NGHIÊN cứu HÀNH VI CHUYÊN NGHIỆP của SINH VIÊN điều DƯỠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG y tế hà ĐÔNG và một số yếu tố LIÊN QUAN năm 2019 - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

TRẦN THỊ HƯƠNG

nghiªn cøu hµnh vi chuyªn nghiÖp cña sinh
viªn
®iÒu dìng trêng cao ®¼ng y tÕ hµ ®«ng
vµ mét sè yÕu tè liªn quan n¨m 2019

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

HÀ NỘI - 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ


TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

TRẦN THỊ HƯƠNG

nghiªn cøu hµnh vi chuyªn nghiÖp cña sinh
viªn
®iÒu dìng trêng cao ®¼ng y tÕ hµ ®«ng vµ
mét sè yÕu tè liªn quan n¨m 2019
Chuyên ngành: Điều dưỡng
Mã số : 60720501

2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ..........................................................................21
2.3. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................22
2.4. Công cụ và kỹ thuật thu thập số liệu........................................................24
2.4.1. Công cụ thu thập số liệu..................................................................24
2.4.2. Kỹ thuật thu thập số liệu.................................................................25
2.4.3. Quản lý, xử lý và phân tích số liệu.................................................26


2.4.4. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu...................................................27
2.5. Sai số và cách khắc phục..................................................................27
2.5.1. Sai số...............................................................................................27
2.5.2. Biện pháp khắc phục sai số.............................................................28
CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ.............................................................29
3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu.................................................29
3.2. Hành vi chuyên nghiệp của sinh viên...............................................31
3.3. Một số yếu tố liên quan đến hành vi chuyên nghiệp........................31
CHƯƠNG 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN..........................................................33
4.1. Mức độ hành vi chuyên nghiệp của sinh viên..................................33
4.2. Một số yếu tố liên quan đến hành vi chuyên nghiệp của sinh viên..33
4.3. Một số hạn chế của nghiên cứu........................................................33
DỰ KIẾN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.............................................34
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CĐYT

Cao đẳng Y tế




DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu học...........................................................................29
Bảng 3.2: Đặc điểm về nhận thức nghề nghiệp..........................................................30
Bảng 3.3: Điểm trung bình hành vi chuyên nghiệp....................................................31
Bảng 3.4: Mối liên quan giữa hành vi chuyên nghiệp với đặc điểm nhân khẩu học....31
Bảng 3.5: Mối liên quan giữa hành vi chuyên nghiệp với đặc điểm nhận thức nghề nghiệp. 32


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Chuyên nghiệp là một khái niệm cơ bản trong điều dưỡng và phát sinh từ
nơi làm việc cá nhân, từ sự tương tác và mối quan hệ giữa các cá nhân [1].
Điều dưỡng là thành viên quan trọng của đội ngũ y tế, chịu trách nhiệm quan
trọng trong việc đưa ra các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Tính chuyên nghiệp
trong nghề điều dưỡng có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp một dịch
vụ chăm sóc chất lượng và phát triển các tiêu chuẩn cho ngành nghề [2].
Người điều dưỡng chứng minh tính chuyên nghiệp bằng kiến thức, thái độ và
hành vi, phản ánh cách tiếp cận đa diện đối với các quy định, nguyên tắc và
tiêu chuẩn làm cơ sở thực hành lâm sàng thành công [3].
Tại Việt Nam, theo báo cáo của Trần Thụy Khánh Linh Trường Đại học Y
dược Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay cả nước có 196 cơ sở đào tạo đang đào
tạo ngành điều dưỡng. Điều dưỡng là ngành mũi nhọn trong hệ thống chăm
sóc sức khỏe y tế. Trong khi 75% điều dưỡng đang làm việc tại các cơ sở y tế
hiện nay mới chỉ có trình độ trung cấp. Theo quy định của Bộ Y tế, đến năm
2025 sẽ không còn điều dưỡng có trình độ trung cấp, vì vậy nhu cầu giảng
viên đào tạo cử nhân điều dưỡng rất lớn. Muốn đào tạo cử nhân điều dưỡng
phải có giảng viên trình độ thạc sĩ, và muốn đào tạo thạc sĩ phải có giảng viên

