KIẾN THỨC, THÁI độ về PHÒNG và xử TRÍ PHƠI NHIỄM với vật sắc NHỌN TRONG TIÊM TRUYỀN của SINH VIÊN điều DƯỠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG y tế hà nội - Pdf 56

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BỘ Y TẾ

NGUYỄN THỊ HÀ

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ PHÒNG VÀ XỬ TRÍ PHƠI
NHIỄM VỚI VẬT SẮC NHỌN TRONG TIÊM
TRUYỀN CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG
TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ NỘI
Chuyên ngành : Điều dưỡng
Mã số

:

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học:
TS. VŨ THỊ LAN ANH

HÀ NỘI - 2018


2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
SV
SVĐD
ĐTV


DANH MỤC BẢNG


3

ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương do vật sắc nhọn (VSN) trong thực hành lâm sàng là vấn đề sức
khỏe thường gặp ở sinh viên điều dưỡng (SVĐD). Tỷ lệ bị chấn thương do VSN ở
SVĐD trên thế giới rất khác nhau dao động từ 9,4% - 100% [1] [2]. Chấn thương do
VSN có thể dẫn đến việc lây truyền các bệnh qua đường máu cho SVĐD như HIV,
viêm gan B và viêm gan C [3]. Nguy cơ bị lây truyền bệnh theo kim tiêm từ một
người bệnh có nhiễm khuẩn máu dao động từ mức 0,3% đối với virus gây suy giảm
miễn dịch ở người (HIV) và 3% - 10% đối với viêm gan C và 40% đối với viêm gan
B [4]. Khả năng bị chấn thương do VSN có thể cao hơn ở những đối tượng thiếu
kinh nghiệm, mệt mỏi mà lại phải thường xuyên làm việc trong môi trường mới,
khẩn trương như SV ngành y[5].
Trong khi đó kiến thức về phòng ngừa và xử lý phơi nhiễm với vật sắc nhọn
của SV chưa cao: chỉ có 36,2% SV năm cuối biết đầy đủ chi tiết của việc phòng
ngừa các tổn thương do kim đâm [6]; 85,9% SV không biết hoặc chỉ biết một phần
trong các bước xử trí sau phơi nhiễm, 35,1% SV không quan tâm đến tác hại sau
phơi nhiễm với nguồn bệnh [7], thậm chí 51,6% SV trường đại học khoa học sức
khỏe Arack còn thực hiện nặn máu từ vết thương, hành động xử lý vết thương sai
trầm trọng [8].
Ngoài ra, theo nghiên cứu của Honda, điều dưỡng có thái độ chưa đúng về
phòng chống chấn thương do VSN có nguy cơ mắc chấn thương cao gấp 1,86 lần CI
95% (1,033,38) so với điều dưỡng có thái độ đúng [9].
Ở Việt Nam, tỷ lệ SV xử lý vết thương đúng quy trình sau chấn thương còn
thấp: chỉ có 36,8% SV trường cao đẳng Y tế Kiên Giang thực hành xử lý vết thương
đúng sau chấn thương [10]. Tương tự, trường Đại học Y khoa Vinh có 63% sinh

2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan và đề xuất một số giải pháp về giảng
dạy nhằm nâng cao kiến thức và thái độ của sinh viên về phòng và xử trí
phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền.


5

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm
Phơi nhiễm nghề nghiệp
Là sự tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch tiết, chất bài tiết (trừ mồ hôi) có chứa
tác nhân gây bệnh trong khi nhân viên y tế thực hiện nhiệm vụ dẫn đến nguy cơ lây
nhiễm bệnh [14].
Tác nhân gây bệnh qua đường máu
Các vi sinh vật có độc lực ( có khả năng gây bệnh) lây truyền do phơi nhiễm
với máu, sản phẩm của máu và gây bệnh trên người. Các tác nhân gây bệnh đường
máu hay gặp bao gồm viêm gan B(HBV), Viêm gan C (HCV),virus gây suy giảm
miễn dịch ở người (HIV) [14].
Tiêm truyền tĩnh mạch
Là kỹ thuật dùng kim đưa thuốc vào tĩnh mạch với góc tiêm 30⁰ so với mặt
da. Khi tiêm chọn tĩnh mạch nổi rõ, mềm mại, không di động, da vùng tiêm nguyên
vẹn [14].
Tiêm an toàn
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), Tiêm an toàn là một quy trình tiêm:
không gây nguy hại cho người nhận mũi tiêm; không phơi nhiễm cho người thực
hiện mũi tiêm; không tạo chất nguy hại cho người khác và cộng đồng [15].
Đậy nắp kim tiêm
Kỹ thuật đậy nắp kim một tay: nhân viên y tế cầm bơm tiêm bằng một tay và
đưa đầu nhọn của kim vào phần nắp đặt trên một mặt phẳng, sau đó dùng hai tay

