáng, mạch lạc, các em phải nói đúng,
viết đúng các mẫu câu, phải biết ứng xử phù hợp với nhân vật giao tiếp. Các em còn hay
nói theo ngôn ngữ tự do, nghĩ sao nói vậy. Đại đa số các em chưa biết chắt lọc ngôn ngữ
trong giao tiếp. Bởi vậy, khi nói, viết câu và viết đoạn văn thường lủng củng, lộn xộn nên
bài văn thường không hay, thiếu mạch lạc.
Thấy được tầm quan trọng của việc phát hiện cách dùng từ, đặt câu sai của học sinh
và hướng dẫn học sinh cách sửa trong dạy học môn Tiếng Việt. Trong sáng kiến này, tôi
mạnh dạn đề cập “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 trường Tiểu học Nga Yên
chữa lỗi sai trong câu văn, đoạn văn” với mục đích giúp học sinh trường Tiểu học Nga
Yên nói và viết Tiếng Việt được tốt hơn.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao chất lượng nói và viết văn của học sinh
phân môn Tập làm văn lớp 4 trường TH.
Giúp học sinh làm giàu vốn từ và biết cách sử dụng, sửa lỗi câu sai trong câu văn,
đoạn văn.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
- Lý luận dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học.
các em học sinh lớp 4 viết được câu văn đúng ngữ pháp, hay là vấn đề không đơn giản.
Hơn nữa ở các lớp 1,2,3, các em mới chỉ đặt các câu đơn giản gồm hai thành phần chính
đó là chủ ngữ và vị ngữ (câu đơn). Lên lớp 4, các em phải đặt câu có các thành phần phụ
như trạng ngữ,…Đây là những kiến thức mới. Việc vận dụng ngữ pháp để đặt những câu
này là vấn đề khó, bỡ ngỡ với các em. Do đó, còn nhiều em đặt câu sai, chưa hoàn chỉnh
hoặc nội dung chưa rõ ràng, thoát ý.
Năm học 2018- 2019, tôi được phân công dạy lớp 4B. Ngay từ tháng đầu tiên nhận lớp,
với lòng yêu nghề mến trẻ, tôi bắt tay ngay vào việc tìm hiểu, khảo sát và phân loại lỗi sử
dụng từ, nói viết câu của học sinh lớp mình. Việc khảo sát phân loại lỗi được tiến hành ở
cả khâu nói và viết. Bởi vì nếu chỉ khảo sát bài viết chưa đủ để thống kê hết các loại lỗi
câu sai mà học sinh mắc phải. Chính vì vậy trong quá trình học sinh làm bài, đặt câu
trong các tiết Luyện từ và câu, các tiết Tập làm văn, khi cho học sinh trình bày trước lớp
2
tôi đã thống kê các lỗi mà học sinh mắc phải. Đồng thời tôi cũng ra đề viết khảo sát như
sau:
Đề bài: Câu 1: Đặt câu với mỗi từ sau: nhân hậu, công nhân (Tiết LTVC Tuần 2 lớp 4)
Câu 2: Viết đoạn văn ngắn kể về Quê hương em. (Tiết tập làm văn lớp 3)
Sau khi chấm bài tôi có kết quả như sau:
Bảng thống kê, phân loại lỗi
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
12
44
40
16
24
20
100
Qua kiểm tra kết quả khảo sát môn Tiếng Việt bản thân tôi nhận thấy việc viết câu
của học sinh còn quá nhiều bất cập. Số lượng học sinh viết câu sai còn nhiều. Câu sai thể
hiện cả về cấu trúc ngữ pháp và trong bài tập làm văn. Số lượng học sinh chưa có kĩ năng
dùng từ, viết câu văn còn khá cao khiến cho tôi băn khoăn trăn trở. Làm thế nào để giúp
các em nâng cao về trình độ ngữ pháp, ít phạm lỗi hơn khi viết câu và viết Tập làm văn
để nâng cao chất lượng học Tiếng Việt của học sinh. Qua tìm hiểu, tôi nhận thấy nổi bật
lên các nguyên nhân sau.
Một là: Vốn từ của học sinh còn nghèo, kĩ năng sử dụng từ ngữ còn hạn chế. Các em
chưa nắm vững được nghĩa của từ nên khi sử dụng cũng chưa chính xác.