và một số yếu tố liên quan năm 2019” được tiến hành với các mục tiêu cụ
thể như sau:
1. Mô tả mức độ hành vi chuyên nghiệp của sinh viên Điều dưỡng trường
CĐYT Hà Đông năm 2019.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến hành vi chuyên nghiệp của sinh
viên Điều dưỡng trường CĐYT Hà Đông năm 2019.


3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái niệm cơ bản
1.1.1. Chuyên nghiệp
Theo từ điển Việt Nam (Viện Ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng, 2006) về
mặt tính từ, chuyên nghiệp nghĩa là: chuyên là một nghề, lấy một việc, một
hoạt động nào đó làm nghề chuyên môn; phân biệt với nghiệp dư.
Từ gốc của chuyên nghiệp hoặc tính chuyên nghiệp đến từ nghề nghiệp.
Nghề nghiệp thường được định nghĩa là bất kỳ loại công việc nào cần một kỹ
năng đặc biệt, thường là một công việc được tôn trọng vì nó liên quan đến
trình độ học vấn và kỹ năng cao.
Chuyên nghiệp được định nghĩa là liên quan đến công việc bạn làm như
một nghề nghiệp. Nó thường được sử dụng để có nghĩa là có những phẩm
chất kết nối với những người có kỹ năng và được đào tạo, chẳng hạn như hiệu
quả, kỹ năng, tổ chức và nghiêm túc trong cách cư xử. Nó cũng được dùng để
chỉ người có loại công việc được tôn trọng bởi vì nó liên quan đến trình độ
học vấn và kỹ năng cao [6].
Thuật ngữ “ chuyên nghiệp” dùng để chỉ hành vi, phẩm chất và mục tiêu
đặc trưng cho một nghề nghiệp và thường mô tả các hành vi được mong đợi
của các thành viên của nghề nghiệp [3].



5

động hoặc phản ứng của ai đó hoặc cố ý hoặc vô ý đối với những thay đổi của
môi trường hoặc điều kiện hoặc tình huống phản ánh các phẩm chất liên quan
đến trách nhiệm của người đó.
Hành vi chuyên nghiệp là một lĩnh vực của tính chuyên nghiệp và nó
phản ánh tính chuyên nghiệp. Các yếu tố của tính chuyên nghiệp và đặc điểm
của hành vi chuyên nghiệp được kết nối và tương quan với nhau [6].
* Phân loại hành vi chuyên nghiệp:
- Hành vi chuyên nghiệp đối với người bệnh.
- Hành vi chuyên nghiệp đối với các chuyên gia khác.
- Hành vi chuyên nghiệp đối với công chúng.
- Hành vi chuyên nghiệp đối với bản thân [6], [9].
* Các lĩnh vực của hành vi chuyên nghiệp:
- Trách nhiệm
- Mối quan hệ và tôn trọng người bệnh
- Thẳng thắn và trung thực
- Tự nhận thức và năng lực phản ánh
- Hợp tác và làm việc nhóm [10]
* Các phương pháp đánh giá hành vi chuyên nghiệp sinh viên điều dưỡng.
- Tự đánh giá


6

- Đánh giá ngang hàng của sinh viên
- Đánh giá từ các người bệnh, người nhà người bệnh, điều dưỡng,
giảng viên, người cung cấp thông tin phản hồi về hoạt động của người học.