nối tĩnh mạch trung ương mà không dùng kim tiêm hoặc dùng kim luồn an toàn.
Biện pháp kiểm soát về kỹ thuật: được sử dụng để cô lập và loại bỏ mối
nguy hại khỏi nơi làm việc như sử dụng thùng chứa chất thải sắc nhọn; sử dụng các
thiết bị bảo vệ tránh vật sắc nhọn cho tất cả quy trình ( bơm kim tiêm có tính năng
tự thụt vào, tự đóng hoặc tự cùn đi ngay sau khi sử dụng) khi có thể.
Biện pháp hành chính: các chính sách và chương trình can thiệp nhằm hạn
chế phơi nhiễm với các yếu tố nguy hại. Ví dụ như áp dụng phòng ngừa phổ cập,
xác định các nguồn lực thể hiện cam kết an toàn cho nhân viên y tế, thành lập ủy


7

ban phòng ngừa TTNN do VSN, xây dựng các kế hoạch kiểm soát phơi nhiễm và
tăng cường đào tạo.
Biện pháp kiểm soát thực hành: nâng cao, củng cố các thao tác, thực hành
an toàn, loại bỏ các thói quen, các thao tác đã được xác định có nguy cơ cao đối với
TTNN do VSN. Ví dụ như không đậy lại nắp kim sau khi tiêm, đặt các hộp chứa vật
thải sắc nhọn ở nơi dễ sử dụng, kiểm tra hộp đựng VSN định kỳ và đưa đi xử lý
trước khi hộp đầy, thiết lập các biện pháp an toàn trong việc bảo quản, chuyên chở
và xử lý chất thải sắc nhọn.
Phương tiện bảo vệ cá nhân: sử dụng kính, mặt nạ, găng tay, khẩu trang, áo
choàng...
Các biện pháp phòng ngừa phơi nhiễm với tổn thương da do kim và vật
sắc nhọn
- Luôn luôn đảm bảo rằng bệnh nhân của bạn giữ yên một tư thế khi tiêm (cố
định bệnh nhân);
- Tập trung vào công việc tiêm, không nói chuyện và nhìn đi chỗ khác;
- Bảo đảm khu vực làm việc gọn gàng để đảm bảo rằng bạn không phải đưa
kim tiêm qua các vật cản.
- Đảm bảo an toàn cho bàn tay của nhân viên y tế:

+ Hộp có màu vàng, có nhãn đề “Chỉ đựng vật sắc nhọn”
+ Có vạch báo hiệu ở mức ¾ hộp và có dòng chữ: “Không được đựng quá vạch này”.
Cách sử dụng hộp an toàn:
+ Treo cạnh xe tiêm hoặc nơi phát sinh chất thải sắc nhọn
+ Đặt tại nơi thuận tiện với tầm với của tay
+ Chỉ chứa đầy ¾ hộp
+ Không bao giờ mở ra một khi hộp đã chứa đầy và đã đóng nắp.
Vận chuyển hộp an toàn:
+ Đậy kín nắp hộp an toàn trước khi vận chuyển
+ Khi vận chuyển để hộp cách xa người
+ Cầm quai hộp khi vận chuyển
+ Mang găng dày khi vận chuyển.
Tiêu hủy hộp an toàn có chứa bơm kim tiêm nhiễm khuẩn:
+ Không bỏ ra bãi rác lộ thiên
+ Vận chuyển và thiêu đốt cùng với các chất thải y tế nguy hại.
Chú ý:
+ Không bao giờ sử dụng lại bơm, kim tiêm dùng một lần;
+ Tiêm và truyền chỉ thực hiện nếu thực sự cần thiết.
1.2.2. Xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền
Nguy cơ lây nhiễm sau khi phơi nhiễm phụ thuộc vào việc xử trí ngay sau
phơi nhiễm. Vết thương càng được xử trí sớm theo đúng quy trình thì nguy cơ lây
nhiễm càng thấp. Các cơ sở y tế đều cần có kế hoạch kiểm soát phơi nhiễm, kế
hoạch quản lý sau phơi nhiễm và theo dõi NVYT có nguy cơ phơi nhiễm. Việc xử
trí phơi nhiễm vật sắc nhọn trong tiêm truyền cần tuân theo các bước sau:
1.2.2.1. Xử trí vết thương tại chỗ
+
+
+

