PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN
TRƯỜNG TIỂU HỌC NGA TIẾN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG MỘT SỐ TRÒ CHƠI CÓ HIỆU QUẢ
TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 5
Người thực hiện: Hoµng ThÞ Liªn
Chức vụ:
Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Nga TiÕn
Sáng kiến kinh nghiệm thuộc lĩnh vực: Địa Lí
NGA SƠN, NĂM 2019
MỤC LỤC
1.Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
1.4: Phương pháp nghiên cứu.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.4. Hiệu quả.
3. Kết luận, kiến nghị.
1. Kết luận.
sinh tránh lối học vẹt như trước đây như: dạy học nêu vấn đề, dạy học dự án,
bàn tay nặn bột…
Cho dù sử dụng phương pháp nào thì trong mỗi tiết lên lớp vai trò của
người thầy vẫn hết sức quan trọng. Để HS hào hứng suốt 1 tiết học và hướng các
em quan tâm tới các vấn đề địa lý một cách rõ ràng không phải là chuyện đơn
giản. Chỉ có những giáo viên tự làm mới mình mới tạo được hứng thú cho
người học ở các khâu. Một trong những cách mà giáo viên dạy môn địa lý hết
sức quan tâm và chú ý áp dụng đó là sử dụng trò chơi. Các trò chơi cho dù dùng
lời nói hay có ứng dụng CNTT hoặc đơn giản hơn chỉ là biến tấu so với khâu
kiểm tra bài cũ đơn thuần luôn mang lại sự sảng khoái và hào hứng cho các em,
tăng thêm niềm yêu thích học tập bộ môn. Đó cũng là cơ sở cho việc đổi mới
phương pháp, lấy HS làm trung tâm Để thực hiện mục tiêu giáo dục của Bộ
GD&ĐT đã đặt ra: “ Giáo dục cho học sinh Tiểu học là phải giáo dục toàn diện,
không coi trọng môn chính, môn phụ” . Bởi vậy cùng với các môn học khác,
phân môn Địa Lí đã góp phần không nhỏ vào việc hình thành và phát triển toàn
diện cho học sinh .
Để dạy tốt phân môn Địa Lí, người giáo viên cần biết phối kết hợp các
phương pháp dạy học như: Phương pháp quan sát, phương pháp nhóm, phương
pháp trò chơi học tập... Trong đó phương pháp Trò chơi học tập là một trong
những phương pháp dạy học có hiệu quả, phù hợp với tâm lí lứa tuổi học sinh
tiểu học, khuyến khích được sự tò mò, thói quen đặt câu hỏi, tìm câu giải thích
khi các em được tiếp cận với thực tế, qua đó các em dễ dàng ghi nhớ nội dung
bài học.
- Qua nhiều năm giảng dạy, tôi thấy đa số học sinh rất muốn được tham gia Trò
chơi học tập nhưng vẫn còn không ít học sinh thụ động, tự ti, chưa mạnh dạn
tham gia vào các hoạt động này. Mặt khác, trong phân môn Địa Lí lớp 5 có rất
nhiều tiết học cần sử dụng đến phương pháp Trò chơi học tập để phát hiện kiến
thức mới hoặc để củng cố kiến thức đã học.
Với các lý do trên, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Sử dụng một số trò chơi có
hiệu quả trong dạy học Địa Lí lớp 5”.
Theo những quan điểm giáo dục, trò chơi vừa là phương tiện phát triển
toàn diện nhân cách vừa là hình thái tổ chức cuộc sống. Đối với trẻ em, trò chơi
là hoạt động giúp trẻ tái tạo các hành động của người lớn và các quan hệ giữa
họ, định hướng nhận thức đồ vật và nhận thức xã hội. Trong trò chơi, nhu cầu và
các phẩm chất của trẻ về thể lực, trí tuệ, đạo đức và ý chí được hình thành, thỏa
mãn, thể hiện và phát triển. Trẻ em do được chơi nên phát triển. Do vậy, chơi là
hoạt động chủ đạo trong giáo dục trẻ em.
