Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
LỜI CẢM ƠN
SVTH : Vũ Thị Hòa
Trang 1
Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
LỜI CAM ĐOAN
SVTH : Vũ Thị Hòa
Trang 2
Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
MỤC LỤC
SVTH : Vũ Thị Hòa
Trang 3
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Bảo Hiểm Thất Nghiệp
SVTH : Vũ Thị Hòa
Giải thích
Trang 4
Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
bảng
Trang
2.1
Bảng cơ cấu lao động theo giới tính
35
2.2
45
2.8
Tỷ lệ đóng các khoản phúc lợi bảo hiểm cho nhân viên
46
3.1
Bảng mã hóa thang đo
64
3.2
Phân tích thống kê mô tả nhân tố “Tiền lương”
66
3.3
Phân tích thống kê mô tả nhân tố “Phúc lợi”
67
3.4
Phân tích thống kê mô tả nhân tố “Môi trường”
71
3.10
3.11
Đánh giá hệ số tin cậy thang đo “Đào tạo và thăng tiến” lần
1
Đánh giá hệ số tin cậy thang đo “Đào tạo và thăng tiến” lần
2
71
72
3.12
Đánh giá hệ số tin cậy thang đo “Động lực làm việc”
73
3.13
Hệ số KMO và Bartlett's Test các biến độc lập
74
SVTH : Vũ Thị Hòa
Trang 5
Kết quả phân tích EFA các biến phụ thuộc
78
3.19
Bảng thang đo hiệu chỉnh
79
3.20
Hệ số tương quan Pearson với biến phụ thuộc
82
3.21
Bảng đánh giá độ phù hợp của mô hình
83
3.22
Kiểm tra độ phù hợp của mô hình
84
3.23
Cơ cấu nguồn nhân lực theo giới tính
37
2.3
Cơ cấu nguồn nhân lực theo trình độ chuyên môn
37
3.1
Mô hình nghiên cứu của Abby M.Brooks
51
3.2
Mô hình nghiên cứu của Tech – Hong và Waheed
52
3.3
Mô hình nghiên cứu của tác giả Boeve
53
3.4
Trang 7
Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Con người là một sinh vật đặc biệt, là sự tổng hòa của một hệ thống các cấu
tạo phức tạp về tâm, sinh lý. Cuộc sống càng phát triển, nhu cầu của con người càng
cao. Chúng ta có thể rất dễ dàng nhận ra điều này nếu đem so sánh những nhu cầu
của người lao động hiện nay so với thời kỳ trong cơ chế tập trung bao cấp.
Nhu cầu của con người rất phức tạp và nếu các nhà lãnh đạo doanh nghiệp
chỉ áp đặt ý chí chủ quan của mình trong việc đưa ra các chính sách để thỏa mãn các
nhu cầu của nhân viên, các chính sách đó sẽ không đem lại hiệu quả cao nếu không
muốn nói rằng nhiều khi phản tác dụng.
Vậy câu hỏi đặt ra ở đây là làm cách nào để lãnh đạo doanh nghiệp có thể
nhận ra được hệ thống các nhu cầu phức tạp của người lao động, đặc biệt là nhu cầu
của các “nhân tài”. Qua nghiên cứu hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam, việc
nghiên cứu và tìm hiểu về nhu cầu của người lao động chưa được thực hiện một
cách thường xuyên và phổ biến. Phần lớn các doanh nghiệp vẫn thực hiện các
nghiệp vụ này thông qua các kênh không chính thức và không được thể chế hoá vào
chính sách của doanh nghiệp. Điều này khiến các doanh nghiệp gặp khó khăn khi
muốn biết tâm tư, nguyện vọng thực sự của nhân viên. Hậu quả tất yếu là nhân viên
không cảm thấy hài lòng với tổ chức của mình và muốn tìm đến một môi trường
làm việc mới, hoặc vẫn cố duy trì nhưng làm việc cầm chừng, kém hiệu quả. Hơn
thế nữa, việc lãnh đạo doanh nghiệp không hiểu được các nhu cầu của nhân viên có
thể tạo nên sự ngăn cách, chia rẽ bè phái giữa các nhóm, các bộ phận với nhau, ảnh
Thông qua khoảng thời gian thực tập và làm việc tại công ty, tác giả đã tham
khảo ý kiến của các cán bộ và nhân viên tại công ty, tác giả nhận thấy công ty vẫn
tồn tại nhiều yếu tố gây ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên như các
chính sách của công ty, điều kiện làm việc…Qua đó, tác giả thực hiện nghiên cứu
với những mục tiêu sau:
Nêu ra các cơ sở lý thuyết tạo động lực cho người lao động
Khảo sát đánh giá các nhân tố tác động đến động lực làm việc của nhân viên
tại Công ty TNHH Công nghệ Tin học Viễn Thông Quốc Thắng. Xây dựng
thang đo lường các yếu tố được khảo sát, xây dựng mô hình nghiên cứu và từ
đó đưa ra các phương pháp để phân tích và kiểm định nghiên cứu.
