BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
ĐỖ THỊ THƯ
NHẬN THỨC, NHU CẦU ĐÀO TẠO ĐỂ THAM GIA
CHĂM SÓC SỨC KHỎE TẠI NHÀ CỦA SINH VIÊN
ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ BẠCH MAI
NĂM 2018 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2012 – 2018
H NI 2018
B GIO DC V O TO
B Y T
TRNG I HC Y H NI
TH TH
nhận thức, nhu cầu đào tạo để tham
gia
chăm sóc sức khỏe tại nhà của sinh viên
điều dỡng trờng cao đẳng y tế bạch
một phần số liệu của đề tài để thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu trường Cao
đẳng Y tế Bạch Mai, các thầy cô và nhân viên trường Cao đẳng Y tế Bạch
Mai cùng toàn thể các bạn sinh viên đã nhiệt tình hỗ trợ em trong suốt quá
trình tiến hành nghiên cứu.
Đặc biệt, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới ThS. Đinh Thái
Sơn và ThS. Lê Xuân Hưng, là hai người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ
bảo, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho em trong suốt qua trình học tập,
nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận này.
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với bố mẹ, người
thân trong gia đình em và bạn bè đã động viên, chia sẻ giúp em vượt qua
mọi khó khăn trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này.
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Đỗ Thị Thư
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
--------***-------LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:
- Phòng Đào tạo đại học trường Đại học Y Hà Nội.
- Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng.
- Phòng Đào tạo, Nghiên cứu khoa học, Hợp tác quốc tế Viện Đào tạo
Y học dự phòng và Y tế công cộng.
- Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp.
Tên em là Đỗ Thị Thư
Sinh viên tổ 27, lớp Y6H – Y học dự phòng, Trường Đại học Y Hà Nội
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu được tiến hành nghiêm
túc, trung thực. Kết quả nghiên cứu chưa từng được công bố trong công trình,
ĐDCSSKTN
: Điều dưỡng chăm sóc sức khỏe tại nhà
DVCSSKTN
: Dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà
HĐCSSK
: Hoạt động chăm sóc sức khỏe
HTYT
: Hệ thống Y tế
TĐNT
: Tổng điểm nhận thức
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ...................................................................................................1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU...............................................................3
CSSKTN......................................................................................................30
Chương 4: BÀN LUẬN..................................................................................37
4.1. Nhận thức của sinh viên về các dịch vụ CSSKTN...............................37
4.2. Nhu cầu đào tạo để tham gia CSSKTN................................................40
4.3. Một số yếu tố liên quan........................................................................42
4.3.1. Một số yếu tố liên quan đến nhận thức.........................................42
4.3.2. Một số yếu tố liên quan đến nhu cầu đào tạo................................43
4.4. Hạn chế của nghiên cứu.......................................................................44
KẾT LUẬN.....................................................................................................46
KHUYẾN NGHỊ.............................................................................................47
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1.
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu..................................20
Bảng 3.2.
Đặc điểm kinh tế gia đình của đối tượng nghiên cứu.................21
Bảng 3.3.
Mô tả nhận thức của đối tượng nghiên cứu.................................22
Bảng 3.4.
Nhận thức về nhu cầu CSSKTN của người dân..........................23
Bảng 3.17. Mô hình hồi quy đa biến các yếu tố liên quan đến nhu cầu đào tạo. .35
Bảng 3.18.
Mô hình hồi quy các yếu tố liên quan đến sẵn sàng tham gia đào tạo. 36
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ tham gia vào các hoạt động CSSK tại cộng đồng.............21
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ tham gia vào các khóa đạo tạo CSSKTN..........................28
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo báo cáo của Bộ Y tế năm 2014, mô hình bệnh tật của nước ta có sự
dịch chuyển mạnh mẽ từ các bệnh lây nhiễm sang các bệnh mạn tính và tai
nạn thương tích. Năm 2010, khoảng 2/3 gánh nặng bệnh tật là do các bệnh
mạn tính [1], cùng với đó là tỷ lệ người cao tuổi tăng nhanh. Dự báo 30 năm
tới, dân số thuộc nhóm từ 60 tuổi trở lên chiếm 1/4 dân số [2]. Nhu cầu khám
chữa bệnh của người dân ngày càng tăng trong khi khả năng cung ứng dịch vụ
của cơ sở khám chữa bệnh ở các tuyến còn hạn chế [3]. Để đáp ứng nhu cầu
của người dân trong tình hình mới, Bộ Y tế đã đề ra mục tiêu tăng cường y tế
cơ sở và chăm sóc sức khỏe ban đầu. Trong đó phát triển mô hình chăm sóc
sức khỏe tại nhà (CSSKTN) nhằm bảo đảm cung ứng đầy đủ các dịch vụ
chăm sóc sức khỏe ban đầu cho từng người dân trên địa bàn theo hướng toàn
diện, liên tục được xem là một hướng đi mới giải quyết được nhiều vấn đề
hiện nay [4].