Rửa ngay vùng da bị tổn thương bằng xà phòng và nước, dưới vòi nước chảy

+ Đánh giá nguy cơ dựa vào triệu chứng lâm sàng của người bệnh nguồn.
+ Người bệnh đã được xác định HIV (+): Tìm hiểu các thông tin về tiền sử

và đáp ứng đối với thuốc ARV.
+ Nếu chưa biết về tình trạng HIV của nguồn gây phơi nhiễm: Tư vấn và lấy

máu xét nghiệm HIV.
1.2.2.6 Xác định tình trạng HIV của người bị phơi nhiễm
+ Tư vấn trước và sau khi xét nghiệm HIV theo quy định.


10

+ Nếu ngay sau khi phơi nhiễm, người bị phơi nhiễm có HIV (+) : Đã bị

nhiễm HIV từ trước không phải do phơi nhiễm.
+ Nếu HIV (-) : Kiểm tra lại sau 3 và 6 tháng.
+ Xét nghiệm công thức máu và chức năng gan (ALT) khi bắt đầu điều trị và

sau 2- 4 tuần.
+ Xét nghiệm HIV sau 3 và 6 tháng
+ Hỗ trợ tâm lý nếu cần thiết.

1.2.2.7 Tư vấn và điều trị sau phơi nhiễm
* Tư vấn sau phơi nhiễm
Người được xác định là phơi nhiễm với máu, dịch cơ thể và vật sắc nhọn từ
nguồn có chứa HIV, HBV, HCV cần tới gặp bác sĩ kiểm soát nhiễm khuẩn hoặc
chuyên khoa truyền nhiễm để được tư vấn về nguy cơ nhiễm HIV, HBV và HCV,
những ảnh hưởng có thể xảy ra đối với cuộc sống của họ, cũng như ưu, nhược điểm
của điều trị dự phòng sau phơi nhiễm (khả năng thành công, tác dụng phụ của

Tiêm ngừa vác-xin viêm gan B và HBIG trong vòng 24 giờ sau tai nạn nếu
nhân viên chưa có kháng thể HBV
* Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm với HIV/AIDS bằng thuốc ARV [18]
Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm nên được bắt đầu càng sớm càng tốt cho tất
cả đối tượng có nguy cơ lây nhiễm HIV tối ưu nhất trong vòng 72 giờ, tùy thuộc vào
tình trạng nhiễm trùng của nguồn và loại phơi nhiễm mà có cách dự phòng khác nháu:


Nguồn HIV dương tính nhóm 1 (nhiễm HIV chưa có triệu chứng hoặc tải virus
thấp):

-

Loại phơi nhiễm ít trầm trọng (kim đặc hoạc tổn thương nông): Phác đồ dự 2 thuốc

-

Loại phơi nhiễm trầm trọng hơn (kim rỗng, đâm sâu, kim chích động tĩnh mạch):
Phác đồ mở rộng 3 thuốc



Nguồn HIV dương tính nhóm 2 (nhiễm HIV có triệu chứng, AIDS): phác đồ mở
rộng 3 thuốc cho các loại phơi nhiễm.
Theo dõi người bị phơi nhiễm với HIV/AIDS