Phân tích kết quả mô hình nghiên cứu và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao
động lực làm việc cho nhân viên tại công ty.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Các nhân viên của Công ty TNHH Công nghệ Tin
học Viễn Thông Quốc Thắng và các vấn đề liên quan đến động lực và tạo
động lực cho nhân viên tại Công ty TNHH Công nghệ Tin học Viễn Thông
Quốc Thắng
Không gian: Công ty TNHH Công nghệ Tin học Viễn Thông Quốc Thắng
SVTH : Vũ Thị Hòa
Trang 9
Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
Thời gian nghiên cứu: từ ngày 25/02/2019 đến ngày 04/05/2019.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Động lực có thể được tạo ra từ bên ngoài hay từ chính bên trong cá nhân. Để thúc
đẩy con người, chúng ta cần phân biệt rõ hai nguồn tạo động lực này để tác động
một cách hợp lí.
SVTH : Vũ Thị Hòa
Trang 10
Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
Phân loại:
Daniel H.Pink người ví xã hội chúng ta như một chiếc máy tính – cũng có hệ điều
hành, đó là các quy tắc, tiêu chuẩn vô hình làm chỉ dẫn đã phân chia động lực làm 3
loại, gồm:
a) Động lực 1
Với nội dung cơ bản là sự sinh tồn. Daniel viết “Con người là những động vật đấu
tranh để sinh tồn”
Để sinh tồn con người phải phát minh ra cung tên, mũi giáo dùng để đi săn. Tiến bộ
hơn, để truyền đạt thông tin và lưu trữ kinh nghiệm họ nghĩ ra cách truyền đạt thông
tin từ người này qua người khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác và chữ viết ra đời.
Ông cho rằng “hệ điều hành” này tồn tại từ thời rất xa xưa, khi mà con người đang
sống trong xã hội nguyên thủy, động lực đó dẫn hướng hầu hết các hành vi của
chúng ta. “ Nó không có gì đặc biệt tinh xảo, cũng chẳng mấy khác biệt so với đặc
tính của lũ khỉ nâu hay tinh tinh và nhiều động vật khác. Song nó vẫn đáp ứng tốt
nhu cầu của chúng ta”. Khi con người xây dựng xã hội ngày càng tiến bộ hơn thì hệ
điều hành này tỏ ra không còn thích hợp nữa. Con người dần nhận thức ra sự tôn
khuyến khích được nhiều hơn những hành vi mong muốn và loại bỏ những hành vi
ngược lại.
Nếu giao cho hai phụ nữ với hai cái chổi và bảo họ quét hai dãy phòng với diện tích
như nhau, giả sử thưởng cho người thứ nhất 50 nghìn đồng/phòng và người thứ hai
không trao tặng một đồng xu nào cả thì kết quả ai cũng biết trước, người thứ nhất sẽ
cố gắng nhanh chóng quét hết các căn phòng, còn người thứ hai thì lại viện cớ bận
việc để thoái thác công việc tự nguyện đó.
Vì lẽ đó mà xã hội chúng ta đang sống luôn động viên mọi người dựa trên nguyên lý
“ cây gậy và củ cà rốt”. Nhưng thực tế đó chưa hẳn là lý thuyết thúc đẩy đúng đắn và
điều mà các tổ chức đang làm đi ngược với những gì mà khoa học khám phá. Danniel
đã chỉ ra khá nhiều thí nghiệm và kết quả thú vị ở nội dung của động lực 3.
c) Động lực 3
Đây là loại động lực xuất phát từ bản thân con người. Động lực này đưa ra quan
niệm con người làm việc vì động cơ nội tại, bắt nguồn từ cảm giác vui thích, sự hấp
dẫn công việc làm cho một người cảm thấy vô cùng có hứng đến nỗi được làm việc
gì đó chính là niềm vui của bản thân.
