1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn lipid máu (RLLPM) là một trong những tình trạng thường
gặp ở các nước phát triển và có xu hướng tăng ngày càng nhanh ở các nước
đang phát triển. Đây là một trong những yếu tố quan trọng nhất cho sư
hình thành và phát triển bệnh vữa xơ động mạch (VXĐM) với các biến chứng
tim mạch liên quan có tỷ lệ tử vong cao như tăng huyết áp, suy động mạch
vành, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não... Vì vậy, rối loạn lipid máu đã và đang
là vấn đề sức khỏe được quan tâm hàng đầu trên thế giới. Theo ước tính của
Tổ chức Y tế thế giới, ở các nước phát triển, tử vong nhiều nhất là do bệnh
tim (32%), mà chủ yếu là bệnh vữa xơ động mạch, rồi đến tai biến mạch não
(13%), nhiều hơn hẳn các loại bệnh khác. Ở nước ta, bệnh VXĐM với các
biểu hiện lâm sàng như suy vành, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não... đang có xu
hướng tăng nhanh theo nhịp độ phát triển của xã hội [13].
Điều trị có hiệu qua hội chứng RLLPM sẽ làm hạn chế sư phát triển
của bệnh vữa xơ động mạch và ngăn ngừa được các biến chứng về tim
mạch. Hiện nay, điều trị RLLPM, ngoài phương pháp điều chỉnh lối sống và
các yếu tố nguy cơ thì sử dụng các thuốc có tác dụng điều chỉnh rối loạn lipid
máu theo y học hiện đại (YHHĐ) vẫn là chủ yếu. Có nhiều loại thuốc điều
chỉnh RLLPM như các dẫn xuất statin, nhóm fibrat, acid nicotinic, các chất
gắn acid mật... Bên cạnh hiệu qua điều trị thì các thuốc YHHĐ còn có nhiều
tác dụng không mong muốn như gây rối loạn tiêu hóa, đau đầu, chóng mặt,
r ố i l o ạ n g i ấ c ngủ, suy giam nhận thức, phan ứng ngoài da…, đặc biệt là
gây tăng enzym gan; viêm cơ, tiêu cơ vân; rối loạn về máu như mất bạch cầu
hạt, thiếu máu... [6].
Do vậy, việc tìm hiểu và khai thác các bài thuốc y học cổ truyền (YHCT)
trong điều trị RLLPM đang là xu hướng mới trong sử dụng thuốc có nguồn
2
1.1.1.1. Lipid máu
Các lipid chính có mặt trong máu gôm các acid béo tư do, triglycerid
(TG), cholesterol toàn phần (TC) gồm cholesterol tư do (FC) và cholesterol
este (CE), phospholipids (PL).
Trên lâm sàng, Cholesterol và Triglycerid là 2 loại lipid được quan tâm:
- Cholesterol (CT): là một steroid chính của cơ thể người, có mặt ở
trong tất ca các tế bào và hầu hết dịch trong cơ thể. Trong cơ thể, cholesterol
chủ yếu ở dạng tư do (chưa este hóa), chính dạng này là thành phần cấu trúc
của các màng tế bào. Trong tế bào thần kinh, cholessterol có vai trò thiết yếu
cho sư hình thành lớp vỏ myelin giúp dẫn truyền các xung thần kinh hiệu qua
hơn. Cholesterol đóng vai trò là tiền chất để tổng hợp các hormon steroid
(hormon sinh dục, tuyến thượng thận), vitamin D và các acid mật, muối mật.
- Triglycerid (TG): là dạng phổ biến nhất của chất béo trong cơ thể, chủ
yếu được cung cấp từ thức ăn (dầu thưc vật và mỡ động vật), sau đó được tiêu
hóa để cung cấp năng lượng cho các quá trình chuyển hóa tại nhiều cơ quan
trong cơ thể. Các vị trí sinh tổng hợp TG nội sinh là gan và mô mỡ. TG trong
mô mỡ là nguồn dư trữ năng lương chủ yếu của cơ thể [17].
1.1.1.2. Lipoprotein (LP):
Do đặc tính của lipid là không tan trong nước nên để tuần hoàn được
trong huyết tương chúng phai gắn với các protein dưới dạng phức hợp phân tử
lớn gọi là Lipoprotein.