Ở các nước trên thế giới, mô hình CSSKTN đã xuất hiện từ thế kỷ 20 và
nhanh chóng trở thành một trong những dịch vụ chăm sóc sức khỏe phổ biến
nhất [5], [6]. Tuy nhiên để phát triển mô hình CSSKTN thành công và bền
vững, chúng ta cần học hỏi kinh nghiệm từ các nước đi trước, áp dụng vào
với hai mục tiêu:
1.
Mô tả nhận thức, nhu cầu đào tạo để tham gia chăm sóc sức
khỏe tại nhà của sinh viên điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế
Bạch Mai năm 2018.
2.
Phân tích một số yếu tố liên quan đến nhận thức và nhu cầu đào
tạo để tham gia chăm sóc sức khỏe tại nhà của sinh viên điều
dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Bạch Mai năm 2018.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Chăm sóc sức khỏe tại nhà
Tại Mỹ, từ thế kỷ 19 đã có các điều dưỡng thăm khám tại nhà như là tiền
thân của các hoạt động CSSKTN chuyên nghiệp sau này. Năm 1965, Chính
phủ Mỹ thành lập Medicare với mục đích hỗ trợ chăm sóc tại nhà cho người
cao tuổi đồng thời trực tiếp quản lí hệ thống chăm sóc tại nhà [5], [10]. Từ đó
thuật ngữ “chăm sóc sức khoẻ tại nhà” được sử dụng rộng rãi ở Mỹ và nhiều
quốc gia khác. Năm 1980 tại Mỹ, Warhola đã đưa ra định nghĩa về CSSKTN.
a. Khái niệm CSSKTN
Chăm sóc sức khoẻ tại nhà là một phần của mục tiêu chăm sóc sức khoẻ
toàn diện, bao gồm hàng loạt các dịch vụ y tế được cung cấp cho cá nhân và
gia đình ở tại nhà của họ với mục đích duy trì, phục hồi, nâng cao sức khoẻ,
tăng cường mức độ độc lập của khách hàng, đồng thời giảm thiểu bệnh tật.
(nhà nước, tư nhân, các tổ chức từ thiện…) đã làm cho các dịch vụ CSSKTN
ngày càng mở rộng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và phức tạp của
người dân. Hiện nay, các dịch vụ CSSKTN phát triển mạnh mẽ, hoàn toàn bao
phủ mọi nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ở mọi độ tuổi, mọi tình
trạng bệnh. Từ bệnh cấp tính đến bệnh mạn tính, hồi phục sau phẫu thuật hay
phục hồi chức năng, các dịch vụ CSSKTN sẽ cung cấp sự chuyên nghiệp và
toàn diện nhất trong chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân ngay tại nhà của họ
[5]. Tuy nhiên, các dịch vụ CSSKTN phổ biến nhất vẫn là dành cho người cao
tuổi, bệnh nhân mắc bệnh mạn tính và chăm sóc giảm nhẹ bệnh nhân giai
đoạn cuối [15].
5
1.1.2. Nhu cầu CSSKTN
Theo báo cáo của Hiệp hội Điều dưỡng Canada năm 2013, đa số các
khách hàng sử dụng các dịch vụ CSSKTN (60 - 70%) từ 65 tuổi trở lên. Có
khoảng 20 – 30% thuộc độ tuổi trên 21 và trẻ em đại diện cho khoảng 10%
các khách hàng sử dụng dịch vụ CSSKTN [15]. Khoảng 41% người cao tuổi
mắc từ hai bệnh mạn tính trở lên, ước tính khoảng 40% người già sau khi ngã
sẽ nhận sự trợ giúp từ các dịch vụ chăm sóc dài hạn. Từ những dự báo trên dễ
dàng nhận thấy nhu cầu và quy mô của các dịch vụ CSSKTN ở Canada ngày
càng được mở rộng.
Theo báo cáo thống kê năm 2007 tại Mỹ, hệ thống CSSKTN đã cung cấp
dịch vụ cho hơn gần 9 triệu người. Trong đó nhóm tuổi từ 65 trở lên chiếm
69,1%, các dịch vụ được cung cấp chủ yếu cho nhóm khách hàng mắc bệnh
mạn tính (tim mạch, tiểu đường và cơ xương khớp) chiếm 68,5%. Hệ thống
CSSKTN ngày càng được mở rộng, từ năm 2000 đến 2007 có thêm hơn
400.000 nghìn dịch vụ CSSKTN và hơn 3 triệu bệnh nhân [16].