Hai là: Việc phân tích cấu tạo câu của học sinh chưa tốt, chưa nhận diện được các lỗi sai
trong câu nên viết câu còn lộn xộn, lủng củng.
Ba là: Nhiều học sinh không đọc kĩ đề bài, cứ thấy đề văn các em đọc lướt và làm bài.
Hơn nữa, bố cục bài văn không rõ ràng, câu từ còn sai lỗi chính tả.
Bốn là: Khi trả bài kiểm tra, giáo viên chưa chưa thực hiện một cách triệt để việc chữa
lỗi cho học sinh.
Với tình hình trên, tôi luôn trăn trở, làm thế nào để học sinh nói và viết Tiếng Việt
được tốt hơn. Sau một năm nghiên cứu, tôi xin đề xuất một số giải pháp sau.
2.3. Giải pháp và tổ chức thực hiện.
3
2.3. 1. Tìm hiểu những lỗi viết câu và nguyên nhân dẫn đến viết câu sai của học sinh.
học sinh kiểm tra lại rất khó nhận biết, nó làm cho đoạn văn các em viết rất lủng củng.
Ví dụ: Nhà em có nuôi một con chó mà em rất yêu quý, đó là con con Boola rất đáng yêu.
* Nguyên nhân của loại lỗi này là do các em viết như nói nên câu văn không rành mạch,
kỹ năng viết câu vào tình trạng kể lan man.
- Lỗi câu khó xác định nội dung biểu đạt, không lôgic về ý:
4
Là những câu về cấu tạo khó xác định các bộ phận câu kết hợp với nhau theo quan hệ
ngữ pháp nào, từ đó khó xác định thành phần câu. Loại câu này có thể ngắn, có thể dài,
càng dài, càng lỗi, càng lủng củng. Về ý nghĩa mối quan hệ giữa các bộ phận câu cũng
không rõ ràng, chính xác không lôgíc. Do đó, các câu tối nghĩa hoặc vô nghĩa. Đây là loại
lỗi thường gặp ở học sinh trung bình, trong các bài tập làm văn, ít gặp trong các bài tập
đặt câu.
Ví dụ: Dưới bàn chân chú thấy một đệm thịt để khi bắt chuột không gây tiếng động.
* Nguyên nhân của loại lỗi này khá phức tạp, trước hết là học sinh không chuẩn bị cho
mình một nội dung cần nói nên không phân cách được trong tư duy ra từng ý rạch ròi.
Các em viết gần như trong tình trạng vô thức, nhớ từ nào, cụm từ nào là viết ngay trong
bài, không tìm cách tổ chức, sắp xếp các cụm từ để biểu đạt nội dung. Đây là loại lỗi rất
khó chữa, nhiều lúc phải trao đổi trực tiếp với học sinh mới biết các em muốn diễn đạt
điều gì để chữa lại cho đúng. Loại lỗi câu sai này chiếm tỷ lệ lớn trong các lỗi câu, có thể
thống kê các lỗi câu này như sau:
- Câu không xác định được thành phần.
Ví dụ: Xoài có hoa có quả khi quả chín nó lại có màu vàng nhạt và quả to hạt mỏng ăn
vào ngọt lịm.
- Các câu có một bộ phận cùng giữ hai chức năng ngữ pháp khác nhau trong câu.
VD: Em rất yêu quý những hàng xoan trước ngõ đã không còn xanh mướt như những
ngày nào.
2. Lỗi về nghĩa .
- Câu sai nghĩa là những câu chứa đựng nội dung không phù hợp với hiện thực khách
trong giao tiếp khiến người đọc không thể nhanh chóng nắm được nội dung các em cần
truyền đạt thậm chí có những trường hợp không xác định được ý muốn diễn tả.
Ví dụ: Lớp em có bạn Nam là học sinh giỏi và cũng là người bạn của em bạn còn là
người con ngoan và hiếu thảo bạn và em đã giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn bạn đã rất
quý và tôn trọng em còn em cũng đối xử với bạn ấy như vậy.