-

Theo dõi tác dụng phụ của ARV: Tư vấn cho người được điều trị dự phòng về tác
dụng phụ có thể có của ARV. Không nên ngừng điều trị khi có tác dụng phụ nhẹ và

giảm tỷ lệ tổn thương [19]. Tương tự kết quả nghiên cứu của Hani A, nghiên cứu
của tác giả Taimur Saleem cho thấy hơn 85% HS/SV có kiến thức về khả năng
nhiễm viêm gan B, viêm gan C và HIV từ vết thương do kim đâm. Chỉ 16,4%
HS/SV năm thứ 3; 29,5% HS/SV năm thứ 4 và 36,2% HS/SV năm cuối biết đầy đủ
chi tiết của việc phòng ngừa các tổn thương do kim [20]. Để phòng ngừa tổn thương
do kim tiêm, 31,3% SV cho rằng cần đậy nắp kim bằng cách sử dụng kỹ thuật một
tay hoặc đậy nắp bằng cách giữ nắp trên bàn làm việc 40,6%; 85,5% SV cho rằng
nên loại bỏ kim luôn [21]. Chỉ có 16,5% SV tự tin rằng họ có đủ kiến thức liên quan
đến tổn thương do kim tiêm [22]. Sinh viên cho rằng sự thiếu kiến thức về phòng
chống chấn thương do VSN là yếu tố nguy cơ cực kỳ lớn dẫn đến bị chấn thương tại cơ
sở y tế. Nghiên cứu chỉ ra rằng cần phải giáo dục để thúc đẩy nhận thức của sinh viên
về phòng ngừa và sự nguy hiểm của tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn [23].
Khi bị phơi nhiễm với kim tiêm hành động xử lý vết thương ngay lập tức
đúng kỹ thuật sẽ giúp giảm nguy cơ lây nhiễm các bệnh qua đường máu.Tuy nhiên,
kiến thức về xử trí vết thương sau phơi nhiễm của SVchưa được tốt. Theo nghiên
cứu của Souza-Borges năm 2014 có 85,9% SV không biết hoặc chỉ biết một phần
trong các bước xử trí sau phơi nhiễm [7]. Sinh viên nha khoa của Raichur ở Ấn Độ


13

nói rằng họ sẽ nặn bóp máu vết thương sau khi bị chấn thương do kim [24] . Tương
tự , nghiên cứu Kin Cheung có 62,1% SV rửa tay ngay dưới vòi nước đồng thời nặn
máu, làm sạch bằng bông cồn 56,9% [25]. Thậm chí, theo kết quả nghiên cứu của
Baghcheghi có 51,6% SV trường đại học khoa học sức khỏe Arack còn thực hiện
nặn máu từ vết thương, hành động xử lý vết thương sai trầm trọng và 10% Sv không
thực hiện bắt cứ hành động nào sau chấn thương [8].
Sau khi bị phơi nhiễm với kim tiêm và vật sắc nhọn SV cần phải báo cáo với
người phụ trách/ quản lý về tình trạng phơi nhiễm để được tư vấn và điều trị dự
phòng nếu cần thiết. Tuy nhiên, tỷ lệ SV báo cáo sau chấn thương theo các nghiên

thức về phòng ngừa phơi nhiễm nghề nghiệp do kiêm tiêm truyền, Đa số HSSV chỉ
biết một số chi tiết về quy trình xử trí phơi nhiễm với máu và dịch tiết do kim tiêm
truyền [12]. Theo kết quả nghiên cứu của Hồ Văn Luyến, 80% SV đã được giảng về
phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn nhưng chỉ có 57,8% sinh viên có kiến
thức đúng về phòng ngừa và xử lý chấn thương do vật sắc nhọn [10].
Sau khi bị chấn thương chỉ có 48% SV sơ cứu vết thương ngay lập tức [29],
có 63% sinh viên điều dưỡng xử lý sai vết thương: nặn bóp máu ở vết thương và vệ
sinh bằng dung dịch khử khuẩn [11], thậm chí 11,2% sinh viên không thực hiện bất
kỳ biện pháp nào để xử lý vết thương [30].
Tỷ lệ báo cáo sau phơi nhiễm còn chưa cao. chỉ có 9% SV có báo cáo và
14% SV được làm xét nghiệm máu sau phơi nhiễm trong kết quả nghiên cứu của Đỗ
Nguyên Phương [29]. Một nghiên cứu khác tại trường đại học Y khoa Vinh cho kết
quả có 41% sinh viên điều dưỡng báo cáo sau chấn thương,trong đó 31% báo cáo
đúng người có trách nhiệm, lý do chính SV không báo cáo bởi vì nhận thấy không
có nguy cơ lây bệnh, và báo cáo cũng không giải quyết được vấn đề gì [11].
Người bị chấn thương có thể bị lây nhiễm các tác nhân gây bệnh truyền
nhiễm qua đường máu nguy hiểm như HIV, HBV, HCV, đây là các nhóm bệnh nguy
hiểm hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Trường Đại học Y khoa Vinh năm
2014 có 2 sinh viên điều dưỡng bị kim tiêm cho bệnh nhân AIDS đâm vào tay phải
điều trị PEP [46]. Cho đến nay, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về vấn đề kiến
thức, thái độ về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền trên