Theo nghiên cứu của Đàm Trọng Hiếu và các cộng sự khảo sát về nhu cầu
chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại quận Tây Hồ năm 2016 cho thấy nhu cầu
hụt lực lượng điều dưỡng có trình độ. Điều này xuất phát từ thực tế là các
điều dưỡng hiện nay đang được đào tạo theo hướng phục vụ tại các bệnh viện
và môi trường thực hành cũng tại các bệnh viện [9], [20]. Khảo sát ở nhiều
trường đại học đều cho thấy một tình trạng chung là rất ít sinh viên điều
dưỡng lựa chọn chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng.
Theo nghiên cứu trên sinh viên điều dưỡng ở Hà Lan về lựa chọn khu
vực thực hành lâm sàng bệnh viện chiếm 71,2%, khu vực chăm sóc sức khoẻ
khác là 23,4% và chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng chỉ chiếm 5,4%. Trung
7
bình điểm nhận thức về chăm sóc sức khỏe cộng đồng của các sinh viên ở
mức 6,47 (thang 10) cho thấy nhận thức tích cực nhưng chưa rõ ràng của sinh
viên về chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng [20].
Một nghiên cứu trên các sinh viên mới tốt nghiệp tại Ý, kết quả tương tự
cho thấy rằng sinh viên điều dưỡng rất ít lựa chọn thực hành lâm sàng tại
cộng đồng. Trong nghiên cứu này chỉ có 4,4% các sinh viên chọn chăm sóc
tại cộng đồng/ tại nhà/ tại viện dưỡng lão, các sinh viên khác đều lựa chọn
làm việc ở một chuyên ngành hoặc các đơn vị chăm sóc đặc biệt [21].
Nhìn chung, nhận thức của sinh viên về chăm sóc sức khỏe cộng đồng
còn nhiều hạn chế. Phần lớn sinh viên điều dưỡng nhận thức được tầm quan
trọng, ý nghĩa nhân đạo và lợi ích của các hoạt động chăm sóc sức khỏe cộng
đồng, CSSKTN. Tuy nhiên lĩnh vực này chưa có sức hấp dẫn đối với các sinh
viên. Vì vậy cần có các chiến lược truyền thông, giáo dục có ảnh hưởng tích
cực đến nhận thức của sinh viên. Từ đó thu hút được nguồn điều dưỡng có
trình độ tham gia vào công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng [22].
1.2.2. Một số yếu tố liên quan
Một số nghiên cứu về nhận thức của sinh viên điều dưỡng về mô hình
CSSKTN chủ yếu liên quan đến các đặc điểm cá nhân và các đặc điểm của việc
CSSKTN [20], [21], [22], [23], [24]. Trong khi các yếu tố thuộc về kinh tế xã
[19]. Dự báo này như một gợi ý sớm về quy mô và định hướng trong đào tạo
điều dưỡng và nhân lực y tế ở Canada.
Ở Châu Âu, mỗi quốc gia đều có các yêu cầu riêng về giáo dục cho điều
dưỡng CSSKTN. Nhìn chung, điều dưỡng được đào tạo tại các trường đào tạo
chuyên nghiệp về chuyên ngành điều dưỡng từ 3 đến 4 năm. Sau đó khoảng
1/3 các quốc gia ở Châu Âu yêu cầu điều dưỡng cần phải có chứng chỉ đào
9
tạo về CSSKTN hoặc vượt qua các kì thi tổ chức định kì. Trong khi quá trình
thực hành CSSKTN điều dưỡng viên cần tiếp tục tham gia các khóa học ngắn
hạn để bổ sung kiến thức, kỹ năng mới được tổ chức bởi các cơ quan chăm
sóc tại nhà của các quốc gia. Số liệu về nhân lực CSSKTN ở các quốc gia
không được đưa ra trong các báo cáo, nhưng các chuyên gia ở một số quốc
gia bày tỏ sự lo ngại của họ về sự thiếu hụt nhân lực có trình độ trong
CSSKTN [25].
b. Thực trạng đào tạo tại Việt Nam.
Ở nước ta chưa có mã ngành đào tạo điều dưỡng cộng đồng cung cấp
nguồn nhân lực cho các dịch vụ CSSKTN. Thay vào đó các trung tâm tư nhân
cung cấp dịch vụ CSSKTN thường tuyển dụng các điều dưỡng có kinh
nghiệm làm ở các cơ sở y tế khác. Các điều dưỡng viên sau đó có thể được
hoặc không được đào tạo ngắn hạn rồi làm việc như những điều dưỡng
CSSKTN. Trong khi các bệnh viện mở các trung tâm CSSKTN sẽ trực tiếp
cung cấp các điều dưỡng trong bệnh viện để CSSKTN. Các điều dưỡng viên
hiện nay đều được đào tạo và thực hành theo hướng làm việc trong bệnh viện
[9], nên khi thực hành lâm sàng tại cộng đồng sẽ khó tránh khỏi những thiếu
sót trong quá trình chăm sóc người bệnh.