2.2.2. Trò chơi học tập là gì? :
Trò chơi không chỉ là một “công cụ” dạy học mà nó còn là con đường
sáng tạo xuyên suốt quá trình học tập của học sinh. Phương pháp tổ chức trò
chơi không chỉ là sự đánh giá trong quá trình dạy và học của thầy và trò mà nó
còn tạo cho ta cảm giác thoải mái, tự tin, có sự sáng tạo, nhanh trí, có óc tư duy,
tưởng tượng của học sinh. Dạy kết hợp với tổ chức trò chơi chính là việc giáo
viên hướng dẫn học sinh hoàn thành tốt phẩm chất của
con người mới : Con người xã hội chủ nghĩa.
* Nhà tâm lý học Kun Kel người Anh nói: “Trò chơi học tập là một phương
pháp dạy học giúp các em vui vẻ hẳn lên, thích hoạt động hơn. Khi bị khép
vào luật chơi, các em dần có trật tự, kỷ luật hơn…”
2.1.3. Vai trò của Trò chơi học tập:
4
Có một vai trò rất lớn trong mỗi tiết học vì:
+ Nó làm thay đổi không khí lớp học, tập thể có được bầu không khí vui vẻ,
thân ái, thông cảm.
+ Quá trình học tập còn trở thành một hình thức vui chơi hấp dẫn.
+ Học sinh thấy nhanh nhẹn cởi mở hơn.
+ Học sinh tiếp thu bài tự giác, tích cực hơn.
+ Học sinh được hệ thống và củng cố kiến thức.
* Tổ chức trò chơi là một hình thức tổ chức dạy học, chơi là một biện pháp học
- Sử dụng hình thức dạy học đơn điệu chủ yếu là dạy cả lớp. Trong tiết
dạy hằng ngày giáo viên ngại tổ chức trò chơi vì như vậy phải đầu tư thời gian,
đồ dùng, thiết bị hỗ trợ.
- Một số giáo viên trong quá trình dạy học cũng đã tổ chức được các trò
chơi nhưng những trò chơi này thường không phù hợp, không hiệu quả hoặc chỉ
mang tính hình thức.
5
b. Về phía học sinh.
- Một số học sinh coi nhẹ môn học. Vì vậy mà chất lượng chưa cao.
- Học sinh có tính nhút nhát, chưa mạnh dạn trình bày trước tập thể.
- Một số bộ phận phụ huynh chưa quan tâm , động viên tham gia vào các
hoạt động học tập.
c. Đề khảo sát chất lượng đầu năm Phân môn Địa Lí:
Câu 1: Phần đất liền của Việt Nam tiếp giáp với các nước: (2điểm)
( Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng)
A. Lào, Cam-pu-chia, Thái Lan.
B. Trung Quốc, Cam-pu-chia, Thái Lan.
C. Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia.
Câu 2: Đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa ở nước ta: (2điểm)
( Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng)
A. Nhiệt độ thấp, gió và mưa thay đổi theo mùa.
B. Nhiệt độ cao, gió và mưa thay đổi theo mùa.
C. Nhiệt độ cao, mưa thay đổi theo mùa
D. Nhiệt độ thấp, gió thay đổi theo mùa.
Câu 3: Vùng biển nước ta là một bộ phận của: (2điểm)
A. Biển Đông.
B.Thái Bình Dương.
C.Ấn Độ Dương
đưa tới việc ham muốn mở rộng hiểu biết, sưu tầm và đọc thêm nhiều nguồn tài liệu
khác nhau.
Đặc biệt đối với việc giảng dạy phân môn Địa Lí trong nhà trường có đối
tượng và nội dung khá phong phú để có thể biên soạn và tổ chức trò chơi. Tuy
vậy việc sử dụng các trò chơi không đúng mục đích đôi khi còn có tác động
ngược lại gây ồn và mất thời gian của giáo viên .
6
Muốn tạo được sự chú ý và gây hứng thú học tập cho học sinh để không khí
vui tươi, nhẹ nhàng trong từng hoạt động cần sử dụng một số trò chơi có tác
dụng tích cực đến việc học tập của các em.
2.3.1. Hệ thống nội dung chương trình địa lí lớp 5.
- Chương trình Địa lí lớp 5 gồm 2 phần:
+ Địa lí Việt Nam.
+ Địa lí thế giới.