15

sinh viên điều dưỡng. Qua một số nghiên cứu ở đối tượng sinh viên y đa khoa, cao
đẳng và trung cấp điều dưỡng cho thấy thực kiến thức về phòng ngừa và xử lý sau
phoi nhiễm còn rất kém [29] [10] [12] [11].
1.4. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về phòng và xử trí phơi
nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền

nhất với hình thức tự học lý thuyết và đi thực hành lâm sàng bệnh viện 1 tuần. Đã
có nhiều bằng chứng chỉ ra rằng, chương trình đào tạo ảnh hưởng đến kết quả thực
hành dự phòng phơi nhiễm với vật sắc nhọn.
Thiếu tập huấn, đào tạo về phòng ngừa phơi nhiễm nghề nghiệp với các tác
nhân gây bệnh qua đường máu có thể khiến các SV điều dưỡng gặp rủi ro khi họ đi
thực hành lâm sàng tại bệnh viện. Những SV không được đào tạo về phòng ngừa
tổn thương do kim tiêm và vật sắc nhọn có nguy cơ bị tổn thương cao gấp 3 lần so
với SV được đào tạo [25].
Chương trình đào tạo về phòng lây nhiễm có liên quan đến việc có xử trí
đúng sau khi bị chấn thương. Tỷ lệ 1/3 sinh viên còn chưa được tập huấn về phòng
lây nhiễm khi thự tập lâm sàng; những SV được tập huấn thực hiện sơ cứu nhiều
hơn so với sinh viên chưa được tập huấn [29].
Do vậy, SV cần được đào tạo cẩn thận và nghiêm túc về phòng ngừa và xử trí
tổn thương do kim tiêm và vật săc nhọn để làm giảm nguy cơ tổn thương và tăng
cường báo cáo phơi nhiễm giúp giảm nguy cơ lây nhiễm các bệnh qua đường máu
[20] , [32].
1.4.4. Yêu nghề điều dưỡng
Sự yêu nghề là yếu tố có mối liên quan đến kiến thức đạt của sinh viên. Theo
Đoàn Thị Vân, những sinh viên khi được hỏi trả lời là không yêu nghề điều dưỡng thì
có kiến thức chưa đạt về phân loại chất thải y tế gấp 6,4 lần sinh viên yêu nghề [31].
1.4.5. Tâm lý của sinh viên
Tâm lý của sinh viên liên quan đến khả năng bị tổn thương do vật sắc nhọn
và cách xử trí sau phơi nhiễm để làm giảm nguy cơ lây nhiễm các bệnh qua đường
máu. SV lo lắng khi lần đầu tiên đi thực hiện thủ thuật có thể dẫn đến tổn thương


17

[19], [33]. Mức độ lo lắng trung bình 4,72 (SD=2,31) khi tiếp xúc với bệnh nhân
chung nhưng tăng lên 7,09 (SD=2,58) khi tiếp xúc với bệnh nhân có tác nhân gây


- Sinh viên tự nguyện tham gia
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Sinh viên cao đẳng điều dưỡng năm 2 chưa học xong môn học: Điều dưỡng
cơ sở; Điều dường và kiểm soát nhiễm khuẩn
- Sinh viên không có mặt tại trường trong thời gian nghiên cứu hoặc sinh
viên không muốn tham gia nghiên cứu
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu tiến hành tại trường Cao đẳng Y tế Hà Nội
2.2.2. Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01 /2018 đến tháng 04 /2019.
Trong đó:
-

Thời gian viết đề cương nghiên cứu từ tháng 01 /2018 đến tháng 5 /2018
Thời gian thu thập số liệu được tiến hành từ tháng 8 đến tháng 9 năm 2018.
Thời gian viết báo cáo và xử lý số liệu từ tháng 10 năm 2018 đến tháng 4 năm 2019.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:
- Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu nghiên cho nghiên cứu cắt ngang
cứu tỷ lệ: P =58%