- Lỗi sử dụng dấu câu sai: Là lỗi của những câu đã sử dụng dấu câu khi không cần thiết
hoặc đáng lẽ phải dùng dấu câu này, lại dùng dấu câu khác. Biểu hiện của lỗi là học sinh
dùng dấu chấm ngắt câu khi chưa đúng ý, dùng dấu phẩy ngăn cách các thành phần chủ
ngữ và vị ngữ, ngăn cách động từ với bổ ngữ, dùng dấu phẩy ngăn cách các thành phần
chủ ngữ và vị ngữ, ngăn cách động từ với bổ ngữ, dấu hai chấm ngăn cách hai vế câu khi
vế nọ không có ý giải thích cho vế kia. Phổ biến nhất trong loại lỗi này là câu dùng dấu
chấm tuỳ tiện khi chưa hiểu ý, cắt đôi câu ra một cách vô lý.
Ví dụ: Bàn được làm từ gỗ xoan đào. Khoác bên ngoài một chiếc áo với những đường
vân gỗ nổi lên, cái bàn của em còn được đánh véc ni bóng loáng, trông rõ đẹp.
Việc học sinh không sử dụng dấu câu hoặc sử dụng sai dấu câu là do chưa biết áp dụng
dấu câu trong việc diễn đạt nội dung, chưa nắm được cách sử dụng chúng.
4. Lỗi ngoài câu
- Trong khi viết van học sinh thường mắc lỗi câu lạc chủ đề là lỗi do trong văn bản có
những câu phá vỡ tính liên kết chủ đề của đoạn văn.
Ví dụ: Sân trường được đổ bê tông sạch sẽ. Những bồn hoa của các lớp với những loại
khác nhau cùng đua nhau khoe sắc đẹp rực rỡ như những cánh bướm. Những hạt sương
6
đêm còn đọng trên cánh hoa và nhuỵ hoa. Hai bên được lắp vòi để chăm sóc công trình
măng non. Nhìn thẳng trên còn có mấy cái ghế đá cho các em ngồi chơi.
Từ ví dụ trên ta thấy lỗi do các câu trong văn bản mâu thuẫn với nhau về nghĩa, phá vỡ
tính liên kết về nghĩa của văn bản tạo ra những câu liên kết không lô gíc. Loại lỗi này học
sinh ít mắc phải.
- Lỗi lặp câu: Những câu này được xem là lặp lại vì lặp lại nhiều lần 1 từ, một ngữ, hay
7
khi hướng dẫn học sinh viết câu, viết đoạn văn giáo viên cần phải chú ý giúp học sinh
tránh các sai lầm.
Ví dụ: Khi làm văn tả con vật, có học sinh đã viết: Bingo có một thân hình đẹp cân đối,
bộ lông của chú mượt và mịn như nhung, hai cái lỗ tai của Bingo nhọn, luôn vểnh lên
nhìn rất đáng yêu như để nghe ngóng mọi động tĩnh xung quanh mình, Misa rất thông
minh và ngoan ngoãn.
- Như vậy học sinh đã diễn tả được con chó với hình dáng bên ngoài và các đặc điểm
lông, tai… vì vậy nó chứa đựng nhiều ý. Để giúp học sinh diễn đạt chính xác, rõ ràng,
mạch lạc hơn giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng dấu câu để tách những ý câu văn ra
thành nhiều câu như:
Bingo có một thân hình đẹp cân đối. Bộ lông của chú mượt và mịn như nhung. Hai cái lỗ
tai của Bingo nhọn, luôn vểnh lên nhìn rất đáng yêu như để nghe ngóng mọi động tĩnh
xung quanh mình. Bingo rất thông minh và ngoan ngoãn.
* Giúp cho học sinh phân loại câu theo mục đích nói.
Trong phân môn Luyện từ và câu nhằm trang bị cho học sinh kiến thức về từ ngữ,
ngữ pháp chuẩn mực nhằm rèn cho học sinh có kỹ năng vận dụng vào trong tư duy và
giao tiếp hằng ngày. Sản phẩm của nó là những câu văn hoàn chỉnh. Để làm được điều đó
học sinh phải vận dụng cả 4 kỹ năng nghe, đọc, nói, viết. Tùy vào mục đích nói khác
nhau người ta chia ra các loại câu khác nhau. Nhằm kể về một sự việc hay tả một cảnh
vật, sự vật cho người khác biết, người nói thường phải lựa chọn từ ngữ, hệ thống câu sao
cho phù hợp nhằm truyền tải được nội dung sâu sắc nhất, những hệ thống câu đó được
gọi là câu kể. Cuối câu kể dùng dấu chấm, dấu chấm lửng, dấu hai chấm.