Có 5 loại Lipoprotein khác nhau về tỷ trọng: Chylomicron (CM),
Lipoprotein tỷ trọng rất thấp (VLDL), Lipoprotein tỷ trọng trung bình (IDL),
Lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) và Lipoprotein tỷ trọng cao (HDL) với vai
trò, chức năng khác nhau trong con đường chuyển hóa lipoprotein [17].
4
Bảng 1.1. Đặc điểm của các lipoprotein chính trong huyết tương
Ruột
Gan
TG ngoại sinh
Vận chuyển
TG nội sinh
San phẩm chuyển hóa Tiền chất của
của VLDL- C
35- 25 San phẩm chuyển hóa
của VLDL qua IDL
1,063 -1,210
Vận chuyển
Gan, ruột, san phẩm
12- 5
* HDL-C
chuyển hóa của CM
và VLDL- C
LDL- C
Vận chuyển
CT đến mô
một triglyceride của LDL, VLDL hoặc chylomicron để trao đổi một cholesterol
este với HDL. Cuối cùng, enzym hepatic lipase tạo ra IDL từ LDL và biến đổi
tiền HDL thành HDL mới trở về gan. Vì vậy cholesterol của HDL-C được coi
là cơ chế chống vữa xơ động mạch quan trọng nhất [10], [17].
Ở người bình thường, quá trình tổng hợp và hóa giáng lipid diễn ra cân
bằng và theo nhu cầu của cơ thể. Do vậy, hàm lượng và tỉ lệ thành phần các
loại lipoprotein, lipid trong máu được ổn định. Khi mất cân bằng giữa hai quá
trình này, rối loạn chuyển hóa lipid sẽ xay ra.
1.2. RỐI LOẠN LIPID MÁU
1.2.1. Khái niệm
Rối loạn lipid máu là tình trạng tăng cholesterol (CT), triglycerid (TG)
huyết tương hoặc ca hai, hoặc giam nồng độ lipoprotein phân tử lượng cao
(HDL-C), tăng nồng độ lipoprotein phân tử lượng thấp (LDL-C) làm gia tăng
quá trình vữa xơ động mạch. Nguyên nhân có thể tiên phát (do di truyền)
6
hoặc thứ phát. Chẩn đoán bằng xét nghiệm cholesterol, triglycerid và các
thành phần lipoprotein máu. Điều trị bằng thay đổi chế độ ăn uống, hoạt động
thể lưc và dùng thuốc hạ lipid máu và lưu ý điều trị căn nguyên [5], [26].
1.2.2. Nguyên nhân
* Nguyên nhân nguyên phát:
Gây ra do một hoặc nhiều gen đột biến làm tổng hợp quá mức hoặc thanh
thai ít TG hay cholesterol, hoặc tổng hợp không đủ hay đào thai quá mức HDL
như rối loạn gen chuyển hóa HDL, thiếu hụt receptor LDL, thiếu hụt lipase tiêu
hủy LP hoặc apolipoprotein C-II...[39].
* Nguyên nhân thứ phát:
Bảng 1.2. Nguyên nhân thứ phát RLLM
Tắc mật, hội chứngHội chứng thận hư, suy thận mãn, loạn
thận hư
dưỡng mỡ
Rối loạn hay
Nhược giáp, béo phì,ĐTĐ (kiểm soát kém), nhược giáp, béo
thay đổi
thai kỳ*
phì, thai kỳ*
chuyển hóa
* Cholesterol và triglyceride tăng dần trong suốt thai kỳ
7
1.2.3. Phân loại rối loạn lipid máu
Có nhiều cách phân loại RLLPM, trong thưc hành lâm sàng thường
chú ý tới 4 cách phân loại sau:
* Phân loại theo nguyên nhân:
- Hội chứng tăng lipid máu nguyên phát.
- Hội chứng tăng lipid máu thứ phát.
* Phân loại của Fredrickson:
Năm 1965, Fredrickson dưa vào kỹ thuật điện ly và siêu ly tâm, phân
loại rối loạn lipid máu thành 5 tuýp, năm 1970, một số tác gia tách tuýp II
thành IIa và IIb, từ đó nó trở thành bang phân loại quốc tế.