+ P: tỷ lệ ước tính ( tỷ lệ sinh viên có kiến thức tốt về phòng và xử trí với vật
sắc nhọn là 58% [10].
+ d: độ chính xác tuyệt đối mong muốn (d=5%)
Z: Z score tương ứng với mức có ý nghĩ thống kê mong muốn (mức ý nghĩa
thống kê mong muốn là 95%: Z=1,96)
Tính đến thời điểm tiến hành nghiên cứu (8/2018) trường Cao đẳng y tế Hà

tác giả Trần Thị Bích Hải năm 2015 và bộ câu hỏi về kiến thức phòng ngừa tổn
thương do vật sắc nhọn của Seham A năm 2015. Các nội dung bao gồm: kiến thức
về phòng và xử lí phơi nhiễm với vật sắc nhọn [12], [20], [37].


20

Các phần còn lại trong bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên nội dung của
quyết định số: 3671/QĐ - BYT ngày 27/9/2012 của Bộ Y tế về “Hướng dẫn tiêm an
toàn trong các cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh” [14] và quyết định số 5771/BYTK2ĐT ngày 30/08/2012 của Bộ Y tế về “Tài liệu đào tạo phòng và kiểm soát nhiễm
khuẩn” [17].
Qúa trình sinh dựng, hoàn thiện bộ câu hỏi gồm các bước:
+
+
+
+
+
+

Tham khảo tài liệu
Xây dựng bộ câu hỏi
Xin ý kiến chuyên gia
Thử nghiệm bộ câu hỏi trên bệnh nhân
Chỉnh sửa bộ câu hỏi
Thu thập trên sinh viên
Bộ câu hỏi được sự góp ý của: 1 Tiến sỹ chuyên về Hồi sức cấp cứu, là giảng
viên khoa Điều dưỡng- Hộ sinh, trường Đại học Y Hà Nội. Bộ câu hỏi còn nhận
được sự đóng góp ý kiến của 3 Thạc sỹ: 1 Thạc sỹ chuyên về kiểm soát nhiễm
khuẩn, phụ trách kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện Đại học Y Hà Nội, 1 Thạc sỹ là
trưởng khoa kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện Ung Bướu Hà Nội, 1 Thạc sỹ là


 Hình thức mong muốn đào tạo liên quan đến phơi nhiễm do vất sắc nhọn
 Đã tiêm phòng vắc- xin viêm gan B chưa
 Lý do chưa tiêm vắc - xin viêm gan B

b. Các nội dung liên quan đến phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn
trong tiêm truyền






Kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường máu liên quan tới vật sắc nhọn: 3 câu
Kiến thức về thời điểm nhân viên y tế có thể bị phơi nhiễm: 5 câu
Kiến thức về biện pháp phòng ngừa phơi nhiễm: 13 câu
Kiến thức về xử trí phơi nhiễm: 16 câu
Thái độ về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong : 9 câu
2.4.2. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
Công cụ thu thập số liệu: bộ câu hỏi tự điền
Phương pháp thu thập số liệu: thiết kế sắn bộ câu hỏi tự điền, phát cho mỗi đối
tượng nghiên cứu 1 bộ câu hỏi tự điền để thu thập số liệu
Đối tượng nghiên cứu đã được lập danh sách với đầy đủ họ tên, ngày tháng năm sinh
và lớp được mời họp, thông báo, giải thích cụ thể, rõ ràng và giải đáp tất cả các thắc
mắc về nghiên cứu, quyền lợi và trách nhiệm khi tham gia vào nghiên cứu, sau đó
được lấy ý kiến có đồng ý tham gia nghiên cứu. Sinh viên nào không đồng ý tham gia
nghiên cứu thì cảm ơn, chào ra về. Còn những sinh viên đồng ý tham gia nghiên cứu
được chia ngẫu nhiên vào 5 giảng đường, mỗi bàn 2 sinh viên ngồi, và được phát
phiếu nghiên cứu tự điền. Mỗi giảng đường có 01 điều tra viên hướng dẫn cách điền
phiếu nghiên cứu, hỗ trợ và giải đáp thắc mắc cho sinh viên.