- Tất cả các bài học Địa lí Việt Nam và Địa lí thế giới chủ yếu học về: Vị trí địa
lí, địa hình, đặc điểm tự nhiên, dân cư , hoạt động kinh tế.
a. Phần địa lí Việt Nam:
- Địa lí tự nhiên Việt Nam: Vị trí địa lí, giới hạn, hình dạng, diện tích,...
- Các yếu tố tự nhiên: Địa hình, Khí hậu, Sông ngòi, Đất, Rừng,...
- Dân cư và sự phân bố dân cư.
- Hoạt động kinh tế: Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản, Công nghiệp, thương
mại, du lịch.
- Các loại hình giao thông vận tải.
b. Phần địa lí thế giới:
- Phần địa lí tự nhiên của các châu lục: Châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mĩ,
Châu Đại Dương, Châu Nam Cực.
- Các yếu tố tự nhiên nổi bật của một số châu lục: Khí hậu, địa hình,..
*Cần sự nhiệt tình sáng tạo của người thầy
Quá trình thực hiện trò chơi có hiệu quả, yêu cầu GV phải chú ý đến một
số vấn đề trong công tác chuẩn bị, khâu tổ chức và phần đánh giá. Ngoài xác
định mục tiêu của từng nội dung sử dụng trò chơi, lựa chọn trò chơi hợp lý với
nội dung kiến thức, GV phải thiết kế nội dung, luật chơi của từng trò chơi để có
một tiết học hoàn chỉnh trọn vẹn. Phần kết thúc, GV tổ chức cho các em tự rút ra
những vấn đề chính thông qua trò chơi như ý nghĩa, nội dung liên quan đến trò
chơi, cách chơi như thế nào để có hiệu quả nhất. Thông qua kết quả học tập, GV
hướng đến cải tiến phương pháp dạy học, xác định nhu cầu học tập mới, cổ vũ
động viên HS tích cực tham gia các hoạt động tiếp theo.
Áp dụng trò chơi trong dạy học là điều không mới nhưng không phải GV
nào cũng làm được. Việc thực hiện cũng có thể gặp khó khăn như HS thụ động,
thiếu thiết bị để tham gia, kết nối mạng có sự cố. Vì thế, để thực hiện hiệu quả
trò chơi rất cần sự nhiệt tình sáng tạo của người thầy. Người thầy lúc này là nhà
sản xuất, nhà biên kịch, là người dẫn chương trình, người phán xử với rất nhiều
“vai diễn” khác nhau. Chỉ có những ai đam mê, tâm huyết với nghề, có trách
nhiệm với HS thì mới đảm nhận hoàn hảo “vai diễn” của mình dù có khó khăn
đến mấy để môn học địa lý không còn tẻ nhạt và nhàm chán.
* Nhóm trò chơi có sử dụng công nghệ
Trong nhóm trò chơi này, GV và HS đều phải sử dụng máy tính, điện
thoại thông minh có kết nối mạng để phục vụ cho việc tìm kiếm và tổng hợp
kiến thức. Trò chơi lật hình, ghép hình là kết hợp giữa các hình ảnh và câu hỏi,
HS phải trả lời các câu hỏi sau khi chọn số/chọn hình ảnh. Thao tác giở ra từng
góc hình và đoán nội dung bị che giấu là điều HS rất hào hứng và còn có tác
dụng phát huy khả năng ghi nhớ rất tốt. Trò chơi ô chữ là thông qua đoán các từ
hàng ngang và lắp ghép các từ khóa để đoán được trọng tâm bài học sẽ giúp HS
hệ thống kiến thức hiệu quả cũng như giúp HS phát huy tính quyết đoán của bản
thân. Việc thiết kế trò chơi ô chữ trên phần mềm Powerpoin mất rất nhiều thời
gian bởi sự phức tạp từ các hiệu ứng. Với môn địa lý, việc sử dụng phim đối với
nhiều GV còn mang tính minh họa. Tuy nhiên HS rất quan tâm tới việc sử dụng
biên tập tốt, gồm: Chuẩn bị một số phương tiện đồ dùng cần thiết thích hợp cho
trò chơi như:
Các mảnh bản đồ cắt rời (bản đồ trống, tự nhiên kinh tế, tổng hợp hoặc
từng yếu tố) và ghi sẵn các câu hỏi nêu dưới hoặc bên trên để học sinh trả lời đã
đề ra nhằm củng cố các khái niệm địa lý.