điều dưỡng làm việc tại các bệnh viện trường đại học, nhà nước và tư nhân ở
Thổ Nhĩ Kỳ: kết quả từ BIPN cho thấy số điểm trung bình của các điều dưỡng
là thấp; điểm số trung bình của sự hài lòng công việc là ở mức trung bình;
mối quan hệ giữa sự hài lòng về công việc và tính chuyên nghiệp đã được tìm
thấy là có ý nghĩa thống kê và theo hướng tích cực. Sự hài lòng công việc của
các điều dưỡng làm việc tại các bệnh viện tư nhân và bệnh viện trường đại
học là cao hơn so với những người làm việc tại các bệnh viện khác[8].
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, Emine Geckil (năm 2012) đã tìm hiểu trên 385 người
tham gia bao gồm sinh viên điều dưỡng và điều dưỡng lâm sàng nhằm đánh
giá độ tin cậy và tính hợp lệ của Thang đo giá trị chuyên nghiệp điều dưỡng


10

sửa đổi (NPVS-R - Revised Nursing Professional Values Scale). Bộ công cụ
NPVS-R là một công cụ năm lĩnh vực (chăm sóc, lòng tin, sự công bằng, hoạt
động và tính chuyên nghiệp) bao gồm 26 câu được sử dụng để đo lường mức
độ giá trị chuyên nghiệp của các sinh viên điều dưỡng. Kết quả phiên bản
NPVS-R của Thổ Nhĩ Kỳ có hiệu lực và độ tin cậy cao (giá trị Chronbach
alpha = 0,92). Từ kết quả nghiên cứu cho thấy: Hầu hết đối tượng tham gia
nghiên cứu là nữ ( 90,1%) và sinh viên năm cuối ( 85,2%) và nữ có số điểm
cao hơn ( t= 2,904, p
độ chuyên nghiệp của sinh viên điều dưỡng (Inventory to Measure
Professional Attitudes in Student Nurses - IPASN). Kết quả cho thấy: điểm
trung bình của IPASN là 4,1 ± 0,5 và các vùng điểm trung bình cao nhất là đối
với quyền tự chủ, năng lực và giáo dục thường xuyên trong khi những điểm
thấp nhất là hợp tác, đóng góp vào tri thức khoa học và tham gia vào các tổ
chức chuyên nghiệp. Trong nghiên cứu này 87,3% sinh viên tham gia nghiên
cứu là nữ, 70% hài lòng với lựa chọn nghề điều dưỡng và 44,1% họ cho biết
sẽ chọn nghề điều dưỡng một lần nữa; tổng số điểm của sinh viên nữ (114 ±
14,4) cao hơn so với nam giới (105,1 ± 16,4); điểm số IPASN trung bình cao
nhất trong nhóm người đã hài lòng với sự lựa chọn nghề điều dưỡng


12

(116,1±14,0), tham gia vào các hoạt động chuyên nghiệp (115 ± 14,6), tham
gia vào các hoạt động cộng đồng (118,1 ± 13,8), và sẽ chọn nghề điều dưỡng
một lần nữa(116,6 ± 14,6). Sự khác biệt giữa các nhóm đã được tìm thấy có ý
nghĩa về mặt thống kê ( P < 0,05) [3].
Sandra L. Chisholm-Ford và cộng sự (năm 2016) nghiên cứu về giá trị
chuyên nghiệp của sinh viên điều dưỡng ở Jamaica được tiến hành trên 102
sinh viên năm thứ 3 sử dụng thang đo giá trị chuyên nghiệp sửa đổi NPV-R.
Kết quả cho thấy điểm trung bình NPV-R là cao (4,40 ± 0,51), niềm tin ghi
điểm cao nhất (4,62 ± 0,41) và chăm sóc ghi điểm thấp nhất (4,20 ± 0,52), giá
trị của tính chuyên nghiệp tăng theo tuổi tác ( sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê với p=0.03) [25].
Batool Poorchangizi và cộng sự (năm 2017) chỉ ra tầm quan trọng của
giá trị chuyên nghiệp từ quan điểm của điều dưỡng lâm sàng tại các bệnh viện
của một trường đại học y tế ở Iran. Nghiên cứu được tiến hành trên 250 điều
dưỡng lâm sàng của 4 bệnh viện với bộ công cụ NPVS-R, kết quả cho thấy:
90% đối tượng tham gia là nữ, tổng trung bình điểm số về tầm quan trọng của