Bảng 1.3. Phân loại RLLPM theo Fredrickson/WHO [13],[43]
Tuyp
Thành phần
Chylomicron
VLDL
TG
TG
CT
* Phân loại của De Gennes và Hội Xơ Vữa Động Mạch Châu Âu
(European Atherosclerosis Society - EAS)
Bảng 1.4. Phân loại RLLPM theo De Gennes [13]
Loại
Tăng CT Tăng TG
Thành phần Lipoprotein tăng
Thành phần Lipid tăng
Tăng hỗn hợp
LDL
VLDL
LDL+ VLDL
CT
TG
* Phân loại theo National Cholesterol Education Program-NCEP-ATP III
Bang 1.6. Chẩn đoán RLLPM theo NCEP- ATP III năm 2002 [46].
Chỉ số
CT
TG
LDL-C
HDL-C
Nồng độ
mg/dL
mmol/L
< 200
VXĐM và có tác dụng bao vệ chống VXĐM, đồng thời cho biết mức độ rối
loạn của các thành phần trên.
1.2.4. Rối loạn lipid máu và các bệnh vữa xơ động mạch
Nghiên cứu Framingham (Kanel,1971), nghiên cứu PROCAM điều tra
dịch tễ về cholesterol máu trong bệnh VXĐM và nhồi máu cơ tim cho thấy có
mối tương quan thuận giữa nồng độ cholesterol máu và tỷ lệ tử vong do
VXĐM và bệnh lý mạch vành. Nghiên cứu của Hacel năm1994; Davignon và
cộng sư năm 1996 cho thấy các lipoprotein chứa nhiều TG trừ chylomicron đều
9
gây VXĐM. VXĐM là sư phối hợp những biến đổi của lớp nội mạc động mạch
bao gồm sư tích tụ tại chỗ các lipid phức hợp, các glucid, máu và các san phẩm
của máu, tổ chức xơ và canxi kèm theo những biến đổi ở lớp trung mạc.
VXĐM là bệnh của động mạch lớn và vừa thể hiện bằng 2 loại tổn thương cơ
ban, đặc trưng là mang vữa giàu cholesterol và tổ chức xơ. Nó làm hẹp dần
lòng động mạch và can trở dòng máu đến nuôi dưỡng các tổ chức [13], [22].
Khi có tăng LDL và Cholesterol, LDL dễ bị oxy hóa do không được
chuyển hóa hết theo con đường các Receptor, LDL nhỏ và đặc dễ được hình
thành và chui vào lớp dưới nội mạc, tại đó gây hóa hướng monocyt - đại thưc
bào; các tế bào này cùng tế bào nội mạc, tế bào cơ trơn, tiểu cầu và ca
lymphocyt đều tham gia oxy hóa LDL; sau đó đại thưc bào thu nhận LDL oxy
hóa để trở thành tế bào bọt, khi quá tai thì tế bào bọt bị vỡ, đổ cholesterol ra
ngoài tạo thành các vạch lipid, tổn thương đầu tiên của VXĐM [13],[22].
Bệnh VXĐM hay gặp do tăng LDL- C, cholesterol và triglycerid, nhất là
khi giam đồng thời HDL- C. Rối loạn lipid có mối tương quan với bệnh mạch
vành, mạch não, huyết áp... Theo nghiên cứu của Kannel, khi cholesterol tăng
> 2,5 g/l thì nguy cơ BMV tăng 2,25- 3,25 lần. Khi cholesterol từ 5,2- 6,5
mmol/l thì tử vong do BMV tăng gấp đôi. Khi cholesterol từ 5,2- 7,8 mmol/l,
< 0,9
LDL - c (mmol/l)
≤ 3,4
> 3,4
1.2.6. Điều trị rối loạn lipid máu
1.2.6.1. Nguyên tắc điều trị
- Điều trị rối loạn lipid máu là để giam các biến cố tim mạch do VXĐM
- Với RLLPM thứ phát cần tìm nguyên nhân để điều trị.
- Vấn đề cốt lõi là thay đổi lối sống (chế độ ăn uống, sinh hoạt, tập luyện).
- Dùng thuốc khi thay đổi lối sống 2-3 tháng không có hiệu qua.