Động lực xuất phát từ bên trong con người mới là động lực lâu dài và có tính thúc
đẩy cao nhất. Những tác nhân bên ngoài có thể là động lực khiến con người làm việc
này mà không làm việc khác, nhưng về lâu dài điều đó lại mang tác dụng ngược lại.
Một nhóm bốn nhà kinh tế học đã thực hiện một cuộc thí nghiệm như sau: Họ thuê
87 người tham gia trò chơi đòi hỏi các kỹ năng vận động, óc sáng tạo hoặc sự tập
trung như ném bóng vào rổ, sắp xếp lại các chữ cái bị đảo lộn, nhắc lại các dãy số.
Để kiểm tra sức mạnh của các yếu tố khuyến khích, bài thí nghiệm đặt ra ba loại
phần thưởng tương ứng với các kết quả thực hiện nhất định.
Họ chia người chơi làm ba nhóm, nhóm thứ nhất được nhận một phần thưởng nhỏ
(với số tiền tương đương với một ngày công lao động), nhóm thứ hai được nhận
một phần thưởng trung bình (bằng tiền công của hai tuần lao động), và nhóm còn lại
mình. Như vậy, công việc trở thành thú vui và ai cũng muốn “chơi” cả. Từ đó,
người ta rút ra hiệu ứng Tomsayer. Với nội dung chủ yếu là phần thưởng có thể tạo
ra một tác động dị thường, chúng có thể biến một nhiệm vụ thú vị thành một sự khổ
sai, chúng có thể biến một trò chơi thành công việc.
Đó là kết quả thí nghiệm rút ra từ những thí nghiệm ở xa lắc xa lư, và từ câu chuyện
do óc sáng tạo của một nhà văn nghĩ ra. Nhưng nếu nhìn vào những điều mà chúng ta
hằng ngày mắt thấy tai nghe thì vẫn có thể rút ra được những kết luận tương tự.
Các học sinh cấp I, cấp II ra chơi hay chơi trò nhảy dây, đó quả là một trò chơi thú
vị đến mức hầu như ai cũng đã từng thử khi còn thơ ấu, người nào oẳn tù tì thua sẽ
phải bị và giữ dây cho những đứa còn lại nhảy qua nhảy lại, nhảy lên nhảy xuống
một sợi dây, quả là một việc tốn hơi sức mà lại chẳng hề mang cho bọn nhỏ một
chiếc kẹo nào, nhưng chúng vẫn hăng say chơi và kẻ thua là người phải giữ dây cho
những người thắng nhảy. Được đứng yên một chỗ là điều chúng coi như một cực
hình và chỉ mong muốn được nhảy nhót mà thôi. Vậy mà khi về nhà, Ba Mẹ nhờ
SVTH : Vũ Thị Hòa
Trang 13
Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
chúng đi đổ rác hộ thì chúng tỏ vẻ ngán ngẩm, và người lớn lại phải đưa ra một số
sự “đổi chác” bằng cách cho chúng một ít tiền tiêu vặt, hay một món đồ chơi để
chúng làm việc vặt trong gia đình. Có điều đó bởi vì nhảy dây là một trò chơi còn
đổ rác là một công việc. “ Công việc bao gồm bất cứ thứ gì người ta phải làm còn
Trang 14
Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
hứng thú với trò chơi trong thời gian tự do hơn trong khi đó các thành viên của
nhóm còn lại tỏ ra thích thú hơn với các mảnh ghép hình.
Từ những quan sát đó, ông khám phá ra động cơ thúc đẩy con người được vận hành
bởi những quy luật ngược lại với những gì chúng ta thường tin tưởng. Ông kết luận
rằng : “khi tiền làm phần thưởng ngoại sinh cho một hoạt động nào đó chắc chắn sẽ
làm mất đi hứng khởi nội tại cho hoạt động này”. Trong khi “hứng khởi nội tại” lại là
động lực lâu bền và thôi thúc con người hành động mạnh mẽ hơn bất cứ yếu tố nào
khác.