Các phiếu có ghi sẵn các câu hỏi và hình vẽ mang nội dung kiến thức bản
đồ, biểu đồ v.v...; Các phiếu có ghi sẵn nội dung mô tả các sự vật hiện tượng địa
lý nhưng không định rõ câu trả lời về đối tượng đó (mô tả đủ điều kiện tự nhiên,
dân cư hoặc kinh tế v.v...) của một quốc gia nhưng không biết tên và địa điểm;
Các lược đồ và đồ thị vẽ sẵn; Bản đồ, lược đồ, tranh ảnh, đồ thị; Bảng phụ
Thứ hai, chuẩn bị các hình thức trò chơi: Hình thức trò chơi rất đa dạng,
phong phú. Tùy vào quy mô, đối tượng học sinh, chương trình địa lý ở các khối
lớp khác nhau, điều kiện cơ sở vật chất chúng ta có thể tổ chức được những trò
chơi phù hợp với học sinh. Các hình thức có thể là là hình thức giải đố, đặt câu
đố, bài đố, cả lớp, cá nhân.
Về phía học sinh
Thứ nhất, chuẩn bị ở nhà: Đây chính là các thành viên tham gia trực tiếp
cuộc chơi. Nếu các em chuẩn bị ở nhà chu đáo thì cuộc chơi diễn ra thuận lợi có
hiệu quả.
Một khi đã trở thành thói quen, thì việc chuẩn bị ở nhà giáo viên không
cần nhắc nhở vì bản thân các em đã ham thích, vì mình cần chiến thắng, gồm
các việc sau: Nắm bắt nội dung kiến thức một cách kỹ càng. Nắm bắt kiến thức
sắp và sẽ học đến (hoặc rộng hơn nữa). Sưu tầm sách báo, tranh ảnh, tài liệu
v.v... có liên quan đến kiến thức mình học.
Thứ hai, trong giờ học các học sinh cần: Mạnh dạn và ham thích chơi trò
chơi;Nhanh nhẹn chớp lấy cơ hội; Trả lời nhanh gọn, súc tích.
9
Dưới đây là trò chơi đuổi hình bắt chữ có thể áp dụng vào quá trình dạy học môn Địa lý:
- Giáo viên, HS đóng vai trò là trọng tài, có cho điểm đối với các sản phẩm.
e) Ví dụ: Bài 2: Địa hình và khoáng sản Việt Nam – (SGK- T68)
1/ Mục đích:
- Dùng để củng cố bài sau khi giáo viên dạy xong kiến thức mới.
2/ Thời gian chơi: 5 phút
3/ Chuẩn bị:
- Giáo viên: Chuẩn bị 2 lược đồ trống ( kích thước bằng 1/2 tờ giấy A 0 ) có sẵn
một số tỉnh thành phố quan trọng.
- Học sinh chuẩn bị kí hiệu khoáng sản.
Kí hiệu một số khoáng sản :
Mỏ than
▇
Đồng
▄
Mỏ dầu
Khí tự nhiên
10
Mỏ sắt
Thiếc
Mỏ A- pa- tít A
Mỏ bô xít
Al
Al
4/ Cách tiến hành:
- Giáo viên:
+ Chia lớp 2 tổ (mỗi tổ cử 6 học sinh)
(Mỗi học sinh chuẩn bị một đến hai loại kí hiệu khoáng sản)
+ Treo 2 lược đồ trống lên bảng
d) Tổ chức trò chơi:
- Giáo viên chia đội chơi, đạt tên đội chơi, nêu luật chơi và hướng dẫn cách
chơi, chơi thử.
- Hạn chế thời gian chơi (nếu cần)
- Giáo viên đóng vai trò là trọng tài, cho điểm sau mỗi một câu hỏi đúng.
- Cộng tổng điểm sau khi kết thúc trò chơi, khen thưởng.
e)Ví dụ: Bài 16: Ôn tập.( trang 101)
11
1- Mục đích: Củng cố kiến thức về Phần địa lí Việt Nam.