Nghiên cứu sự hài lòng về dịch vụ CSSKTN tại Bệnh viện Đa khoa
Nông nghiệp năm 2016 của Hà Hữu Tùng cho thấy rằng hơn 10% khách hàng
CSSKTN không hài lòng với chất lượng dịch vụ được cung cấp [18]. Một
Mai là một trường có tính chất đặc thù, là trường nằm trong bệnh viện, chịu
sự quản lý trực tiếp của bệnh viện. Bệnh viện Bạch Mai là cơ sở thực hành
11
chính của nhà trường, đây cũng là mặt thuận lợi trong công tác đào tạo thực
hành tay nghề cho các sinh viên.
1.4.2. Chức năng, nhiệm vụ
Với đặc trưng là trường đào tạo trực thuộc bệnh viện, trường CĐYT
Bạch Mai mang một số chức năng nhiệm vụ chủ yếu sau:
+ Giáo dục và Đào tạo: Đào tạo cán bộ y tế có trình độ cho các bệnh
viện. Chất lượng đào tạo luôn được xác định là vấn đề then chốt trong sự phát
triển của nhà trường. Sinh viên khi ra trường được trang bị kiến thức cơ bản
vững vàng, kiến thức chuyên môn sâu và kỹ năng thực hành tốt; đủ để đáp
ứng nhanh chóng yêu cầu của các cơ sở y tế.
+ Nghiên cứu khoa học và hợp tác Quốc tế: Chủ động xây dựng kế
hoạch hoạt động khoa học, công nghệ phù hợp với sứ mệnh nghiên cứu và
phát triển của trường. Hoạt động KHCN được đa số đội ngũ cán bộ, giảng
viên tham gia. Trong những năm học tới, nhà trường tiếp tục đẩy mạnh hoạt
động nghiên cứu khoa học, đặc biệt chú trọng tiến hành các sáng kiến về
phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng đào tạo học sinh sinh viên.
+ Tham gia các hoạt động của bệnh viện và các hoạt động đào tạo của
Bộ Y tế: Xây dựng mục tiêu chương trình Cao đẳng và Trung cấp chuyên
nghiệp, viết giáo trình, sách giáo khoa cho học sinh, sinh viên. Xây dựng và
tham gia quy trình kỹ thuật, là cơ sở đánh giá trình độ điều dưỡng trong Bệnh
viện Bạch Mai và một số bệnh viện khác.
12
Chương 2
tại nhà của sinh viên điều dưỡng Trường cao đẳng Y tế Bạch Mai năm 2018.
Nhóm biến số nhận thức của sinh viên về chăm sóc sức khỏe tại nhà.
Nhóm
biến số
Nhận thức
về nhu cầu
CSSKTN
của người
dân
Biến số
Tuổi thọ và tỷ lệ mắc các bệnh mạn tính
ngày càng tăng.
Bệnh mạn tính tăng nhiều hơn các
bệnh cấp tính
Người dân muốn được khám, chữa
bệnh ở bệnh viện tuyến trên
Nhiều bệnh có thể khám, điều trị
tại nhà
Người dân sẵn sàng tham gia
DVCSSKTN
Người dân sẵn sàng chi trả cho
DVCSSKTN
Nhận thức
ĐDBV dễ chuyển đổi thành
về nhu cầu ĐDCSSKTN
đào tạo
Điều dưỡng cần thêm các kỹ năng
một số
thuận lợi
của điều
dưỡng
CSSKTN
Làm việc chủ động, tạo được lòng
tin với người bệnh
KHCN giúp việc CSSKTN thuận
tiện
Nhiều cơ hội tăng thu nhập
Dễ xin việc
Nhận thức
Thiếu tự tin khi chăm sóc người
một số khó bệnh một mình
khăn của
Không có đồng nghiệp bên cạnh
điều dưỡng
để trao đổi khi gặp khó khăn về chuyên
CSSKTN
môn.
Tự tin hơn khi được đồng nghiệp hỗ trợ.
Nhóm biến số nhận thức tính khả thi của mô hình CSSKTN.
Biến số
Giải quyết được nhiều bất cập của HTYT
Đáp ứng nhu cầu của người dân
Tạo cơ hội học tập và làm việc cho điều
dưỡng
Có/ Không
đã có
Nhị
phân
Nhu
cầu đào tạo
Nhị
phân
Có/ Không
Sẵn sàng
tham gia đào
tạo
Có/ Không
Các
khóa đào
tạo
Khóa học chăm sóc với từng bệnh cụ
thể/ Chăm sóc bệnh nhân mắc bệnh
mạn tính/ Chăm sóc giảm đau bệnh
nhân ung thư/ Chăm sóc người cao
tuổi, người suy kiệt/ Chăm sóc phục
hồi chức năng/ Chăm sóc bệnh nhân
câu hỏi
tự điền