Như vậy, Daniel H.Pink – người tổng hợp và phân tích các thí nghiệm khoa học
hành vi về động cơ thúc đẩy con người cho rằng các doanh nghiệp đang làm khác
qua nhiều so với những điều mà khoa học khám phá ra. “Chi phí tiềm ẩn của phần
thưởng” là quá lớn và phần thưởng đôi khi phản tác dụng. Ông cũng gợi ý rằng,
phần thưởng không phải khi nào cũng không tốt bởi xã hội mà chúng ta sống đã dựa
vào điều này quá nhiều và vẫn hoạt động rất tốt. Nhưng phần thưởng chỉ tỏ ra thích
hợp với công việc mang tính thuật toán, nghĩa là các công việc đã có cách làm sẵn
và người lao động chỉ cần tuân theo trình tự từ trước. Mặt khác, đối với những công
việc mang tính tự nghiệm, phần thưởng bằng tiền tỏ ra nguy hiểm, không những
không tạo được động cơ mà còn làm cho nhân viên mất hứng thú với công việc.
Trong thực tế, tại mọi nơi : gia đình, nhà trường, tổ chức đều sử dụng nguyên lý cây
gậy và củ cà rốt quá nhiều mà không hề biết những nguy hiểm ẩn chứa sau những
phần thưởng. Vì vậy, đã đến lúc chúng ta nhìn nhận lại và thay đổi cách làm phù
hợp với những khám phá của khoa học hành vi.
Tóm lại, dựa theo những phân tích đa chiều trên, chúng ta có thể thấy rằng
hăng say nhiệt tình, có hiệu quả thực hiện công việc cao nhưng bên cạnh đó cũng có
những NLĐ làm việc trong trạng thái không chuyên tâm, thờ ơ với công việc, thiếu
trách nhiệm dẫn đến hiệu quả thực hiện công việc thấp.
Tạo động lực làm việc
Khái niệm tạo động lực làm việc
1.1.1.2.
Một trong những yếu tố quan trọng nhất để một tổ chức có thể đạt năng suất
lao động cao là khi học có những nhân viên làm việc với ý thức tự giác cao, luôn
luôn tích cực và sáng tạo trong công việc. Để đạt được điều này thì phụ thuộc vào
cách thức và phương pháp mà các nhà quản lý sử dụng để tọa động lực làm việc.
Thực tế, có rất nhiều quan niệm và những cách giải thích khác nhau về động
lực thúc đẩy con người làm viêc. Do đó có rất nhiều khái niệm về động lực:
Theo lý thuyết Victor Vroom vào năm 1964: “Động lực là trạng thái hình
thành khi người lao động kỳ vọng rằng họ sẽ nhận được kết quả, phần thưởng như
mong muốn nếu họ nỗ lực thực hiện công việc”.
Lợi ích của tạo động lực làm việc:
SVTH : Vũ Thị Hòa
Trang 16
Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
Việc xác định động lực và tìm cách tác động lên đó giữ vai trò quan trọng và là bài
toán then chốt của quản trị nhân sự. Đối với một người lãnh đạo doanh nghiệp sử
SVTH : Vũ Thị Hòa
Trang 17
Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
tên cho hai thuyết này nên ngày nay người ta thường nhầm lẫn chính ông là người
phát hiện ra cả hai thuyết nhưng thực ra thì không phải như vậy.
1.2.1.1.
Thuyết X
Do Sigmund Freud đưa ra với các giả thiết có thiên hướng tiêu cực về con người:
- Lười biếng là bản tính của con người, con người chỉ muốn làm việc ít. Cái
mà con người làm không quan trọng bằng cái mà họ kiếm được.
- Con người thiếu chí tiến thủ, không dám gánh vác trách nhiệm, cam chịu để
người khác lãnh đạo.
- Từ khi sinh ra, con người đã tự coi mình là trung tâm, không quan tâm đến
nhu cầu của tổ chức.
- Bản tính con người là chống lại sự đổi mới. Rất ít người muốn làm công việc
đòi hỏi tính sáng tạo, tự quản, sáng kiến hoặc tự kiểm tra.