nghiệp của họ, 60,9% chọn nghề nghiệp của họ tự nguyện, 67,5% không
muốn thay đổi nghề nghiệp của họ và 9,5% trong số họ là thành viên của các
hiệp hội chuyên nghiệp. Cũng trong kết quả của nghiên cứu này cho thấy tổng
điểm trung bình của NSPBS là 119,37 ± 14,55 và điểm trung vị được tìm thấy
là 122,0; điểm trung bình của các lĩnh vực chuyên nghiệp của điều dưỡng
(NSPBS) gồm thực hành chăm sóc sức khỏe, thực tiễn hoạt động và báo cáo
được xác định lần lượt là 81,06 ± 9,85; 30,14 ± 4,28; 8,17 ± 1,96 và điểm
trung vị được tìm thấy lần lượt là 84,0; 31,0 và 8,0. Điểm số trung bình
NSPBS được tìm thấy là cao hơn trong những sinh viện chọn nghề nghiệp của


14

họ tự nguyện, sinh viên yêu nghề nghiệp của họ, những sinh viên không muốn
thay đổi nghề nghiệp của họ. Tổng số điểm trung bình của NSPBS không có
sự khác biệt tùy thuộc vào độ tuổi, giới tính, năm theo học, tình trạng hôn
nhân, nghề nghiệp và trình độ học vấn của bố mẹ, nơi ở của gia đình, là một
thành viên của hiệp hội chuyên nghiệp. Nghiên cứu đã đưa ra kết luận khả
năng thực hiện hành vi chuyên nghiệp của các sinh viên điều dưỡng được tìm
thấy trong nghiên cứu là cao [2].
1.3.2. Tại Việt Nam
Trong các nghiên cứu của ngành điều dưỡng hiện nay chưa có nghiên
cứu nào đánh giá toàn diện các lĩnh vực của hành vi chuyên nghiệp. Tuy
nhiên có một số nghiên cứu đánh giá về các yếu tố liên quan tới hành vi
chuyên nghiệp góp phần làm nền tảng khi chúng tôi phân tích đánh giá hành
vi chuyên nghiệp và có cái nhìn tổng quát hơn khi nghiên cứu hành vi
chuyên nghiệp.
Nghiên cứu của Mai Thị Thu Hằng (năm 2007) về hứng thú nghề điều
dưỡng của sinh viên Đại Học điều dưỡng Nam Định được thực hiện trên 250
sinh viên hệ cao đẳng và đại học cho kết quả: Phần lớn sinh viên Trường Đại

đắn về mục đích học tập; so với kết quả biểu hiện hứng thú học tập qua nhận
thức, biểu hiện ở mặt thái độ của sinh viên đối với các môn học chưa tích cực,
chỉ “thích thú, say mê một số môn học” và vẫn còn một bộ phận sinh viên có
thái độ tiêu cực là “không thích môn học nào cả”; biểu hiện hứng thú học tập
qua hành vi thấp, chưa chủ động sáng tạo trong khi học tập ngoài lớp; hành vi
học tập trên lớp đạt mức khá, hành vi học tập ngoài lớp bắt buộc đạt mức
trung bình, hành vi học tập ngoài lớp không bắt buộc thể hiện hứng thú học
tập phát triển cao và bền vững, chỉ đạt mức thấp. Hứng thú học tập của sinh
viên chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan và khách quan khác nhau (Trong