- Đích điều trị dưa trên xét nghiệm và lượng giá nguy cơ tim mạch của
bệnh nhân như tiền sử suy mạch vành, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu
não, tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng fibrinogen máu,tình trạng béo phì
(BMI ≥ 25), tuổi > 50... [39].
1.2.6.2. Phương pháp điều trị không dùng thuốc
Các biện pháp điều trị không dùng thuốc gồm thay đổi lối sống (chế độ
ăn, thói quen sinh hoạt) và tập luyện; là bắt buộc cho mọi bệnh nhân.
- Khuyến khích sử dụng nhiều trái cây, rau, củ rau, hạt, đồ ăn tinh bột
dạng thô, cá (đặc biệt là dầu cá); hạn chế đồ ăn thức uống có thêm đường, mỡ
động vật, rượu, đặc biệt ở bệnh nhân có tăng TG.
- Giam cân nặng cho những bệnh nhân béo phì. Nên bắt đầu giam dần
dần lượng calo hàng ngày, thường hạn chế ở mức 500 calo/ngày.
- Tập thể lưc là rất quan trọng, nó có thể làm giam được LDL-C và tăng
HDL; Cần tập thể lưc ít nhất 30 phút/ ngày và đều hàng ngày.
- Bỏ thuốc lá; điều trị các yếu tố nguy cơ khác đi kèm (nếu có) [39].
- Acid béo không no đa trị họ omega-3 (dầu cá): Omega-3- acid
ethylester (Omacor), Omega-3-marin triglyceride (Maxepa).
Acid béo không no họ omega-3 có mặt nhiều trong dầu cá. Tác dụng
không mong muốn hay gặp là rối loạn tiêu hóa (đau bụng, buồn nôn, tiêu chay)
và vị tanh trong miệng sau khi uống thuốc [6].
12
* Nhóm thuốc làm giảm hấp thu và tăng thải trừ lipid máu
- Thuốc gắn kết với acid mật (cholestyramin, colestipol, colesevelam)...
+ Là loại nhưa trao đổi ion, khi kết hợp với acid mật tạo thành phức hợp
resin/acid mật. Phức hợp này không được hấp thu và bị đào thai qua phân vì vậy
làm giam nồng độ acid mật. Khi nồng độ acid mật giam sẽ kích thích tế bào gan
tăng cường chuyển hóa CT thành acid mật do đó làm cho nồng độ CT trong tế
bào gan giam đồng thời kích thích tăng sinh các LDL receptor do đó làm tăng
thanh thai LDL trong huyết tương.
+ Tác dụng không mong muốn: thường gây ra tình trạng táo bón, giam
sư hấp thu của 1 số vitamin (A, D, E, K) và một số thuốc khác như digoxin,
warfarin và các hormon tuyến giáp [6].
- Thuốc ức chế hấp thu cholesterol (Ezetimibe)
+ Thuốc ức chế quá trình hấp thu cholesterol tại ruột non, làm giam
lượng cholesterol dư trữ trong gan và làm tăng thanh thai cholesterol trong
máu thông qua làm tăng số lượng các LDL receptor.
+ Tác dụng không mong muốn: Tiêu chay, đau cơ, ho và mệt mỏi [6], [13].
1.3. HỘI CHỨNG RLLPM THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN
Y học cổ truyền không có bệnh danh RLLPM, nhưng căn cứ vào các
biểu hiện lâm sàng của bệnh thì RLLPM thuộc phạm vi các chứng “đàm ẩm”,
“hung thống, “huyễn vưng”, “đầu thống”... trong đó “đàm ẩm” là chứng
nhục”. Thương khí dẫn đến khí hư, thương nhục dẫn đến tỳ hư, tỳ khí hư
sinh đàm trệ [23].
- Thất tình nội thương (yếu tố tinh thần): ưu tư, vui mừng, uất giận
quá độ làm khí cơ nghịch loạn gây trở trệ kinh lạc làm thủy thấp đình tụ
mà thành đàm trọc; trưc tiếp tổn thương tạng phủ như lo nghĩ nhiều hại tỳ,
giận dữ hại can, bi ai thương phế...; tình chí uất ức, can khí thừa tỳ làm tổn
thương tỳ vị, tỳ thổ hư yếu sẽ giam hoặc mất kha năng vận hoá thuỷ cốc,
14
tân dịch tụ lại thành đàm thấp, đàm thấp ứ trệ kinh mạch mà gây bệnh.