Ví dụ: Dấu chấm lửng ở cuối câu:
Đi học về em thường giúp mẹ nấu cơm, quét nhà, rửa bát…
- Hay dấu hai chấm ở cuối câu:
Hôm qua lúc đi học về, bạn Hà nói:
- Nam ơi! Cậu có đi đá bóng không ?...
gì?, như thế nào?. Vị ngữ do hai hay nhiều từ bình đẳng hợp với nhau tạo thành.
Ngoài hai thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ ra. Câu còn được cấu tạo bởi các thành
phần phụ. Các thành phần phụ trong câu là những phần thêm vào để bổ sung ý nghĩa cho
câu gọi là trạng ngữ.
Ngoài ra giáo viên phải giúp học sinh biết vận dụng những kiến thức đã học vào việc đặt
câu.
* Như vậy với việc giúp học sinh nắm vững câu và thành phần cấu tạo nên câu, trong quá
trình đặt câu, viết văn học sinh ít mắc lỗi và biết cách sửa lỗi câu sai.
2.3.3. Hướng dẫn học sinh phát hiện lỗi sai và cách chữa những câu sai.
1. Các bước phát hiện, phân tích và chữa câu sai
Bước 1: Giáo viên hướng dẫn học sinh phát hiện và nhận diện lỗi:
- Trước hết giáo viên phải hướng dẫn học sinh xác định chức năng của câu trong mối
quan hệ với văn bản, ngữ cảnh và xét câu trong trạng thái độc lập.
- (Tìm câu) sơ đồ cấu trúc tương ứng để diễn đạt ý định của người viết.
- Đối chiếu câu sai để phát hiện được loại sai.
Bước 2: Phân tích nguyên nhân của câu sai
- Giáo viên giúp học sinh phân tích các biểu hiện của câu sai để từ đó phát hiện lỗi sai.
- Nêu được nguyên nhân dẫn đến trường hợp sai.
9
Bước 3: Sửa câu sai và thay câu sai bằng câu đúng
- Đối chiếu với yêu cầu đã xác định ở bước 1 để xây dựng câu đúng.
- Sửa lại câu và kiểm tra lại.
2. Cách tổ chức chữa câu sai cho học sinh theo từng dạng lỗi.
Để tăng cường tính thực hành, trong dạy học, tôi tập trung hướng dẫn học sinh
nhận diện, phát hiện lỗi, sửa lỗi và định danh lỗi bằng cách đưa ra các ví dụ để học sinh
phân tích, sau đó mới khái quát thành các dạng lỗi.
Dựa vào các dạng lỗi viết câu, tôi thống kê chúng thành 21 dạng . Trong đó có 17
dạng thuộc lỗi trong câu và 4 dạng lỗi thuộc lỗi ngoài câu. Lỗi trong câu là dựa trên quan
Phân tích:
Sau danh từ chỉ thời gian ( khi, lúc…) bao giờ cũng là từ chỉ định. Ở ví dụ này, từ
chỉ định được phát triển dài dẫn tới sự nhầm lẫn là câu. Thực chất đây mới là trạng ngữ
chỉ thời gian.
Cách sửa 1: Bỏ danh từ chỉ thời gian “ Khi”
Em nhìn lên ánh mắt yêu thương của Bác.
Cách 2: Thêm cụm chủ vị sau trạng ngữ chỉ thời gian.
Khi em nhìn lên ánh mắt yêu thương của Bác, em cảm thấy ấm lòng hơn.
Dạng lỗi 4: Câu thừa thành phần.
VD: Quyển sách tiếng việt đối với em là người bạn thân thiết của em.
Phân tích: Câu có thành phần lặp lại một cách không cần thiết Thành phần thừa ở đây là
“đối với em”.
Cách sửa 1: Bỏ thành phần thừa.
Quyển sách Tiếng Việt là người bạn thân thiết của em.
Cách sửa 2: Đảo thành phần
Đối với em, quyển sách Tiếng Việt là người bạn thân thiết.
