1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng thắt lưng hông (HCTLH) là một bệnh cảnh lâm sàng gồm có
các triệu chứng bệnh lý của cột sống thắt lưng và bệnh lý của dây thần kinh
hông to. Theo thống kê, thoát vị đĩa đệm chiếm tỷ lệ khoảng 63-73% tổng số
đau cột sống thắt lưng hông (CSTL) [1],[2].
Y học hiện đại (YHHĐ) có nhiều phương pháp điều trị HCTLH do TVĐĐ
như điều trị bảo tồn, can thiệp tối thiểu và phẫu thuật điều trị. Điều trị nội khoa
bảo tồn đã được đề cập đến từ lâu và đã mang lại hiệu quả nhất định, nhưng
phương pháp này cũng có nhược điểm là các thuốc giảm đau chống viêm có
khá nhiều tác dụng phụ, ảnh hưởng đến người bệnh, đặc biệt khi phải sử dụng
dài ngày. Phương pháp phẫu thuật có thể có những biến chứng không mong
muốn hậu phẫu cho người bệnh.
Theo Y học cổ truyền (YHCT), HCTLH do TVĐĐ thuộc phạm vi chứng
tý, chứng huyết ứ, khí trệ huyết ứ với các bệnh danh cụ thể: yêu thống, yêu
cước thống. YHCT có rất nhiều phương pháp để điều trị như châm, cứu, xoa
bóp, bấm huyệt, thuốc thang sắc uống, thuốc đắp, thuốc bôi…
Trường châm là phương pháp dùng kim dài, loại kim số 8 trong 9 loại kim
châm của YHCT để châm xuyên huyệt, dựa trên cơ sở học thuyết kinh lạc, có
hiệu quả điều trị cao về tác dụng giảm đau và cải thiện tầm vận động trong các
bệnh cơ xương khớp trong đó có HCTLH do TVĐĐ.
Đã có rất nhiều đề tài sử dụng phương pháp châm cứu để điều trị HCTLH
do TVĐĐ nhưng chủ yếu là nghiên cứu tác dụng của hào châm mà chưa có
nhiều đề tài nghiên cứu tác dụng của điện trường châm trong điều trị bệnh về
TVĐĐCSTL mang tính hệ thống. Vì vậy tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá tác
dụng của điện trường châm trong điều trị hội chứng thắt lưng hông do
thoát vị đĩa đệm”, nhằm hai mục tiêu:
1.
Đánh giá tác dụng của điện trường châm trong điều trị hội chứng
thắt lưng hông do thoát vị đĩa đệm.
phân bố của rễ thần kinh bị tổn thương, có đặc điểm:
Đau lan theo dọc đường đi của rễ thần kinh chi phối.
Rối loạn cảm giác lan theo dọc các dải cảm giác
Teo cơ do rễ thần kinh chi phối bị chèn ép.
Giảm hoặc mất phản xạ gân xương.
3
- Đặc điểm đau của rễ: Đau dọc theo vị trí tương ứng rễ thần kinh bị chèn
ép chi phối, đau có tính chất cơ học và xuất hiện sau đau thắt lưng cục bộ,
cường độ đau ở thắt lưng và ở chân (đùi, cẳng chân) thường không đều nhau.
[7],[8].
- Các dấu hiệu kích thích rễ: Có giá trị chẩn đoán cao.
- Dấu hiệu Lasègue: Khi nâng từng chân lên cao dần, gối để duỗi thẳng,
bệnh nhân sẽ thấy đau và không thể nâng cao tiếp. Mức độ dương tính được
đánh giá bằng góc tạo giữa trục chi và mặt giường khi xuất hiện đau
- Dấu hiệu “bấm chuông”: Khi ấn điểm đau cạnh cột sống thắt lưng (cách
cột sống khoảng 2 cm) xuất hiện đau lan dọc chân theo khu vực phân bố của rể
thần kinh tương ứng.