- Do tiên thiên bất túc, ngũ tạng hao hư (yếu tố thể chất): Tiên thiên bất
túc làm cho thận khí bất túc, thận dương hư không ôn ấm được tỳ dương, tỳ
không vận hóa được thủy thấp, sinh đàm. Hoặc tuổi cao, tạp bệnh lâu ngày làm
suy giam chức năng tạng phủ, khí hóa bất lợi, rối loạn vận hành và phân bố thủy
dịch lâu ngày mà sinh đàm [1], [19].
Tưu trung lại, nguyên nhân sinh ra đàm không nằm ngoài nội thương và
ngoại cam; đàm sinh ra từ ngoại cam phần nhiều là đàm hữu hình; đàm sinh ra
từ nội thương phần nhiều là đàm vô hình [23], [38].
* Các tạng phủ liên quan đến sự hình thành của đàm:
Liên quan mật thiết đến sư hình thành của đàm là phế, tỳ, thận, can và
tam tiêu; trong đó quan trọng hơn ca là vai trò của tỳ, thận.
- Tỳ có vai trò thăng thanh tinh vi thủy cốc trong đó có tân dịch lên phế,
thông qua phế mà phân bố khắp cơ thể; đồng thời cũng giúp tân dịch trưc tiếp
phân bố đến ngoại vi và tạng phủ. Khi tỳ mất kiện vận, rối loạn phân bố tân
dịch, thủy thấp nội sinh, ngưng tụ thành đàm.
- Phế thông qua chức năng tuyên phát túc giáng làm cho tân dịch phân
bố lên trên, ra ngoài, vào trong tạng phủ và phần dưới cơ thể; đồng thời làm
cho các san phẩm chuyển hóa của tạng phủ vận chuyển đến thận và bàng
Rối loạn chuyển hóa
lipid
Yếu tố gen
Chứng đàm ẩm
Tiên thiên bất túc
Ăn nhiều đồ béo ngọt làm Ẩm thưc không điều độ
tăng cân, béo phì, rối loạn khiến tỳ hư, thấp trệ hóa
lipid máu.
đàm.
Nguyên nhân
Lối sống tĩnh tại làm tăng Cửu ngọa thương khí, cửu
cân, kháng insulin.
tọa thương nhục.
Tuổi cao làm suy giam Thiên quý suy, chức năng
chức năng chuyển hóa.
tạng phủ suy giam.
Tinh thần căng thẳng
Thất tình nội thương
Biểu hiện
Tăng lipid máu, thừa cân, Thể trạng đàm trệ, nặng
tăng huyết áp, bệnh lý tim nề, huyễn vưng, tâm quý…
mạch…
* Đàm ứ giao trở.
- Pháp điều trị: hành khí thông lạc, hoạt huyết hóa ứ.
- Bài thuốc: Qua lâu giới bạch bán hạ thang kết hợp với bài Tứ vật thang.
1.4. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VÀ LÂM SÀNG VỀ THUỐC
YHCT ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN LIPID MÁU
1.4.1. Nghiên cứu ở nước ngoài
1.4.1.1. Nghiên cứu vị thuốc
Trên thế giới, đặc biệt là YHCT Trung Quốc (Trung y) đã có nhiều
nghiên cứu về các vị thuốc có tác dụng điều trị RLLPM. Thông qua nghiên cứu
thưc nghiệm và lâm sàng, nhiều vị thuốc có tác dụng hạ lipid máu đã được phát
hiện như: Sơn tra, Trạch ta, Quyết minh tử, Hà thủ ô, Đại hoàng, Hổ trượng, Hồng
hoa, Đan sâm, Nữ trinh tử, Kỷ tử, Dâm dương hoắc, Ngọc trúc, Hoàng tinh, Xích
thược, nhân trần, Đương qui, Bồ hoàng, Linh chi...[21].
- Hà diệp (Folium nelumbinis): hoạt chất chính là flavonoid alkaloid.