16

đó những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tích đến hứng thú học tập của sinh viên là
từ phía giảng viên; bản thân sinh viên ít hiểu biết về ngành nghề đang theo
học; chưa hiểu vị trí, vai trò, tầm quan trọng của các bộ môn trong chương
trình học; chưa có phương pháp học tập hợp lý; sách, giáo trình, tài liệu tham
khảo ở thư viện chưa nhiều; trang thiết bị dạy học, phòng thực hành, thí
nghiệm còn thiếu) và yếu tố có tỉ lệ lựa chọn cao nhất là ít hiểu biết về ngành
nghề đang theo học [29].
1.4. Học thuyết nghiên cứu và ứng dụng
Tiến sĩ Patricia Benner là một nhà lý luận điều dưỡng, người đầu tiên
phát triển mô hình cho các giai đoạn của năng lực lâm sàng trong cuốn sách
kinh điển “ Từ người mới đến chuyên gia: sự xuất sắc và sức mạnh trong thực
hành điều dưỡng lâm sàng”. Mô hình của cô là một trong những khuôn khổ
hữu ích nhất để đánh giá nhu cầu của các điều dưỡng ở gia đoạn phát triển
chuyên nghiệp khác nhau. Cô là Giám đốc phát triển Khoa Giáo dục điều
dưỡng, Giám đốc Quỹ Carnegie vì sự tiến bộ của Giáo dục điều dưỡng và là
thành viên danh dự của Đại học Điều dưỡng Hoàng Gia.
Lý thuyết điều dưỡng này đề xuất rằng các Điều dưỡng chuyên gia phat

là rất hạn chế và không linh hoạt. Người mới có khả năng rất hạn chế để dự
đoán những gì có thể xảy ra trong một tình huống người bệnh cụ thể. Các dấu
hiệu và triệu chứng, chẳng hạn như thay đổi trạng thái tâm thần, chỉ có thể
được nhận ra khi một điều dưỡng mới làm quen có kinh nghiệm với các người
bệnh có triệu chứng tương tự.
Giai đoạn 2: Người mới bắt đầu (Beginner). Đó là sinh viên mới tốt
nghiệp trong công việc đầu tiên của họ, các điều dưỡng đã có kinh nghiệm


18

hơn cho phép họ nhận ra các thành phần có ý nghĩa thường xuyên của tình
huống. Họ có kiến thức và bí quyết nhưng không đủ kinh nghiệm chuyên sâu.
Giai đoạn 3: Năng lực (Competent). Những điều dưỡng này thiếu tốc độ
và sự linh hoạt các các điều dưỡng thành thạo, nhưng họ có một số thành thạo
và có thể dựa vào kế hoạch trước và các kỹ năng tổ chức. Các điều dưỡng có
năng lực nhận ra các mô hình và bản chất của các tình huống lâm sàng nhanh
chóng và chính xác hơn so với những người mới bắt đầu nâng cao.
Giai đoạn 4: Thành thạo (Proficient). Ở cấp độ này, các điều dưỡng có
khả năng xem các tình huống là “toàn bộ” chứ không phải là các bộ phận. Các
điều dưỡng thành thạo học hỏi kinh nghiệm từ những sự kiện thường xảy ra
và có thể sửa đổi kế hoạch để đáp ứng với các sự kiện khác nhau.
Giai đoạn 5: Chuyên gia (Expert). Các điều dưỡng có khả năng nhận ra
nhu cầu và nguồn lực trong các tình huống và đạt được mục tiêu của họ.
Những điều dưỡng biết những gì cần phải được thực hiện. Họ không còn chỉ
dựa vào các nguyên tắc để hướng dẫn hành động của mình trong nhừng tình
huống nhất định. Họ có một nắm bắt trực quan về tình huống dựa trên kiến
thức và kinh nghiệm sâu của họ. Tập trung vào các vấn đề có liên quan nhất
định và không liên quan. Các công cụ phân tích chỉ được sử dụng khi chúng
không có kinh nghiệm với một sự kiện hoặc khi các sự kiện không xảy ra như

mong đợi sự gia tăng các giá trị điều dưỡng chuyên nghiệp với từng cấp độ
của giáo dục đại học bởi vì theo lý thuyết, việc chuyển đổi các giá trị điều
dưỡng chuyên nghiệp được hỗ trợ đáng kể theo thời gian và kinh nghiệm
trong giáo dục điều dưỡng [31].
Như vậy, chúng ta có thể ứng dụng mô hình từ người mới đến chuyên



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status