NGHIÊN cứu tác DỤNG cải THIỆN TRÍ NHỚ của LH08 TRÊN mô HÌNH THỰC NGHIỆM CHUỘT NHẮT TRẮNG SA sút TRÍ TUỆ - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BỘ Y TẾ

PHAN THU HẰNG

NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CẢI THIỆN TRÍ NHỚ
CỦA LH08 TRÊN MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM CHUỘT
NHẮT TRẮNG SA SÚT TRÍ TUỆ

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

HÀ NỘI – 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BỘ Y TẾ

PHAN THU HẰNG

NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CẢI THIỆN TRÍ NHỚ
CỦA LH08 TRÊN MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM
CHUỘT NHẮT TRẮNG SA SÚT TRÍ TUỆ
Chuyên ngành : Sinh lý học
Mã số
: 60720106
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:

Phan Thu Hằng


LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Phan Thu Hằng, học viên Cao học khóa 25, chuyên ngành Sinh lý
học, xin cam đoan:
1. Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn
của TS. Nguyễn Thị Thanh Hương, PGS. TS. Đào Thị Vui.
2. Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã
được công bố tại Việt Nam.
3. Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung
thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp nhận của cơ sở nơi
nghiên cứu.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này.
Hà Nội, ngày 20 tháng 8 năm 2018
Học viên

Phan Thu Hằng


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
ĐẶT VẤN ĐỀ...................................................................................................1
Chương 1 - TỔNG QUAN................................................................................3
1.1. Tổng quan về sa sút trí tuệ......................................................................3
1.1.1. Khái niệm sa sút trí tuệ....................................................................3
1.1.2. Dịch tễ học sa sút trí tuệ..................................................................3

3.2.1. Tác dụng của chế phẩm LH08 trên mô hình gây sa sút trí
tuệ bằng kẹp động mạch cảnh hai bên..........................................60
3.2.2. Tác dụng của chế phẩm LH08 trên mô hình gây sa sút trí
tuệ bằng scopolamin.....................................................................61
Chương 4 - BÀN LUẬN.................................................................................67
4.1. Xây dựng mô hình gây sa sút trí tuệ trên chuột nhắt trắng...................67
4.1.1. Xây dựng mô hình gây sa sút trí tuệ bằng kẹp động
mạch cảnh hai bên........................................................................68
4.1.2. Xây dựng mô hình gây sa sút trí tuệ bằng scopolamin.................70
4.2. Tác dụng của chế phẩm LH08 trên mô hình gây sa sút trí tuệ
............................................................................................................79
4.2.1. Tác dụng của chế phẩm LH08 trên mô hình gây sa sút trí
tuệ bằng kẹp động mạch cảnh hai bên..........................................79
4.2.2. Tác dụng của chế phẩm LH08 trên mô hình gây sa sút trí
tuệ bằng scopolamin.....................................................................80
4.3. Điểm mạnh và điểm yếu của đề tài......................................................83
KẾT LUẬN.....................................................................................................84
KIẾN NGHỊ....................................................................................................86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC



DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

A

: Amyloid - beta

ACh

SSTT
T2VO
VD
YMT

DANH MỤC BẢNG
Bảng 3. 1. Đánh giá mô hình gây sa sút trí tuệ bằng kẹp động mạch
cảnh..............................................................................................51
Bảng 3. 2. Ảnh hưởng của liều scopolamin trên test trốn tránh thụ động
......................................................................................................52


Bảng 3. 3. Ảnh hưởng của liều scopolamin trên test mê lộ chữ Y................54
Bảng 3. 4. Đánh giá mô hình gây sa sút trí tuệ bằng scopolamin 1
mg/kg thông qua test trốn tránh thụ động....................................55
Bảng 3. 5. Đánh giá mô hình gây sa sút trí tuệ bằng scopolamin 3
mg/kg thông qua test mê lộ chữ Y..............................................56
Bảng 3. 6. Đánh giá mô hình gây sa sút trí tuệ bằng scopolamin 3
mg/kg thông qua test vận động tự nhiên......................................57
Bảng 3. 7. Ảnh hưởng của scopolamin lên hoạt độ enzym AChE................58
Bảng 3. 8. Ảnh hưởng của scopolamin lên nồng độ MDA...........................59
Bảng 3. 9. Ảnh hưởng của chế phẩm LH08 trên mô hình gây sa sút trí
tuệ bằng scopolamin thông qua test trốn tránh thụ động.............61
Bảng 3. 10. Ảnh hưởng của chế phẩm LH08 trên mô hình gây sa sút trí
tuệ bằng scopolamin 3 mg/kg thông qua test mê lộ chữ Y..........63
Bảng 3. 11. Ảnh hưởng của chế phẩm LH08 lên khả năng vận động của
chuột.............................................................................................64


DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Hình 2. 7. Sơ đồ khảo sát tác dụng của chế phẩm LH08 trên mô
hình gây sa sút trí tuệ bằng scopolamin........................................40
Hình 2. 8. Test trốn tránh thụ động................................................................42
Hình 2. 9. Test mê lộ chữ Y...........................................................................44
Hình 2. 10. Test mê lộ chữ Y cải tiến..............................................................45
Hình 2. 11. Máy đếm vận động tự nhiên.........................................................47


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Sa sút trí tuệ (SSTT) là một hội chứng lâm sàng gây ra do sự thoái hóa thần
kinh, chủ yếu gặp ở người cao tuổi [1], đặc trưng bởi sự suy giảm trí nhớ và
nhiều lĩnh vực nhận thức khác, kèm theo những rối loạn về hành vi, gây ảnh
hưởng nghiêm trọng đến hoạt động hàng ngày và chất lượng cuộc sống của
bệnh nhân [2]. Chứng sa sút trí tuệ là vấn đề gặp phải ở hầu hết các quốc gia
trên thế giới, đặc biệt ở các khu vực đang phát triển và kém phát triển, tỷ lệ sa
sút trí tuệ được dự báo là đang gia tăng ở mức đáng báo động [3]. Ước tính
hiện nay trên thế giới có khoảng 24,3 triệu người mắc chứng sa sút trí tuệ, sẽ
tăng thêm 4,6 triệu ca mắc mới mỗi năm, và cứ sau mỗi 20 năm con số này lại
tăng gấp đôi, dự tính đến năm 2040 sẽ là 81,1 triệu ca. Chi phí cho chứng sa
sút trí tuệ ở các nước đang phát triển ước tính là 73 tỷ USD mỗi năm [3].
Gánh nặng bệnh tật do chứng sa sút trí tuệ gây ra cao hơn hầu hết các tình
trạng sức khỏe khác, trừ chấn thương tủy sống và ung thư giai đoạn cuối [4].
Nó còn gây ra những căng thẳng và gánh nặng tâm lý đối với các thành viên
trong gia đình và người chăm sóc bệnh nhân [5].
Sa sút trí tuệ có nhiều thể, nhưng hay gặp nhất là thể Alzheimer (chiếm
khoảng 60%) và thể sa sút trí tuệ do mạch máu (chiếm khoảng 30%) [3], tuy
nhiên, các thể này thường không đơn độc [6]. Hiện nay vẫn chưa có một liệu
pháp nào giúp ngăn ngừa hoặc làm chậm đáng kể tiến triển của chứng sa sút

1.1.1. Khái niệm sa sút trí tuệ
Theo Phân loại quốc tế về bệnh tật 10 (ICD - 10: International
Classification of Diseases), sa sút trí tuệ là một hội chứng do bệnh lý của não,
thường có tính chất mãn tính hoặc tiến triển, trong đó có sự xáo trộn nhiều
chức năng cấp cao của vỏ não, bao gồm trí nhớ, suy nghĩ, định hướng, hiểu,
tính toán, khả năng học tập, ngôn ngữ và phán đoán. Không có rối loạn ý
thức. Sự suy giảm chức năng nhận thức thường đi kèm, và đôi khi xảy ra
trước sự suy giảm trong kiểm soát cảm xúc, hành vi xã hội, hoặc vận động.
Hội chứng này xảy ra trong bệnh Alzheimer, trong bệnh mạch máu não, và
trong các điều kiện khác chủ yếu hoặc ảnh hưởng đến não bộ.
Sa sút trí tuệ là một hội chứng lâm sàng gây ra do sự thoái hóa thần kinh,
chủ yếu gặp ở người cao tuổi [1], đặc trưng bởi sự suy giảm trí nhớ và nhiều
lĩnh vực nhận thức khác, kèm theo những rối loạn về hành vi, gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến hoạt động hàng ngày và chất lượng cuộc sống của bệnh
nhân [2].
1.1.2. Dịch tễ học sa sút trí tuệ
Chứng sa sút trí tuệ là vấn đề gặp phải ở hầu hết các quốc gia trên thế
giới [3]. Ước tính trên toàn thế giới có 35,6 triệu người sống chung với chứng
sa sút trí tuệ trong năm 2010, con số này dự kiến sẽ lên đến 115,4 triệu người
vào năm 2050 [12], và cứ sau mỗi 20 năm con số này lại tăng gấp đôi. Đặc
biệt ở các khu vực đang phát triển và kém phát triển, tỷ lệ sa sút trí tuệ đang
gia tăng ở mức đáng báo động [3]. Số ca mắc sa sút trí tuệ là ở các nước đang