- Điểm đau Valleix: Dùng ngón tay cái ấn sâu vào các điểm trên đường đi
của dây thần kinh hông to, bệnh nhân thấy đau nhói tại chỗ ấn. Gồm các điểm:
giữa ụ ngồi- mấu chuyển lớn, giữa nếp lằn mông, giữa mặt sau đùi, giữa nếp
lằn khoeo, giữa cung cơ dép ở cẳng chân.
- Có thể gặp các dấu hiệu tổn thương rễ:
+ Rối loạn cảm giác: Giảm hoặc mất cảm giác kiểu rễ hoặc dị cảm (kiến
bò,tê bì, nóng rát….) ở da theo khu vực rễ thần kinh chi phối.
+ Rối loạn vận động: Khi chèn ép rễ L5 lâu ngày các cơ khu trước ngoài
cẳng chân sẽ bị liệt làm cho bệnh nhân không thể đi lại bằng gót chân được
(gấp mu bàn chân), còn với rễ S1 thì các cơ khu sau cẳng chân sẽ bị liệt làm
bệnh nhân không thể kiễng chân được (gấp gan bàn chân).
Hình 1.1. Hình ảnh TVĐĐ trên phim MRI.
(Nguồn: hinhanhhoc.com)
Theo Wood thoát vị đĩa đệm trên phim MRI được chia thành:
+ Phồng đĩa đệm: vòng sợi chưa bị rách, nhân nhầy vẫn còn nằm trong
vòng sợi nhưng lệch vị trí.
+ Lồi đĩa đệm: khối thoát vị chưa xé rách vòng sợi nhưng đã đẩy lồi vòng
sợi chèn ép vào dây chằng dọc sau.
5
+ Thoát vị đĩa đệm thực sự: khối thoát vị đã xé rách vòng sợi và chui qua
dây chằng dọc sau, nhưng còn dính liền với phần nhân nhầy nằm phía trước.
+ Thoát vị đĩa đệm di trú: mảnh rời thoát ra và không liên tục với khoang
đĩa đệm, có khả năng di chuyển lên xuống, tổn thương dây chằng dọc sau
thường ở vị trí sau bên [13].
e. Siêu âm
- Là một phương pháp khảo sát hình ảnh học bằng cách cho một phần
của cơ thể tiếp xúc với sóng âm có tần số cao (siêu âm) để tạo ra hình ảnh bên
trong cơ thể.
1.1.2.2. Các xét nghiệm khác:điện cơ, huyết học, sinh hóa…
1.1.3. Chẩn đoán xác định hội chứng thắt lưng hông do thoát vị đĩa đệm:
* Lâm sàng: Có chấn thương cột sống thắt lưng, đau thắt lưng lan theo
đường đi của rễ thần kinh hông to, có hội chứng cột sống thắt lưng và hội
chứng rễ thần kinh thắt lưng cùng.
* Cận lâm sàng: Thường chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ có hình
ảnhTVĐĐCSTL.
* Dựa vào 6 tiêu chuẩn của Saporta (1980) :
- Có yếu tố chấn thương cột sống thắt lưng.
- Đau thắt lưng lan theo đường đi của rễ dây thần kinh hông to, đau có
tính chất cơ học.
hệ kinh lạc bị ứ trệ.
1.2.2.2. Do ngoại nhân:
Tà khí từ bên ngoài xâm nhập vào kinh lạc gây bệnh.
1.2.2.3. Do bất nội ngoại nhân:
Do chấn thương làm khí trệ huyết ứ, dẫn tới bế tắc kinh khí của các kinh
bàng quang, kinh đởm gây đau, hạn chế vận động.
1.2.3. Các thể bệnh lâm sàng theo YHCT
1.2.3.1. Thể huyết ứ
- Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh:
Do lao động quá sức hoặc vận động sai tư thế, hoặc do bị ngã, va đập, bị
đánh…gây huyết ứ làm bế tắc kinh lạc. Sự lưu thông kinh khí trong mạch lạc bị
nghẽn trở, khí huyết không điều hòa gây đau và hạn chế vận động.
- Triệu chứng lâm sàng: Đau dữ dội ở vùng thắt lưng, có thể lan xuống
mông và chân, không đi lại được hoặc đi lại khó khăn. Nằm trên giường cứng,
co chân dễ chịu hơn. Đau tăng khi ho, hắt hơi, đại tiện hoặc đi lại vận động. Ăn
ngủ kém, mạch nhu sáp.