Dạng lỗi 5: Câu không xác định được thành phần.
VD: Em lưỡng lự rất muốn đi chơi rất lâu cùng các bạn.
Phân tích: đây là câu có kết cấu rối nát, cấu tạo khó xác định. Quan hệ không rõ ràng
dẫn đến tối nghĩa. Muốn sửa lỗi câu này, giáo viên phải trao đổi với học sinh xem ý em
định diến đạt là gì, sau đó mới sửa theo ý cần nói của học sinh.
Chẳng hạn: - Học sinh muốn đi chơi lâu cùng các bạn.
Em muốn đi chơi lâu cùng các bạn.
Học sinh không muốn đi cùng các bạn
Em không muốn đi chơi cùng các bạn.
- Học sinh muốn đi nhưng còn chưa quyết định.
Em muốn đi chơi cùng các bạn nhưng vẫn còn lưỡng lự.
Dạng lỗi 6: Câu có bộ phận giữ hai chức năng ngữ pháp.
VD: Em bé có vẻ say sưa thích thú được thể hiện trên khuôn mặt.
Những em bé ngày nào nay đã trở thành sinh viên.
Dạng lỗi 10: Câu có chủ ngữ và vị ngữ không tương hợp về nghĩa.
VD: Cái bàn này đã rách nát.
Phân tích: Lỗi sai là do người viết không hiểu kiến thức thực tế dẫn tới cách dùng từ bị
lệch lạc. câu trúc câu đúng nhưng ý nghĩa giữa chủ ngữ và vị ngữ không tương đồng.
Cách sửa 1: Sửa chủ ngữ cho tương hợp nghĩa với vị ngữ
Tấm vải này đã rách nát.
Cách sửa 2: Sửa vị ngữ cho tương hợp nghĩa với chủ ngữ.
Cái bàn này đã cũ.
Dạng lỗi 11: Câu có trạng ngữ và nòng cốt câu không tương hợp về nghĩa.
VD: Sau khi dừng lời, tôi xin chúc các vị mạnh khoẻ.
Với nước da nâu sạm, mẹ luôn chăm sóc em.
Phân tích: đây cúng là câu đúng cấu tạo ngữ pháp nhưng sai về nghĩa. Trạng ngữ và nòng
cốt câu không tương hợp về nghĩa. Tuỳ theo từng câu mà ta hướng dẫn học sinh theo các
cách sau.
Cách sửa 1: Sửa trạng ngữ cho tương hợp về nghĩa.
12
Trước khi dừng lời, tôi xin chức các vị mạnh khoẻ.
Cách sửa 2: Tách trạng ngữ thành 1 câu, nòng cốt câu thành 1 câu riêng.
Mẹ có nước da nâu sạm. Mẹ rất yêu em.
Dạng lỗi 12: Câu có danh từ và từ bổ sung ý nghĩa không tương hợp về nghĩa.
VD:
Họ cứu muối với tinh thần vội vã.
Phân tích: Đây là câu có câu trúc ngữ pháp đúng nhưng danh từ “ tinh thần” và từ bổ
sung ý nghĩa “vội vã” không tương hợp về nghĩa.
Cách sửa: Chọn từ ngữ thay thế làm từ bổ sung ý nghĩa cho danh từ để câu có sự kết
hợp phù hợp về nghĩa.
Họ cứu muối với tinh thần hăng say.
yếu tố tốt hay chưa tốt mà chỉ về tính chất đối lập. Ở ví dụ 1 chỉ một viết thương ở bộ
phận cơ thể, một viết thương bị ở địa điểm chiến đấu.
Cách sửa 1: chuyển các từ đồng chức trong câu thành đồng loại.
Cô gái đó vừa xinh vừa học giỏi.
Cô gái đó vừa xấu vừa học học k ém..
Cách sửa 2: Tách thành hai câu có 2 nội dung khác biệt cùng thông báo về một đối
tượng.
Cô gái đó rất xinh. Cô gái đó học kém.
Dạng lỗi 16: Lỗi không dùng dấu câu:
VD: Chiếc bút chì của em dài bằng gang tay to như chiếc đũa.
Mẹ rất vui em cũng rất vui.
Phân tích: Lỗi viết câu này làm cho người đọc khó nắm bắt nội dung, ý nghĩa đích thực
của câu. Trong câu có nhiều nội dung thông báo nhưng không tách chúng bằng các dấu
câu.