Nghiên cứu trên chuột cho uống dịch chiết nước, liều 400mg/kg/ngày x 6
tuần; thấy làm giam nồng độ TC, LDL-C và giam TG [41].
- Quyết minh tử (Semen Cassia): hoạt chất chính là anthraquinone
protein. Nghiên cứu trên chuột chủng Sprague Dawley: uống 25mg/kg/ngày,
thấy giam nồng độ TG, TC và LDL-C [45].
19
- Hoàng liên (Coptis chinensis): hoạt chất chính là alkaloid berberin.
Nghiên cứu trên người: uống 500mg/ngày x 12 tuần; trên chuột chủng
Sprague Dawley: tiêm màng bụng 200mg/kg/ngày x16 tuần thấy có tác dụng
giam TC, giam LDL-C, giam TG, tăng HDL-C [44], [50].
1.4.1.2. Nghiên cứu bài thuốc:
- Năm 2007, Trương Kiến Quốc nghiên cứu hiệu qua điều trị rối loạn
trên chuột thấy bột chiết lá dâu có tác dụng làm giam nồng độ TG, TC, LDLC huyết tương sau 60 ngày điều trị lần lượt là 64%, 64%, 57% [31].
1.4.2.2. Nghiên cứu bài thuốc
Các tác gia Việt Nam cũng đã nghiên cứu trên thực nghiệm cũng như
nghiên cứu nhiều bài thuốc điều trị RLLPM trên lâm sàng như:
- Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thêm (2012) cho thấy bài thuốc CT11
gồm 11 vị thuốc: Trạch ta, Đan sâm, Bạch truật, Hoàng kỳ, Sơn tra, Quyết
minh tử, Xích thược, Bán hạ, Cam thao, Trần bì, Bạch linh; nghiên cứu trên
54 bệnh nhân cho hiệu qua giam CT là 26,6%; TG 28,9%; LDL-C 57,1%;
Tăng HDL-C 35,7% [33].
- Bài thuốc BBT gồm Bán hạ, Cam thao, Phục linh, Trần bì, Bạch truật,
Thiên ma, Sinh khương và Đại táo. Nghiên cứu của Vũ Thị Thuận (2012) cho
thấy BBT liều 3 g/kg/ngày và 6 g/kg/ngày sau 8 tuần trên thỏ, có tác dụng điều
chỉnh RLLPM. Với liều 50g/kg uống 5 ngày trên chuột nhắt trắng có tác dụng
làm giam nồng độ TC rõ rệt. Với liều 6g/kg/ngày có tác dụng làm giam sư
hình thành mang XVĐM trên động mạch chủ của thỏ [32].
- Nghiên cứu của Vũ Việt Hằng (2013) cũng cho thấy bài thuốc "Giáng
chỉ tiêu khát linh" có tác dụng điều trị RLLPM rõ rệt ở ngày thứ 60 trên chuột
cống trắng gây RLLPM: nồng độ TG, TC, LDL-C huyết tương giam lần lượt là
40,1%, 50,1%, 16,3%. Nồng độ HDL-C tăng thêm 82,9% [16].
- Nghiên cứu của Đỗ Quốc Hương (2015) dùng viên Lipidan (gồm Sơn tra,
Trần bì, Bán hạ chế, Bạch linh, Ngũ gia bì, Hậu phác nam, Mộc hương nam, Xa
tiền tử, Sinh khương) cho thấy giam rõ rệt các chỉ số lipid máu: cholesterol giam
22,1%, triglycerid giam 25,7%, LDL- C giam 24,0%, tăng HDL- C 17,3% [15].
21
1.5. TỔNG QUAN BÀI THUỐC TIÊU ĐÀM - 03
1.5.1. Thành phần, tác dụng và nguồn gốc, xuất xứ bài thuốc Tiêu đàm - 03
dụng an thần. Sơn tra còn có tác dụng ức chế các trưc khuẩn như thương hàn,
lỵ, bạch hầu, mủ xanh, tụ cầu vàng [2], [24], [35].
* Bạch truật (Rhizoma Atraclylodis macro-cephalae)
Bạch truật là thân rễ phơi hay sấy khô của cây Bạch truật thuộc họ cúc
Asteraceae.