7
- Chẩn đoán bát cương: biểu thực
- Phép điều trị: Hoạt huyết hóa ứ, thông kinh lạc.
- Điều trị cụ thể:
+ Phương dược:
Dùng bài cổ phương Tứ vật đào hồng (Y tông kim giám)
Làm thang sắc uống, ngày 1 thang chia 2 lần
Hoặc bài cổ phương Thân thống trục ứ thang (Y lâm cải thác)
Làm thang sắc uống, ngày 1 thang chia 2 lần.
+ Phương pháp không dùng thuốc:
Châm cứu: Châm các huyệt Thận du, Đại trường du, A thị, Giáp tích L1S1, Ủy trung, Dương lăng tuyền.
Xoa bóp, bấm huyệt: Dùng các thủ thuật lăn, day, vờn, bóp, bấm huyệt,
Mỗi đốt sống gồm 3 phần chính là thân đốt sống, cung đốt sống, mỏm đốt
sống và một lỗ:
1.3.1.1. Thân đốt sống:
- Hình trụ, dẹt, có hai mặt gian đốt sống và một vành chung quanh.
- Thân đốt sống có kích thước tăng dần từ đốt trên đến đốt dưới, phù hợp
với sự tăng dần của trọng lượng từng phần cơ thể và lực tác dụng lên các đốt
phía dưới.
1.3.1.2. Cung đốt sống:
Cung đốt sống gồm hai phần: phần trước dính với thân đốt sống gọi là
cuống, phần sau gọi là mảnh.
- Cuống cung đốt sống là hai cột xương, ở bên phải và bên trái. Bờ trên và
bờ dưới của cuống lõm vào gọi là khuyết đốt sống. Khuyết dưới của một đốt
sống hợp với khuyết trên của đốt sống ngay dưới thành một lỗ gọi là lỗ gian
đốt, nơi đi qua của các dây thần kinh sống và các mạch máu.
- Mảnh cung đốt sống là hai mảnh xương nối từ hai cuống đến mỏm gai
tạo nên thành sau của lỗ đốt sống. Mảnh hình dẹt bốn cạnh, có hai mặt trước và
sau, hai bờ trên và dưới. Ở mặt trước mảnh có một chỗ gồ ghề là nơi bám của
dây chằng vàng. Mặt sau liên quan với khối cơ chung.
1.3.1.3. Các mỏm đốt sống:
Đi từ cung đốt sống ra, mỗi cung đốt sống có:
- Hai mỏm ngang chạy sang hai bên.
- Bốn mỏm có diện khớp gọi là mỏm khớp: hai mỏm khớp trên mang các
mặt khớp trên và hai mỏm khớp dưới mang các mặt khớp dưới.
- Một mỏm ở phía sau gọi là mỏm gai.
9
1.3.1.4. Lỗ đốt sống:
Lỗ đốt sống là nơi để các dây thần kinh tủy sống đi qua, được tạo bởi phía
trước là thân đốt sống và đĩa đệm, trên và dưới là cuống đốt sống, phía sau bên
Diện khớp
Gai sau
ngangnga
Hình
ng 1.2. Các thành phần của đốt sống và đĩa đệm
(Nguồn: vatlytrilieu.wordpress.com)
- Mâm sụn: Là cấu trúc thuộc về thân đốt sống, nhưng nó có liên quan
chức năng dinh dưỡng trực tiếp với đĩa đệm. Nó đảm bảo dinh dưỡng cho
khoang gian đốt sống.
- Vòng sợi: Gồm nhiều vòng xơ sụn đồng tâm, được cấu tạo bằng những
sợi sụn rất chắc và đàn hồi, đan ngoặc với nhau kiểu xoắn ốc. Các bó của vòng
sợi tạo thành nhiều lớp, giữa các lớp có những vách ngăn được gọi là yếu tố
đàn hồi [19]. Tuy vòng sợi có cấu trúc bền chắc, nhưng phía sau và sau bên,
vòng sợi mỏng và chỉ gồm một số ít những bó sợi tương đối mảnh, nên đấy là
điểm yếu nhất của vòng sợi. Đó là yếu tố làm cho nhân nhầy lồi về phía sau
nhiều hơn.