4

phát triển chiếm 60% tổng số ca mắc sa sút trí tuệ trên toàn thế giới vào năm
2001, ước tính sẽ tăng lên 71% vào năm 2040. Ở Việt Nam chưa có các
nghiên cứu mang tính đại diện về tỷ lệ sa sút trí tuệ [4]. Nhưng ở khu vực
Đông Nam Á, số người mắc sa sút trí tuệ năm 2010 là 2,48 triệu người, ước

F02: Sa sút trí tuệ khác:
- Bệnh Pick
- Bệnh Creutzfeldt - Jakob
- Bệnh Huntington
- Bệnh Parkinson
- Sa sút trí tuệ do nhiễm virus gây suy giảm miễn dịch (HIV)
- Các thể sa sút trí tuệ khác
F03: Các thể sa sút trí tuệ không xác định
Trong đó, hay gặp nhất là sa sút trí tuệ thể Alzheimer (đứng hàng đầu với tỷ lệ
60%) và sa sút trí tuệ do mạch máu (đứng thứ hai với tỷ lệ khoảng 30%) [3].
Chứng sa sút trí tuệ do mạch máu được định nghĩa là sự mất chức năng
nhận thức do các bệnh mạch máu não và các thay đổi bệnh lý của tim mạch;
biểu hiện chính là sự suy giảm trong học tập và trí nhớ [16]. Nó còn là một
yếu tố nguy cơ tiềm tàng góp phần vào sự phát triển của bệnh Alzheimer [17].
Bệnh Alzheimer được mô tả lần đầu tiên vào năm 1906 tại một hội nghị ở
Tubingen, Đức bởi Alois Alzheimer, như một “quá trình bệnh nghiêm trọng
đặc biệt của vỏ não”. Trong thời gian gần đây, Alzheimer được coi là bệnh
mạn tính hoặc tiến triển, đặc trưng bởi sự suy giảm khả năng nhận thức vượt
ra khỏi những gì có thể được coi là hậu quả của sự lão hóa bình thường; ảnh
hưởng đến trí nhớ, suy nghĩ, định hướng, hiểu, học tập, ngôn ngữ [18].
So sánh giữa 2 thể sa sút trí tuệ do mạch máu và Alzheimer thì sa sút trí tuệ
do mạch máu có tỷ lệ tử vong cao hơn đáng kể do phải thường xuyên đối mặt
với các yếu tố nguy cơ mạch máu cũng như suy giảm vận động. Cụ thể,


6

chứng sa sút trí tuệ do mạch máu có tỷ lệ sống trung bình thấp hơn 50% (3 - 4
năm ở bệnh nhân sa sút trí tuệ thể do mạch máu so với 6 - 7 năm ở bệnh nhân
Alzheimer), chi phí chăm sóc sức khỏe cao hơn, tỷ lệ biến chứng hôn mê cao