- Tác dụng: kiện vị, hòa trung, táo thấp, hóa đờm, lợi tiểu, cầm mồ hôi
và an thai.
- Tác dụng dược lý: Bạch truật có tác dụng làm tăng kha năng miễn dịch,
làm tăng IgG, tăng bạch cầu; tăng sư tổng hợp protein ở ruột non; điều hòa nhu
động ruột; bao vệ tế bào gan; chống đông máu, giãn mạch, lợi niệu; hạ đường
huyết, an thần. Bạch truật có tác dụng chống loét; nước sắc Bạch truật trên thưc
nghiệm chứng minh có tác dụng bao vệ gan, phòng ngừa sư giam sút glycogen
ở gan [2], [20], [53].
* Bán hạ (Rhizoma Pinelliae Tenatae)
Bán hạ là thân rễ phơi hay sấy khô và chế biến của nhiều cây khác nhau
thuộc họ ráy (Araceae).
- Tác dụng táo thấp, hóa đàm, hòa vị, tiêu viêm, tán kết.
- Tác dụng dược lý: Bán hạ có tác dụng giam ho long đàm, hạ lipid
máu, giam co thắt cơ trơn, chống nôn, chống loạn nhịp tim, giam tiết acid
dịch vị trên động vật thưc nghiệm [2], [20], [35].
* Trạch tả (Rhizoma Alismatis)
23
Là thân rễ phơi hay sấy khô của cây Trạch ta (Alisma orientalis Sam
juzep) thuộc họ Trạch ta (Alismataceae).
- Tác dụng: lợi thủy thẩm thấp, tiết nhiệt.
- Tác dụng dược lý: nước sắc Trạch ta với liều 25 g/kg cho thẳng vào dạ
dày chuột cống trắng làm tăng bài xuất nước tiểu của chuột. Cồn Trạch ta có
mạch vành của chó được gây mê; thuốc có tác dụng ức chế sư ngưng tập của tiểu
cầu. Thuốc còn có tác dụng chống nhồi máu cơ tim trên mô hình thắt động mạch
vành của chó hoặc gây thiếu máu cơ tim trên chuột bạch lớn. Hồng hoa có tác
dụng tăng co bóp tử cung rõ rệt, liều lượng nhỏ làm cho tử cung co bóp đều,
lượng lớn làm cho tử cung co bóp tăng nhịp; đối với cơ trơn của ruột, thuốc cũng
có tác dụng hưng phấn thời gian ngắn [2], [20], [35].
* Ngưu tất (Radix Achyranthis bidentatae)
Là rễ phơi khô của cây ngưu tất (Achyranthes bidentata BL), thuộc họ
Dền (Amaranthaceae).
- Tác dụng: phá huyết, hành ứ, bổ can thận, mạnh gân cốt.
- Tác dụng dược lý: thuốc có tác dụng thúc đẩy quá trình tổng hợp protein.
Dịch chiết cồn Ngưu tất có tác dụng ức chế tim ếch cô lập, làm giãn mạch hạ áp.
Thuốc còn có tác dụng lợi tiểu, hạ cholessterol máu, hạ dường huyết, cai thiện
chức năng ga [2], [20], [24].
* Bạch thược (Radix Panconiae alba)
Là thân rễ phơi khô của cây Bạch thược (Palonia lactiflora.Pall) thuộc
họ Mao lương (Ranunculaceae).
- Tác dụng dưỡng huyết điều kinh, bình can, chỉ thống, liễm âm, chỉ hàn.
- Tác dụng dược lý: Bạch thược có tác dụng: giãn mạch ngoại vi, hạ
huyết áp, chống hình thành huyết khối do tăng tiểu cầu, giam co thắt cơ trơn,
tăng lưu lượng máu nuôi dưỡng cơ tim. Thuốc còn có tác dụng bao vệ gan,
làm hạ men gan, cầm mồ hôi và lợi tiểu [2], [20], [35].
25
* Mộc hương (Radix Aucklandiae):
Là rễ phơi hay sấy khô của cây Vân mộc hương (Saussurea lappa
Clarke) thuộc họ Cúc (Arteraceae).
- Tác dụng : kiện tỳ, hòa vị, điều khí chỉ thống.