- Nhân nhầy: Có hình cầu hoặc bầu dục, nằm ở khoảng nối 1/3 giữa với
1/3 sau của đĩa đệm, cách mép ngoài của vòng sợi 3-4 mm, chiếm khoảng 40%
bề mặt của đĩa đệm cắt ngang. Nhân nhầy bằng chất gelatin có tác dụng chống
đỡ có hiệu quả các stress cơ giới. Khi vận động (nghiêng, cúi, duỗi CSTL) thì
nhân nhầy sẽ di chuyển dồn lệch về phía đối diện và đồng thời vòng sụn cũng
chun giãn. Đây cũng là một trong các nguyên nhân làm cho nhân nhầy ở đoạn
cột sống dễ lồi ra sau.
11
1.3.3. Sinh bệnh học thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng
- Chức năng của đĩa đệm CSTL là phải thích nghi với hoạt động cơ học
lớn, chịu áp lực cao thường xuyên, trong khi đĩa đệm lại là mô được nuôi
- Phản xạ gót giảm rõ rệt so với bên chân không đau
- Teo cơ chi dưới: trên 1 -2cm
- Đi bộ trên 200 - 500m đã xuất hiện đau.
c. Mức độ nặng:
- Đau thắt lưng lan theo rễ thần kinh hông thường xuyên.
- Co cứng khối cơ chung cả hai bên, vẹo cột sống nhiều khi đứng.
- Khoảng cách ngón tay – mặt đất trên 30cm, Schober dưới 13/10cm,
Lasègue dưới 550, Valleix (+) ở mông đùi - cẳng chân - gót chân.
- Phản xạ của gân gót giảm nặng hoặc mất.
- Teo cơ chi dưới trên 2cm.
- Đi bộ dưới 200m đã xuất hiện đau.
1.4. Điện trường châm:
1.4.1. Đại cương về châm
1.4.1.1. Định nghĩa về châm:
Châm là sử dụng kim châm vào huyệt tạo ra một kích thích cơ giới tại da
và cơ nơi được châm.
1.4.1.2. Giả thuyết về cơ chế tác dụng của châm
Châm là một kích thích gây ra một cung phản xạ mới có tác dụng ức
13
chế và phá vỡ cung phản xạ bệnh lý. Vogralic và Kassin (Liên Xô cũ)
căn cứ vào vị trí và tác dụng của nơi châm đề ra 3 loại phản ứng của
cơ thể đó là: phản ứng tại chỗ, phản ứng tiết đoạn và phản ứng toàn
thân.
a. Phản ứng tại chỗ:
+ Châm cứu vào huyệt là một kích thích gây một cung phản xạ mới có
tác dụng ức chế cung phản xạ bệnh lý: như làm giảm cơn đau, giải phóng sự
co cơ…
học phương Đông. Trường châm phát triển từ cơ sở lý luận của Cửu châm mà
người xưa đã ghi trong sách Linh khu (770 - 221 trước Công nguyên) [22].
- Châm là để điều khí và hòa huyết. Khi châm kim qua các huyệt vị sẽ
khai thông sự tuần hành của khí huyết vì “Thông tắc bất thống, thống tắc bất
15
thông”, có nghĩa là: khi khí huyết lưu thông thì không đau, khi đau tức là khí
huyết không lưu thông.
- Trường châm: loại kim số 8, ứng với Bát phong. Phong trong thiên nhiên
từ 8 phương tới tác động lên 8 khớp lớn trong cơ thể gây chứng tý(đau) trên cột
sống, khớp háng, khớp gối vv... Muốn chữa phải châm sâu, châm xuyên kinh
xuyên huyệt. Dùng trường châm dài 10-30 cm, đường kính 0,3- 0,5 mm, có tác
dụng điều khí nhanh và mạnh hơn.