2- Thời gian chơi: 10 phút
3- Chuẩn bị: Các ô chữ, 2 quả chuông nhỏ, các câu hỏi và đáp án trên giáo án
điện tử ( màn hình)
- Nội dung ô chữ và gợi ý cho từng ô chữ:
Hàng ngang 1: (Có 9 chữ cái). Nước Việt Nam nằm trên bán đảo nào?
Hàng ngang 2: (Có 10 chữ cái). Nơi đây hai lần được UNESSCO tôn vinh là Di
sản văn hóa Thế giới.
Hàng ngang 3: (Có 5 chữ cái). Tên một loại đất chính của nước ta.
Hàng ngang 4: (Có 6 chữ cái).Tỉnh này có ngành khai thác a-pa-tít lớn nhất
nước ta.
Hàng ngang 5: (Có 9 chữ cái). Thành phố nào trở thành trung tâm công nghiệp
lớn nhất nước ta.
Hàng ngang 6: (Có 7 chữ cái). Các dân tộc ít người sống chủ yếu ở đâu?
Hàng ngang 7:(Có 8 chữ cái).Ở Nga Sơn (Thanh Hóa nổi tiếng với nghề thủ
công nào?
Hàng ngang 8: (Có 8 chữ cái). Việt Nam nằm trong đới khí hậu nào?
Hàng ngang 9: (Có 9 chữ cái). Cà phê được trồng nhiều ở đâu?
Hàng ngang 10: (Có 5 chữ cái). Đây là thành phố có sân bay quốc tế Nội Bài.
Hàng ngang 11: (Có 2 chữ cái). Đây là đường quốc lộ dài nhất nước ta.
- Trò chơi này được sử dụng nhiều trong phần: "Thiên nhiên và con người ở các
châu lục" nhằm củng cố kiến thức, luyện tập kĩ năng sau bài hình thành kiến
thức mới.Cụ thể trong các bài:
+ Bài 15: Thương mại và du lịch.
+ Bài 19: Các nước láng giềng của Việt Nam.
+ Bài 20: Châu Âu.
+ Bài 23: Châu Phi.
+ Bài 25: Châu Mĩ.
b) Ý nghĩa:
- Đây là phần có rất nhiều các địa danh không những nước Việt Nam mà các em
còn nhớ được các địa danh ở các nước trên thế giới. Giáo viên nêu một địa danh
nào đó học sinh phải xác định được vị trí của địa danh đó và nêu được một vài
chi tiết minh họa. Những minh họa càng chi tiết, chính xác câu trả lời càng được
điểm cao.
- Sử dụng trò chơi này sẽ kích thích được các em đọc nhiều và tìm hiểu kiến
thức nhiều hơn ở bên ngoài có liên quan đến nội dung bài học.
- Tạo không khí học tập sôi nổi, thoải mái.
c) Chuẩn bị:
- Giáo viên: Chuẩn bị tên các địa danh cần tìm hiểu trong bài.
- Học sinh: Chuẩn bị về kiến thức, phạm vi kiến thức giáo viên cho học sinh biết
trước.
d) Tổ chức:
- GV tổ chức thành 2 đến 3 lượt chơi, mỗi lượt khoảng 4 em.
13
- Giáo viên đưa ra luật chơi.
- Chơi thử.
-Tuyên dương, khen thưởng sau mỗi lượt chơi.
e) Ví dụ: Bài 21: Các nước láng giềng của Việt Nam.( trang 107)
+ Chuẩn bị bản đồ, tranh ảnh…
+ Đưa ra tuyến du lịch cho học sinh đi từ … đến … và đánh dấu bằng phấn trắng.
- Học sinh: Chuẩn bị về kiến thức.
d) Tổ chức:
- Giáo viên đưa ra yêu cầu cho chuyến du lịch. Chia nhóm, (hoặc cá nhân) các
nhóm dùng kiến thức đã được học để miêu tả tuyến du lịch, một bạn trong nhóm
có trách nhiệm ghi chép lại toàn bộ quá trình miêu tả của nhóm mình.