kiến thức, thái độ
2.6. Các tính và cho điểm kiến thức, thái độ ( phụ lục 2)
Phần kiến thức có các câu hỏi từ C12 đến C49 bao gồm cả những câu có
nhiều lựa chọn và trừ câu 38 không tính điểm (vì thể hiện quan điểm của người trả
lời). Nên mỗi ý trả lời đúng được 1). Dựa vào phần trả lời của các câu hỏi trong
phiếu điều tra của ĐTNC, theo thang điểm để tính điểm và đánh giá có kiến thức
đúng hay không đúng được đánh giá cho từng phần. Nếu trả lời đúng trên 3/4 các ý
đúng được coi là kiến thức đúng cụ thể như sau:


23

 Kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường máu liên quan tới vật sắc nhọn: 3 câu

có tổng điểm là 8 điểm. Kiến thức đúng khi trả lời đúng ≥ 6 điểm, kiến thức chưa
đúng < 6 điểm
 Kiến thức về thời điểm nhân viên y tế có thể bị phơi nhiễm: 5 câu có tổng điểm là 5

điểm. Kiến thức đúng khi trả lời đúng ≥ 4 điểm, kiến thức chưa đúng < 4 điểm.
 Kiến thức về biện pháp phòng ngừa phơi nhiễm: 13 câu có tổng điểm là 27 điểm.
Kiến thức đúng khi trả lời đúng ≥ 20 điểm, kiến thức chưa đúng < 20 điểm
 Kiến thức về xử trí phơi nhiễm: 16 câu có tổng điểm là 22 điểm. Kiến thức đúng khi

trả lời đúng ≥ 16 điểm, kiến thức chưa đúng < 16 điểm
Điểm tối đa cho phần đánh giá kiến thức chung là: 61 điểm. Nếu trả lời đúng trên
3/4 các ý đúng được coi là kiến thức đúng. Điểm kiến thức chung đúng 46 ≥ điểm;
Điểm kiến thức chung chưa đúng < 46 điểm [10], [11].
Nghiên cứu đo lường thái độ của sinh viên về phòng và xử trí phơi nhiễm với
vật sắc nhọn trong tiêm truyền bằng 10 câu hỏi từ C50 đến C58 trong phiếu điều tra.
Nhằm hạn chế những sai lệch do sự đồng ý hoặc phản đối được trả lời theo dây


-

kết thúc tiết học trong ngày
Các thông tin cá nhân được đảm bảo giữ bí mật.
Nghiên cứu chỉ nhằm mục đích xác định kiến thức, thái độ của sinh viên về phòng
và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm tiêm truyền nhằm mục đích đưa ra
những giải pháp nhằm nâng cao kiến thức, thái độ của sinh viên về vấn đề này trước

-

và trong quá trình đi lâm sàng bệnh viện.
Kết quả nghiên cứu sẽ không ảnh hưởng tới bất kỳ một kết quả xếp loại hoặc học
tập nào của đối tượng tham gia nghiên cứu
2.8. Sai số và cách khắc phục




Các sai số trong nghiên cứu này có thể là sai số hệ thống
Các sai số hệ thống có thể gặp trong nghiên cứu này là sai số thông tin, sai số trong

-

quá trình thiết kế và thu thập thông tin gồm:
Sai số nhớ lại: vì nghiên cứu có hỏi một số thông tin trong quá khứ.
Sai số chọn mẫu ít xảy ra do trong nghiên cứu chúng tôi sử dụng chọn mẫu toàn bộ

với cỡ mẫu đủ lớn để phát hiện vấn đề của nghiên cứu.
• Một số biện pháp khắc phục sai số:

Bảng 3.1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (N=)
Thông tin chung
Giới
Năm học
Có yêu nghề không

Phân loại

Số lượng (N)

Tỷ lệ %

Nam
Nữ
Thứ Năm thứ 2
Thứ Năm thứ 3

Không

Nhận xét:
Bảng 3.2. Một số thông tin liên quan đến việc học tập về phòng và xử trí phơi
nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền
Thông tin
Thời gian gần đây học, đọc tài
liệucó liên quan đếnvề phòng
và xử trí phơi nhiễm với tổn
thương do vật sắc nhọn
Được hướng dẫn học, đọc
những kiến thức về phòng
ngừa




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status