- Kích thích xung điện là kĩ thuật sau khi châm kim lên huyệt vị, thay kích
thích vê tay bằng kích thích xung điện.
Các nghiên cứu về các dòng điện trên cơ thể đã đưa ra kết luận là:
Khi dòng xung điện có tần số thích hợp, cường độ, điện thế thấp thì tác
dụng tốt để kích thích hoặc ức chế hệ thần kinh, gây co cơ hoặc giảm co thắt
cơ, tăng cường điều chỉnh tuần hoàn đặc biệt có tác dụng giảm đau.
- Điện trường châm là một phát triển mới của nghành châm cứu, kết hợp
YHCT và YHHĐ, phát huy được cả tác dụng của kích thích lên huyệt vị, huyệt
đạo và tác dụng của xung điện trên cơ thể [23].
1.5. Một số nghiên cứu về điều trị hội chứng thắt lưng hông hiện nay
- “Đánh giá tác dụng điều trị đau thần kinh tọa thể phong hàn bằng điện
mãng châm” của Đỗ Hoàng Dũng năm 2001. Kết quả: loại tốt chiếm 63,6%,
loại khá chiếm 36,4% [25].
- Năm 2003, Tarasenko Lidiya nghiên cứu điều trị hội chứng đau thắt lưng
hông do thoái hóa cột sống L1 – S1 bằng điện mãng châm trên 40 bệnh nhân
đạt kết quả tốt là 60% và khá là 40% [27].
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Tiêu chuẩn nhận bệnh nhân
a. Theo YHHĐ:
- Bao gồm 60 bệnh nhân được chẩn đoán xác định là Hội chứng thắt lưng
hông do TVĐĐ thể ra sau điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Châm cứu TW. Thời
gian từ tháng 2/2016 đến tháng 6/2016.
- Tuổi từ 18 đến 80.
- Không phân biệt giới tính, nghề nghiệp, mức độ bệnh.
- Nghiên cứu trên bệnh nhân HCTLH do TVĐĐ thể ra sau.
- Bệnh nhân bị bệnh trên 7 ngày.
17
- Tự nguyện tham gia nghiên cứu và tuân thủ nguyên tắc điều trị.
- Không sử dụng thuốc giảm đau chống viêm hoặc đã dừng thuốc giảm
đau chống viêm 12 ngày trước nghiên cứu.
b. Theo YHCT:
Bệnh nhân được chẩn đoán là yêu cước thống thể huyết ứ (Huyết ứ đơn
thuần và Huyết ứ trên bệnh nhân Can thận âm hư):
- Vọng chẩn: Cột sống thắt lưng mất đường cong sinh lý, chất lưỡi hơi
tím, rêu lưỡi mỏng.
- Văn chẩn: Tiếng nói to, rõ, hơi thở bình thường.
- Vấn chẩn: Đau nhói như kim châm ở vùng thắt lưng, có thể lan xuống
mông và chân, không đi lại được được hoặc khó khăn. Đau tăng khi ho, hắt
hơi, đại tiện hoặc đi lại vận động. Nằm trên giường cứng, co chân thì đỡ đau.
Ăn ngủ kém, đại tiểu tiện bình thường.
- Thiết chẩn:
Xúc chẩn: Khối cơ cạnh cột sống thắt lưng co cứng, ấn đau.
Biên độ xung lớn Udamax 200 V Biên độ xung nhỏ Udamax 80V
Cường độ: 0-15 µA
Cường độ: 0-15 µA
- Thuốc thủy châm Methycobal 500µg dạng ống tiêm 1ml, dung dịch màu
đỏ trong suốt, sản xuất bởi hãng dược Eisaid Co.,Ltd, Nhật Bản.
19
Hình 2.3.Thuốc Methycobal
- Thước đo tầm vận động cột sống thắt lưng của Hồ Hữu Lương
- Thước đo thang điểm VAS
- Bông cồn vô trùng, kẹp không mấu, khay quả đậu, bơm tiêm nhựa 5ml.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu tiến cứu, thử nghiệm lâm sàng mở, có đối
chứng, so sánh trước và sau điều trị.