- Con người không lanh lợi, dễ bị kẻ khác lừa đảo.
Đây chính là cơ sở của việc áp dụng nguyên lý cây gậy và củ cà rốt trong quản
trị, theo đó Daniel H.Pink cho rằng “loài người cũng chẳng khác nhiều so với loài
ngựa, cách để chúng đi đúng hướng là nhử một củ cả rốt tươi rói ngon giòn trước
mũi chúng hoặc thủ sẵn một cây gậy”.
Từ những giả thiết về bản tính con người nói trên, Thuyết X cũng cung cấp
phương pháp lý luận truyền thống là: “Quản lý nghiêm khắc” dựa vào sự trừng
- Điều khiển và đe dọa không phải là biện pháp duy nhất thúc đẩy con người
thực hiện mục tiêu của tổ chức.
- Tài năng con người luôn tiềm ẩn, vấn đề là làm sao để khơi gợi dậy được
tiềm năng đó.
- Con người sẽ làm việc tốt hơn nếu đạt được sự thỏa mãn cá nhân.
- Con người luôn có khát vọng, tự khả năng tự khích lệ bản thân, có khả năng
nhận những bổn phận lớn hơn, có khả năng tự chủ, tự trị.
Lý thuyết Y cho rằng con người không coi trọng phần thưởng thể hiện bằng
tiền bạc mà coi trọng quyền tự do được đương đầu với khó khăn và thách thức.
Công việc của nhà quản lý là chắp cánh cho ý nguyện tự phát triển và hướng chúng
theo nhu cầu chung của tổ chức là hiệu quả và năng suất tối đa.
Nhà quản lý theo Thuyết Y cũng tin rằng việc tạo ra những điều kiện làm việc
tốt, gây cho người lao động hứng thú với công việc họ yêu thích họ sẽ có những
cống hiến tuyệt vời. Do vậy các nhà quản lý cố làm hết sức để giải phóng NLĐ khỏi
các hàng rào ngăn cản sự thể hiện khả năng bản thân họ.
Nhiều người cho rằng quản lý nhân viên theo kiểu này có phần lỏng lẻo và
chậm chạp. Tuy nhiên, điều này không đúng. Học thuyết này có ý nghĩa và được
ứng dụng trong rất nhiều công ty, đặc biệt là các công ty sử dụng người lao động có
trình độ cao và làm công việc có nhiều tính sáng tạo. Thực tiễn tại các công ty Mỹ
cùng nhiều nơi khác đã chứng minh tính đúng đắn của thuyết Y.
1.2.2. Thuyết phân cấp nhu cầu của Abraham Maslow
Được Abraham Maslow đưa ra vào năm 1943 trong bài viết “A Theory of
Human Motivation” . Maslow cho rằng con người được thúc đẩy bởi nhiều nhu cầu
khác nhau và những nhu cầu này được phân cấp theo thứ bậc. Ông chia nhu cầu
thành 5 bậc theo một thứ tự xác định.
-
Nhu cầu sinh lý: Đây là những nhu cầu cơ bản nhất của con người bao gồm
thức ăn, nước uống, không khí…
trách nhiệm, và sự thừa nhận về những đóng góp cho tổ chức.
Nhu cầu tự hoàn thiện: Những nhu cầu này là biểu hiện cho sự tự hoàn thiện
-
mình, nó là nhu cầu cao nhất cua con người. Nhu cầu này hướng vào việc phát huy
hết khả năng tiềm ẩn của một cá nhân, qua đó rèn luyện họ ngày càng hoàn thiện
hơn. Nhu cầu này có thể được biểu hiện trong các tổ chức bằng cách cung cấp cho
nhân viên nhiều cơ hội phát triển qua sự tự do sáng tạo và thử thách trong công
việc.