- Thời gian: Phụ thuộc vào chuyến đi và đối tượng học sinh. (Không quá 5 phút)
e) Ví dụ: Bài 27: Châu Đại Dương và châu Nam Cực. (SGK trang126)
14
1- Mục đích: Giúp học sinh nắm được vị trí địa lí, đặc điểm tự nhiên của châu
Đại Dương và châu Nam Cực.
2- Thời gian chơi: 7 phút
3- Chuẩn bị: Hình ảnh, một vài nét nổi bật về châu Đại Dương và châu Nam
Cực.
4- Cách tiến hành
Giáo viên đưa ra tuyến du lịch cho học sinh vòng quanh châu Đại Dương và
châu Nam Cực , sau đó treo bản đồ và dùng phấn đánh dấu tuyến đường cần đi.
Yêu cầu 3 học sinh khá đóng vai các nhà thám hiểm lên tham gia chuyến đi,
một học sinh ghi chép lại nhật kí chuyến đi.
Thời gian du lịch không quá 5 phút.
Ví dụ sau đây là nội dung mà một học sinh trong nhóm đã ghi lại được:
"Chúng tôi đang đi đến vùng Nam Cực - nơi được coi là cực lạnh của trái đất.
Trước mắt chúng tôi hiện ra một màu trắng mênh mông của thế giới băng tuyết.
Không có một ngọn cỏ có thể sinh sống được ở châu lục này. Nhưng động vật vẫn
tồn tại, chúng khá thú vị với lớp lông và mỡ dày, nhiều con có lông trắng, chắc là
để dễ dàng trong việc chạy trốn kẻ thù… đi mãi chúng tôi được biết ở dưới chân có
một mỏ than lớn chưa được khai thác… Sao thế nhỉ? Ở đây lại có than và chúng tôi
18
Tranh 6.
5- Kết quả: Được chơi trò chơi này học sinh rất thích thú bởi vì các em được
biết được các địa danh ở rất xa các em, khắc sâu cho các em các đặc điểm nổi
bật về các địa danh đó. Để hằng ngày qua sách báo, qua màn ảnh nhỏ, …. sẽ lưu
lại trong trí nhớ các em các địa danh nổi tiếng trên thế giới để các em có những
mơ ước trong tương lai không xa, các em sẽ là những khách du lịch hay những
hướng dẫn viên du lịch thăm quan những địa danh nổi tiếng đó.
Trò chơi 6: Đi tìm những cái "nhất":
a) Phạm vi:
- Trò chơi này sử dụng trong những bài ôn tập. Đặc biệt trong phần "Thiên nhiên
và con người ở các châu lục". Đây là một trò chơi phần kiến thức chủ yếu là
những thông tin ngoài sách nên phải có thời gian dài cho học sinh chuẩn bị.
b) Ý nghĩa:
- Tạo không khí học tập.
- Đây là một trò chơi đòi hỏi người học phải tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu,
thông tin bên ngoài để nắm kiến thức rất rộng, thúc đẩy học sinh phát huy tính
kiên trì, chịu khó.
c) Chuẩn bị:
- Giáo viên: Chủ đề
- Học sinh: Kiến thức đã chuẩn bị theo chủ đề cho trước.
d) Tổ chức:
- Giáo viên yêu cầu khoảng 4 học sinh lên bảng sau đó đưa ra chủ đề thi, 4 học
sinh sẽ thi với nhau cho đến khi chỉ còn lại một học sinh thắng cuộc.
- Thời gian chơi không hạn chế, tuỳ vào sự chuẩn bị của học sinh (nhưng nên
giới hạn không quá 5phút).
e) Ví dụ: Giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi : Bài 20: Châu Âu.
2.4. Hiệu quả cảu sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Ngay từ đầu năm học 2018-2019, tôi đã áp dụng : “Các trò chơi học tập”
nêu trên vào việc giảng dạy phân môn Địa Lí 5 kết quả là:
Giáo viên:
- Nhờ việc biết đưa các trò chời vào trong công tác giảng dạy, nên các giờ dạy
Địa Lí đã trở nên sôi nổi, tạo được hững thú cho HS, các em hăng hái xây dựng
bài, tìm tòi và phát hiện kiến thức, điều đó làm cho chất lượng giờ dạy được
nâng cao.