2.3.2. Cỡ mẫu nghiên cứu
- Chọn cỡ mẫu thuận tiện tối thiểu trong nghiên cứu gồm 60 bệnh nhân
chia thành hai nhóm theo phương pháp ghép cặp đảm bảo tương đồng về mức
độ bệnh (mức độ TVĐĐ).
- Nhóm nghiên cứu: 30 bệnh nhân
20
Dùng phương pháp điện trường châm kết hợp với phác đồ nền là xoa bóp
bấm huyệt cột sống thắt lưng và thủy châm thuốc Methycobal vào huyệt.
- Nhóm Chứng: 30 bệnh nhân
Dùng phương pháp điện hào châm kết hợp với phác đồ nền là xoa bóp
bấm huyệt cột sống thắt lưng và thủy châm thuốc Methycobal vào huyệt.
So sánh
Hình 2.4. Sơ đồ quy trình thiết kế nghiên cứu
a. Công thức huyệt sử dụng [41][42]:
Kết Luận
- Giáp tích L1-S1
- Thận du
- Đại trường du
- Trật biên
- Hoàn khiêu
b. Quy trình xoa bóp bấm huyệt vùng thắt lưng [41]:
Tư thế người bệnh nằm sấp, hai tay để ở tư thế như nhau hoặc xuôi theo
thân hoặc để lên đầu, đầu để trên gối. Thao tác:
22
23
- Xát dọc hai bên thắt lưng.
- Day dọc hai bên thắt lưng.
- Lăn hai bên thắt lưng và cột sống.
- Bóp cơ dọc 2 bên cột sống.
- Tìm điểm ấn đau ở lưng, day ấn huyệt từ nhẹ đến mạnh.
- Vận động cột sống thắt lưng theo tư thế sinh lý (không làm động tác vặn
cột sống).
c. Quy trình thủy châm (Châm cứu và các phương pháp chữa bệnh không
dùng thuốc):
- Hỏi bệnh nhân tiền sử dùng thuốc có bị phản ứng không, nếu nghi ngờ
làm “test bì” kiểm tra.
- Sau khi châm đắc khí rồi kích thích xung điện. Tần số và cường độ tùy
thuộc vào tình trạng bệnh và ngưỡng chịu đựng của từng bệnh nhân, thường sử
dụng tần số tả > 4 Hz.
- Thời gian kích thích điện: 30 phút
- Liệu trình điều trị: 30 phút/lần x 1 lần/ ngày x 15 ngày trong đợt nghiên
cứu điều trị.
* Sau khi châm cứu xong sẽ lần lượt thực hiện quy trình xoa bóp bấm
huyệt và quy trình thủy châm thuốc Methycobal như trên.
e. Đối với nhóm chứng:
+ Sử dụng công thức huyệt như nhóm nghiên cứu với kim châm cứu 5
cm.
+ Châm các huyệt: Thận du, Đại trường du, Giáp tích (L1 – L2, L2 – L3,
L3 – L4, L4 – L5, L5 – S1), Trật biên, Hoàn khiêu.
+ Thủ pháp châm : bước chuẩn bị cũng giống nhóm nghiên cứu, chỉ khác
là châm từng huyệt, hướng kim vuông góc với mặt da.
+ Kỹ thuật kích thích xung điện giống nhóm nghiên cứu.
+ Sau châm cứu cũng sẽ tiến hành quy trình xoa bóp bấm huyệt và thủy
châm điều trị giống như nhóm nghiên cứu.
2.3.4. Các chỉ số nghiên cứu
2.3.4.1. Các chỉ số trước điều trị (N0):
- Tuổi, giới, nghề nghiệp, thời gian mắc bệnh của bệnh nhân.
- Kiểu thoát vị (đơn tầng, đa tầng).
- Các chỉ số đau (Vas), nghiệm pháp tay đất, Schober, Lasègue, tầm vận
động cột sống thắt lưng (gấp, duỗi), các hoạt động chức năng hàng ngày.
25
- Các chỉ số mạch, huyết áp.
- Chỉ số huyết học : hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu.
- Chỉ số sinh hóa : ure, creatinin, GOT, GPT.