Theo học thuyết của Maslow thì những nhu cầu cơ bản nhất cần phải được
thõa mãn trước những nhu cầu ở bậc cao hơn và nó được thực hiện theo trật tự như
sau: nhu cầu sinh lý cần được thõa mãn trước nhu cầu an toàn, nhu cầu an toàn
trước nhu cầu quan hệ xã hội… Một người có nhu cầu an toàn về tính mạng thì sẽ
nỗ lực nhằm đảm bảo an toàn trong môi trường làm việc chứ họ không quan tâm
đến nhu cầu được tôn trọng hay nhu cầu về sự tự hoàn thiện mình. Một điều nữa là
khi một nhu cầu đã được thõa mãn thì nó sẽ trở nên ít quan trọng hơn và người ta lại
hướng đến nhu cầu ở bậc cao hơn. Tuy nhiên, thực tiễn đã cho thấy quan điểm này
không hoàn toàn đúng đắn. Cùng một lúc con người có thể có nhiều nhu cầu và
không nhất thiết nhu cầu nảy sinh theo một thứ bậc như trên.
1.2.3.
Lý thuyết thúc đẩy theo nhu cầu của David C. McClelland
David C. McClelland, nhà tâm lý học người Mỹ, đã đề xuất lý thuyết về nhu
cầu thúc đẩy làm việc vào năm 1961.
SVTH : Vũ Thị Hòa
Trang 20
muốn đạt được thành công của mình. Mẹ của Welch đã chắc rằng con mình sẽ thành
công vì vậy bà đã luôn khuyến khích và thúc đẩy con mình học tốt hơn ở trường.
Trong hơn hai mươi năm, Mc Clelland đã nghiên cứu các nhu cầu của con
người và những khả năng tiềm ẩn của họ trong quản trị. Những người có nhu cầu
đạt được thành công cao thường là những chủ buôn. Họ thích làm những điều tốt
hơn so với đối thủ đối thủ và chấp nhận mạo hiểm trong kinh doanh. Những người
có nhu cầu hội nhập cao là những nhà xã hội thành công, công việc của họ là kết
hợp công việc của nhiều phòng ban vào một tổ chức. Các nhà xã hội gồm có giám
đốc thương hiệu và giám đốc dự án, đây là những người đòi hỏi cần phải có những
kĩ năng hội nhập tuyệt vời. Những người có nhu cầu hội nhập cao sẽ tạo nên mối
quan hệ làm việc tốt đẹp với người khác.
Một nhu cầu cao hơn về quyền lực thường gắn liền với việc đạt được thành
công lớn ở các cấp bậc trong tổ chức. Chẳng hạn như Mc Clelland đã nghiên cứu về
các nhà quản trị tại công ty AT&T trong mười sáu năm và đã chỉ ra rằng những
SVTH : Vũ Thị Hòa
Trang 21
Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
người có nhu cầu cao về quyền lực thường gắn liền với con đường thăng tiến.
Ngược lại, những nhà quản trị có nhu cầu cao về thành đạt, nhưng có nhu cầu thấp
về quyền lực có xu hướng thành đạt trong sự nghiệp từ rất sớm, ngay khi còn là nhà
quản trị cấp thấp. Lý do là các nhu cầu về sự thành đạt được thể hiện thông qua các
nhiệm vụ, nhưng những nhu cầu về quyền lực chỉ thể hiện ở việc người này có ảnh
hưởng về quyền lực đối với người khác.
thúc đẩy làm cho một nhân viên tiến triển tốt nếu như người đó nhận thức được các
mối quan hệ tích cực giữa sự nổ lực và thành tích.
Hành vi được thúc đẩy tiếp tục tăng nếu có mối tương quan thuận giữa việc
thực hiện tốt công việc và kết quả hoặc giải thưởng đặc biệt nếu kết quả hoặc giải
SVTH : Vũ Thị Hòa
Trang 22
Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
thưởng đó được đánh giá cao.Vì thế, ba mối quan hệ nâng cao hành vi được thúc
đẩy là một mối quan hệ tích cực giữa sự nổ lực và thành tích, một mối quan hệ tích
cực giữa việc thực hiện tốt công việc, phần thưởng và việc đạt được kết quả hay
phần thưởng là được đánh giá cao.