cả động vật và con người [21].
Cũng giống Alzheimer, bất thường hệ cholinergic có liên quan đến rối loạn
chức năng nhận thức ở bệnh nhân sa sút trí tuệ do mạch máu. Các tế bào thần
kinh cholinergic ở hồi hải mã đóng một vai trò quan trọng trong chức năng
học tập và trí nhớ; các cúc tận cùng trong màng trước synap ở tế bào thần
kinh cholinergic rất nhạy cảm với tình trạng thiếu máu cục bộ [22].
1.1.5.2. Cơ chế sa sút trí tuệ thể Alzheimer
Cơ chế bệnh sinh của Alzheimer vẫn chưa được biết đến một cách đầy đủ.
Người ta đưa ra 3 giả thuyết về cơ chế bệnh sinh của Alzheimer như sau:
* Giả thuyết cholinergic
Cơ chế bệnh sinh của Alzheimer là do sự thoái hóa có chọn lọc của các
nhóm nơron thuộc hệ cholinergic dẫn đến làm giảm nồng độ acetylcholin ở
hồi hải mã, vỏ não vùng trán, hạnh nhân, các nhân nền, vách trong, là các
vùng và cấu trúc có vai trò vô cùng quan trọng trong việc nhận thức, chú ý,
học tập, trí nhớ và các quá trình ghi nhớ khác [18]. Acetylcholin được tổng
hợp bởi cholin-acetyltransferase và bị phá huỷ bởi acetylcholinesterase
(AChE) sau khi được giải phóng. Do vậy tăng hoạt độ AChE quá mức có thể
gây giảm nồng độ acetylcholin ở các vùng não này [13], làm mất dẫn truyền
qua synap, dẫn đến bệnh Alzheimer.
* Giả thuyết peptid amyloid
Peptid amyloid-beta (A) được tạo ra từ các protein tiền amyloid (APP Amyloid precursor protein). APP điều hoà sự tăng trưởng, phát triển, hoạt
động và sự sống của các tế bào. Có nhiều con đường phân giải APP [23],
nhưng thông thường APP được phân cắt bởi ba enzym protease là α, β và γ -


8

secretase [24]. Sự phân giải của APP theo trình tự bởi β-secretase và γsecretase dẫn đến sự tạo thành và giải phóng peptid Aβ trong não, trong đó A,
A42 được tạo ra nhiều nhất [25].


mất hoạt tính sinh học (giảm khả năng gắn kết) khiến cho vi ống trở nên bất
ổn, phá vỡ cấu trúc của vi ống. Các protein tau này còn có khả năng tự trùng
hợp và tập hợp thành các đám rối tơ thần kinh (neurofibrillary tangles -NFTs)
[28]. Phosphoryl hóa bất thường xảy ra ở vị trí gắn với vi ống có ái lực thấp
hơn và/hoặc tau có xu hướng tập hợp thành các sợi xoắn lại với nhau, tạo ra
NFTs [32]. Ngoài ra, các protein tau phosphoryl hoá bất thường còn có khả
năng tách các tau bình thường ra khỏi vi ống [28].
Các tau bệnh lý gây độc bằng cách thuận hoá làm tăng độc tính của A, gây
tổn thương ty thể hoặc làm gián đoạn quá trình vận chuyển trên sợi trục, gây
suy giảm năng lượng ở các synap, do đó làm giảm dẫn truyền qua synap [29].
Quá trình này làm phá vỡ chức năng và làm chết tế bào, từ đó gây bệnh
Alzheimer.
1.1.6. Tổng quan về trí nhớ
Tiêu chuẩn chẩn đoán sa sút trí tuệ của Hội tâm thần Hoa kỳ (DSM-IVTR: Diagnostic ang Statistical Manual of Mental Disorders, 4th Edition, Text
Revision. Washington, DC, American Psychiatric Association, 2000)
A. Suy giảm nhiều lĩnh vực nhận thức, biểu hiện bằng hai tiêu chí sau:
(1) Giảm trí nhớ (giảm khả năng học thông tin mới và nhớ lại các thông tin
đã được học từ trước).


10

(2) Có một (hoặc nhiều) rối loạn nhận thức sau đây:
(a) Mất ngôn (rối loạn ngôn ngữ) bao gồm, ngoài thất ngôn cổ điển, khó
tìm từ và gọi nhầm tên.
(b) Mất dùng động tác (không thực hiện được các động tác mặc dù chức
năng vận động, như cơ lực và phối hợp động tác, vẫn bình thường).
(c) Mất nhận biết (không có khả năng nhận ra và xác định được đồ vật
mặc dù chức năng giác quan bình thường).
(d) Rối loạn chức năng điều hành (ví dụ, lên kế hoạch, tổ chức, sắp xếp