Cách sửa: Thêm dấu câu để tách các nội dung thông báo.
Chiếc bút chì của em dài bằng gang tay, to như chiếc đũa.
Mẹ rất vui, em cũng rất vui.
Dạng lỗi 17: Lỗi sử dụng dấu câu sai.
VD: Buổi sáng, trên những cành cây ngọn cỏ. Sương long lanh như những hạt ngọc.
Phân tích: ở ví dụ này, câu thứ nhất là câu sai vì nó chưa thể hiện được nội dung thông
báo. Thực chất ý này mới là trạng ngữ ( hai trạng ngữ: một TN chỉ thời gian, 1 TN chỉ địa
điểm.)
Cách sửa: Bỏ dấu câu không cần thiết, thay váo dấu câu phù hợp.
Buổi sáng, trên những cành cây ngọn cỏ, sương long lanh như những hạt ngọc.
* Kết luận: Đối với các loại lỗi trong câu, dựa vào dấu hiệu sai và định hướng cách sửa,
ta có thể chia chúng thành 3 nhóm lỗi.
- Dạng lỗi 1 đến dạng lỗi thứ 7 thuộc nhóm lỗi về cấu tạo ngữ pháp. Đối với nhóm lỗi này
giáo viên cần hướng cho học sinh xem xét kĩ cấu trúc ngữ pháp của câu xem có chỗ chưa
phù hợp. Căn cứ vào đó ta có cách sửa cho phù hợp.
- Từ dạng lỗi 8 đến dạng lỗi 15 thuộc nhóm lỗi về nghĩa. Đây là nhóm lỗi có nội
Cách sửa: Loại bỏ những câu, những nội dung thông báo thừa.
Mẹ luôn vất vả lo lắng cho chúng em. Em rất thương mẹ.
Dạng lỗi 3. Lỗi câu không phù hợp với nhân vật giao tiếp.
VD: Em chúc cô có nhiều cố gắng để dạy học cho tốt.
Hôm nay, nhân ngày lễ, em ngoáy vội mấy dòng đến hỏi thăm cô.
Phân tích: Đây là lỗi câu thể hiện ở mặt giao tiếp. Khi sử dụng ngôn ngữ cần phải phù
hợp với đối tượng. Đối với người lớn phải giao tiếp khác với người nhỏ tuổi. Thái độ
kính trọng, khinh thường, vui , buồn cũng phải sử dụng cho đúng. Ở đây đối tượng được
nói đến là cô giáo, người viết, nói là học sinh nên khi giao tiếp phải lịch sự thể hiện thái
độ kính trọng. Ở trường hợp này, người viết không hiểu rõ vị thế của mình trong giao
tiếp, chưa vững vàng về văn hoá giao tiếphoặc không nắm chắc nghĩa của từ.
Cách sửa: Cần thay thế từ ngữ cho phù hợp.
Em kính chúc cô luôn dạy học thật tốt.
Hôm nay, nhân ngày lễ, em viết thư đến thăm cô.
Dạng lỗi 4. Lỗi câu không phù hợp phong cách.
15
VD: Cô giáo em dạy rất chi là hay.
Bạn Lan mắt phượng mày ngài.
Phân tích: Đây là lỗi câu không phù hợp với phạm vi, lĩnh vực giao tiếp. Ở câu thứ nhất “
rất chi” chỉ dùng trong phong cách sinh hoạt, không đưa vào văn viết. “ Mắt phượng mày
ngài” chỉ người con gái đẹp theo cách nói của người xưa trong văn chương cũ. Khi ta sử
dụng không đúng tạo nên sự gượng ép, bắt chước khuôn mẫu.
Cách sửa: Sửa, thay thế từ ngưc theo phong cách giao tiếp.
Cô giáo em dạy rất hay.
Bạn Lan đẹp nghiêng nước nghiêng thành.