1.2.5. Học thuyết tăng cường tích cực của skinner
Học thuyết này dựa vào những công trình nghiên cứu của B.F Skinner,
hướng vào việc làm thay đổi hành vi của con người thông qua các tác động tăng
cường. Học thuyết này cho rằng những hành vi được thưởng sẽ có xu hướng được
lặp lại, còn những hành vi không được thưởng (hoặc bị phạt) sẽ có xu hướng không
được lặp lại. Đồng thời, khoảng thời gian giữa thời điểm xảy ra hành vi và thời
điểm thưởng hoặc phạt càng ngắn bao nhiêu thì càng có tác dụng thay đổi hành vi
bấy nhiêu. Học thuyết này cũng quan niệm rằng phạt có tác dụng loại trừ những
hành vi ngoài ý muốn của người quản lý nhưng có thể gây ra những hậu quả tiêu
cực, do đó đem lại ít hiệu quả hơn so với thưởng.
Do đó, để tạo động lực làm việc, người quản lý cần quan tâm đến các thành
SVTH : Vũ Thị Hòa
Trang 23
Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
Các nhân tố duy trì có tác dụng duy trì trạng thái làm việc tốt, ngăn ngừa sự
không thỏa mãn trong công việc nhưng không làm cho họ thực hiện công việc tốt
hơn. Ngược lại, nếu không được giải quyết tốt sẽ tạo ra sự bất mãn và sự phản ứng,
chống đối của người lao động từ đó làm giảm hiệu suất làm việc.
Các nhân tố thúc đẩy nếu được giải quyết tốt sẽ tạo ra sự thỏa mãn và từ đó sẽ
tạo động lực cho người lao động làm việc hiệu quả hơn, tích cực hơn, chăm chỉ hơn;
nhưng ngược lại nếu không được thực hiện tốt thì sẽ tạo tình trạng không thỏa mãn,
không hài lòng của người lao động đối với công việc, người lao động làm việc như
trách nhiệm để đạt yêu cầu mà không có sự thích thú, tâm lý chán nản, không có
động lực để phấn đấu nâng cao kết quả thực hiện công việc.
Việc động viên nhân viên đòi hỏi phải giải quyết thỏa đáng, đồng thời cả hai
nhóm nhân tố duy trì và động viên, không thể chỉ chú trọng một nhóm nào cả.
Học thuyết hai nhân tố của F.Hezzberg giúp cho nhà quản trị biết được
những nhân tố của sự hài lòng về công việc là tách rời và riêng biệt với các yếu tố
gây ra sự bất mãn của người lao động, thông qua đó tìm cách loại bỏ các nhân tố
gây sự bất mãn trong công việc có thể tạo ra sự yên ổn chứ không tạo ra động lực
cho nhân viên.
Tóm lại, từ một số các học thuyết đã được trình bày ở trên, ta có:
-
nhân tố tạo động lực. Khi những yếu tố này trở nên thỏa đáng thì nhân viên sẽ
không còn cảm thấy bất mãn mà sẽ cảm thấy thỏa mãn.
Đồng thời, để tạo động lực cho nhân viên thì cần quan tâm đến bản thân công
việc hay những tác động trực tiếp từ công việc đó như cơ hội phát triển bản thân, cơ
hội thăng tiến trong sự nghiệp, sự công nhận của mọi người, … đây là những điều
mà mọi người cho rằng mới thực sự có hiệu quả.
Các yếu tố ảnh hưởng tới động lực làm việc của người lao động
1.3.
Động lực của NLĐ không tự nhiên xuất hiện mà là sự kết hợp đồng thời của
các nguồn lực thuộc về phía bản thân NLĐ, môi trường sống và làm việc của NLĐ.
1.3.1. Tiền lương
1.3.1.1.
Khái niệm tiền lương
Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập mà có thể biểu hiện bằng tiền và được
ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng
pháp luật, pháp quy Quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao
động theo hợp đồng lao động cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện,
hoặc những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm.
Trên thực tế, khái niệm và cơ cấu tiền lương rất đa dạng ở các nước trên thế
giới. Tiền lương cũng có nhiều tên gọi khác nhau như thù lao lao động, thu nhập lao
động…
- Ở Pháp: “Sự trả công được hiểu là tiền lương, hoặc lương bổng cơ bản, bình
thường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích, được trả trực tiếp hay gián tiếp bằng tiền
hay hiện vậ, mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo việc làm của
người lao động”.
- Ở Đài Loan, tiền lương chỉ mọi khoản thù lao mà người công nhân nhận
được do làm việc, bất luận là lương bổng, phụ cấp, tiền thưởng hoặc dùng mọi danh