- Các tiết dạy Địa Lí mà tôi thao giảng, kiến tập được đồng nghiệp đánh giá
cao và học tập, nhân điển hình.
- GV và HS có sự phối hợp nhịp nhàng, giữa dạy học và học tập. Từ đó các
em hứng thú hơn và thuộc bài ngay tại lớp.
Học sinh:
So với năm trước, tôi nhận thấy các em HS có hứng thú, say mê và ham
thích học môn Địa Lí hơn. Sau mỗi bài học, học sinh có được kiến thức vững
vàng, sâu rộng hơn, chính vì vậy mà khi học môn này các em đã sưu tầm thêm
tư liệu học tập, tìm hiểu thêm rất nhiều điều xung quanh.
* Đề khảo sát tại thời điểm tháng 4- 2017:( thời gian 15 phút)
20
Câu1: Châu lục nào có số dân đông nhất thế giới? (2điểm)
( Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng)
A. Châu Âu
C. Châu Á
B. Châu Phi
A. Châu Mĩ
Câu 2: Châu lục nào có diện tích lớn nhất thế giới? (2điểm)
( Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng)
SL
0
%
0
Nhìn vào bảng số liệu trên chứng tỏ rằng, chất lượng giảng dạy phân môn
Địa Lí của lớp tôi giảng dạy đã có chuyển biển tốt so với chất lượng đầu năm
học, là do tôi đã biết vận dụng hợp lý các trò chơi học tập trong giảng dạy phân
môn Địa Lí, đồng thời tôi cũng đã biết vận dụng và phối hợp nhịp nhàng với các
phương pháp và hình thức dạy học khác.
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận:
Như vậy chỉ bằng những phương tiện rất đơn giản như lược đồ trống,
phấn
mầu… giáo viên có thể biến hoá sử dụng các trò chơi cho phù hợp với từng
kiểu bài, kích thích học sinh trong học tập và tìm tòi kiến thức, tạo không khí
học tập sôi nổi. Từ đó giúp học sinh có tình yêu với môn học, tránh cảm giác
chán hoặc sự đơn điệu trong học tập. Đồng thời đạt kết quả cao trong quá trình
dạy học.
Qua việc nghiên cứu một số biện pháp nâng cao hiệu quả của Phương
pháp trò chơi trong phân môn Địa lí lớp 5, tôi rút ra một số kinh nghiệm sau:
- Giáo viên và học sinh cần xác định rõ mục đích của mỗi trò chơi trong mỗi
tiết học, từ đó có hướng đi đúng đắn cho việc làm tiếp theo của mình.
- Giáo viên cần có sự chuẩn bị chu đáo về đồ dùng học tập để phục vụ trò chơi,
đồ dùng cần đảm bảo tính khoa học, thẩm mĩ, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý
của trẻ em, giáo viên cần có sự chuẩn bị về không gian, thời gian, thời điểm diễn
ra trò chơi, không lạm dụng trò chơi biến cả tiết học thành tiết chơi hoặc tổ chức
quá nhiều trò chơi trong tiết học tạo cho học sinh sự thái quá; giáo viên cần
21
22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình phương pháp dạy học môn Địa lí.
(Đại học Quốc gia - Trường Đại học sư phạm Hà Nội)
2. Đổi mới việc dạy môn Địa lí ở tiểu học.
3. Sách bồi dưỡng thường xuyên (Bộ giáo dục và đaò tạo)
4. Sách giáo viên - Bộ giáo dục và đào tạo.
5. Sách giáo khoa Địa lý và lịch sử - Lớp 5
6. Dạy học lấy học sinh làm trọng tâm (Giáo sư Lê Khánh Bằng).
7. Mạng Internet.
23
Mẫu 1 (2)
DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Hoàng Thị Liên
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên Trường Tiểu học Nga Tiến
TT
Tên đề tài SKKN
2012-2013
Ngành GD cấp
Huyện
B
2013-2014
Ngành GD cấp
Huyện
C
2014-2015
Ngành GD cấp
Huyện
B
2015-2016
sinh khá và giỏi lớp 4
3
Trường Tiểu học Nga Tiến
Rèn kỹ năng nói trong giờ
dạy Tiếng Việt cho học sinh