Như vậy: Khi viết câu, cần xem xét câu trên nhiều bình diện, nhiều góc độ, chúng ta
sẽ thấy lỗi viết câu thật đa dạng và phức tạp. Với mỗi loại câu cụ thể chúng ta có thể tìm
thấy nhiều nguyên nhân mắc lỗi và có thể chữa lỗi bằng nhiều cách khác nhau. Mỗi giáo
bài hoặc không có dấu hiệu ngắt đoạn (xuống dòng). Trước tiên, giáo viên hỏi về bố cục
thông thường của một bài văn, sau đó cho học sinh đối chiếu với bài của mình xem đã đủ
về bố cục chưa? Nếu chưa đủ thì còn thiếu phần nào? Em cần sửa ra sao? Giáo viên
hướng dẫn học sinh chữa lỗi về mở bài, kết bài (theo cách đã học), về thân bài (sắp xếp ý
theo trình tự đã học một cách hợp lí). Sau đó tổ chức cho học sinh tiến hành sửa lỗi cá
nhân và trao đổi bài cho nhau để cùng kiểm tra rút kinh nghiệm.
Ngoài ra,ở phần này học sinh thường không biết tách giữa mở bài với thân bài
hoặc giữa thân bài với kết bài. Vì vậy khi sửa lỗi về bố cục, giáo viên cần gợi cho học
sinh nhớ lại dàn ý của bài. Từ đó học sinh sẽ tách được đoạn văn viết lẫn hoặc viết được
đoạn văn còn thiếu trong bài văn.
- Chữa lỗi về chính tả
Khi học sinh tìm ra lỗi chính tả mình viết sai mà cô giáo đã gạch chân trong vở,
giáo viên cần giúp các em cách phân biệt chính tả, giúp các em viết đúng.
Ví dụ: tiếng "ra" các em phải biết phân biệt d/ gi/ r.
- Ra vào, ra cửa, đi ra
- Màu da cam, cặp da...
- Gia đình, gia súc....
Khi chữa lỗi, giáo viên kẻ bảng thành hai cột để ghi một bên từ sai, một bên từ
đúng cho học sinh dễ đối chiếu.
Như vậy với việc sửa lỗi viết câu văn, đoạn văn, bài văn cho học sinh là việc làm
quan trọng của người giáo viên, việc làm này luôn giúp học sinh được rèn rũa trong từng
cách viết câu, cách dùng từ ngữ, cách viết câu, sửa lỗi sai chính tả...giúp cho học sinh
nhiều học sinh có kỹ năng khi làm văn.
3.2.5. Sửa lỗi câu sai trong các hoạt động dạy học khác:
Trong quá trình dạy học việc sửa lỗi câu sai cho học sinh không chỉ sửa trong các
giờ dạy học Luyện từ và câu hay Tập làm văn mà việc sửa lỗi câu sai phải được tiến hành
ở mọi lúc mọi nơi trong các giờ học trên lớp. Bởi học sinh không chỉ sai lỗi câu trên vở
viết mà còn trong nói, giao tiếp hằng ngày. Chính vì vậy mà bản thân tôi luôn quan tâm
chú ý sửa lỗi câu cho học sinh ở mọi thời điểm trong hoạt động học tập trên lớp. Cụ thể
chữa bài trong nhóm.
khi mắc phải lỗi dùng từ, đặt câu, viết đoạn, bài. Chính vì vậy, bài văn của các em trôi
chảy hơn, mạch lạc hơn. Do đó, kết quả học môn Tiếng Việt cũng cao hơn.
Kết quả:
18
Sĩ số
HS viết câu trong
bài văn tương đối
đúng, đạt mức 910 điểm
HS viết câu văn
còn mắc lỗi, số
lượng câu sai ít,
đạt mức 7-8 điểm
HS viết câu văn
còn mắc lỗi, số
lượng câu sai ít,
đạt mức 7-8
điểm
24
11
10
4
cách sửa để học sinh tham khảo.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Nga Sơn, ngày 15 tháng 4 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người thực hiện
Mai Thị Thủy
Nguyễn Thị Tình
19
DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NGÀNH
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ
LÊN
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Tình
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên Trường Tiểu học Nga Yên.
STT
1
2
TÊN ĐỀ TÀI SKKN
Một số biện pháp giúp đỡ học sinh
hợp tác nhóm có hiệu quả khi dạy
học lớp 4,5
20
Tài liệu tham khảo
Lý luận dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học.
Sách giáo khoa, sách Giáo viên Tiếng Việt 4
Nguồn tài liệu Internet.
21