bao gồm: (1) trí nhớ về môi trường xung quanh, (2) trí nhớ về tương quan thời
gian, (3) trí nhớ về cái tạo nên kinh nghiệm, (4) trí nhớ về ý nghĩa của kinh
nghiệm, (5) trí nhớ suy đoán trong tư duy.
- Trí nhớ kỹ năng (skill memory): thường liên quan đến hoạt động của con
người, ví dụ trí nhớ về kỹ năng chơi tennis bao gồm trí nhớ về (1) nhìn bóng,
(2) tính toán tương quan giữa tốc độ quả bóng và cái vợt, (3) suy luận nhanh
chuyển động cơ thể, cánh tay, cái vợt để đánh bóng theo ý muốn. Tất cả
những kỹ năng này được hình thành trên cơ sở học được từ những lần chơi
trước, sau đó chuyển thành kỹ năng cho những lần chơi sau mà quên đi những
chi tiết của lần chơi trước [33].
1.1.6.3. Cơ chế của trí nhớ
* Trí nhớ ngắn hạn: có nhiều giả thuyết cho rằng trí nhớ ngắn hạn được tạo
thành bởi hoạt động thần kinh liên tục từ các tín hiệu thần kinh xoay quanh
đường mòn trí nhớ tức thời trong một nhóm neuron phản xạ. Một giả thuyết
khác cho rằng trí nhớ ngắn hạn là do kích thích hoặc ức chế trước synap. Các
chất truyền đạt thần kinh được giải phóng ra ra có tác dụng kích thích hoặc ức
chế trong vài giây đến vài phút [33].
* Trí nhớ trung gian dài hạn: kéo dài nhiều phút, thậm chí hàng tuần, sau đó
sẽ mất đi, trừ khi nó được hoạt hóa đủ để trở thành trí nhớ dài hạn. Thực


12

nghiệm trên động vật cho thấy nó là kết quả của những thay đổi tức thời về
hóa học hoặc vật lý, hoặc cả hai ở màng trước cũng như màng sau synap.
Những thay đổi đó diễn ra trong vài phút đến vài tuần.
- Cơ chế của hiện tượng quen: Ở mức độ phân tử, hiện tượng quen là do đóng
các kênh canxi ở màng cúc tận cùng. Lượng ion canxi khuếch tán qua màng ít
hơn bình thường, và lượng chất truyền đạt thần kinh được giải phóng ít hơn vì
cổng caxi là yếu tố chính kích thích giải phóng chất truyền đạt thần kinh.

phải là chỉ biến đổi về hóa học ở synap, những biến đổi này làm tăng hoặc
giảm dẫn truyền tín hiệu thần kinh. Những biến đổi quan trọng nhất gồm:
- Tăng số lượng các vị trí giải phóng chất truyền đạt thần kinh.
- Tăng số lượng các chất truyền đạt.
- Tăng số lượng màng trước synap.
- Biến đổi cấu trúc đuôi gai, làm cho các tín hiệu mạnh hơn.
Như vậy, theo một số cách khác nhau, sự biến đổi cấu trúc của synap làm
các tín hiệu dẫn truyền xuất hiện và tăng lên trong suốt quá trình hình thành
đường mòn trí nhớ [33].
1.1.6.4. Các vùng não liên quan đến trí nhớ
- Hồi hải mã: nằm ở phần dưới của não và cuộn vào trong, giúp lưu giữ
thông tin nhớ mới vì nó là đường ra của các trung tâm thưởng và phạt trong
hệ viền. Thông tin cần được các trung tâm này đánh giá là có ích (thưởng) hay
có hại (phạt) thì mới được quyết định cho lưu vào kho nhớ. Tổn thương một
vài phần khác của thùy thái dương cạnh hải mã (hạnh nhân, vùng Wernicke)
cũng làm giảm sự lưu giữ nhớ. Một số tổn thương hải mã gây cả hai chứng


14

quên việc mới (mất chức năng lưu cất nhớ vào kho) và quên việc cũ (mất
chức năng gọi nhớ từ kho ra).
- Đồi thị: có chức năng lục tìm và gọi thông tin lưu trữ trong kho nhớ
ra. Tổn thương đồi thị gây chứng quên việc cũ (quên ngược chiều), tức là
mất khả năng hồi tưởng lại ký ức cũ, hay nói cách khác là thông tin đã lưu
vào kho nhớ nay không gọi ra được. Việc xa dễ nhớ lại và dễ gọi ra hơn
việc gần, do việc xa (cũ hơn) thường có nhiều dịp lặp lại hơn nên đường
mòn nhớ ăn sâu hơn và được lưu ở nhiều vùng của não hơn [34].
1.2. Thuốc điều trị sa sút trí tuệ
Hiện nay có 2 nhóm thuốc điều trị sa sút trí tuệ được sử dụng trên lâm sàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status