Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGap trong sản xuất rau của nông hộ tại hai địa phương Quảng Nam và Đà Nẵng - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG


LƯƠNG TÌNH

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG TIÊU CHUẨN VIETGAP
TRONG SẢN XUẤT RAU CỦA NÔNG HỘ TẠI
HAI ĐỊA PHƯƠNG QUẢNG NAM VÀ ĐÀ NẴNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

ĐÀ NẴNG – 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG


LƯƠNG TÌNH

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG TIÊU CHUẨN VIETGAP
TRONG SẢN XUẤT RAU CỦA NÔNG HỘ TẠI
HAI ĐỊA PHƯƠNG QUẢNG NAM VÀ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã Số: 62.31.01.05

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ..................................................................... 3
3. Mục tiêu nghiên cứu ....................................................................................... 6
4. Câu hỏi nghiên cứu ......................................................................................... 6
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................. 7
6. Phương pháp nghiên cứu: ............................................................................... 8
7. Những đóng góp mới của luận án ................................................................... 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG ĐỔI MỚI
CÔNG NGHỆ TRONG NÔNG NGHIỆP CỦA NÔNG HỘ .............................. 11
1.1. Một số khái niệm liên quan ........................................................................ 11
1.1.1. Công nghệ .......................................................................................... 11
1.1.2. Đổi mới công nghệ ............................................................................ 11
1.1.3. VietGAP ............................................................................................. 13
1.1.4. Nông hộ ............................................................................................. 14
1.1.5. Nông dân ........................................................................................... 15
1.1.6. Quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP .......................................... 15
1.1.7. Vai trò của sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGAP ........................... 16
1.2. Các lý thuyết nền tảng cho nghiên cứu quyết định áp dụng đổi mới
công nghệ trong nông nghiệp của nông dân ..................................................... 17
1.2.1. Thuyết lợi ích kỳ vọng (Expected Utility Theory - EUT) ................. 17
1.2.2. Thuyết hành động hợp lý ( Theory of Reasoned Aciton - TRA) ...... 18


iii

1.2.3. Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior - TPB) ......... 19
1.2.4. Thuyết khuếch tán đổi mới (Innovation Diffusion theorey IDT) 21
1.3. Khung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng đổi
mới công nghệ trong nông nghiệp của nông dân .............................................. 23
1.4. Mô hình đề xuất nghiên cứu....................................................................... 35
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ............................................................ 40

3.2.2.6. Bàn luận kết quả hồi quy ......................................................... 107
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH ................................................ 112
4.1. Một số hàm ý đối với các hộ nông dân .................................................... 112
4.2. Một số chính sách đối với các cơ quan hữu quan ................................... 113
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ASEAN

: Association of South East Asian Nations

CFA

: Confirmatory Factor Analysis

EUT

:

Expected Utility Theory

EFA

: Exploratory Factor Analysis

Bảng 3.1. Cronbach’s Alpha của các khái niệm nghiên cứu .................................... 90
Bảng 3.2. Kết quả phân tích EFA các thang đo các khái niệm nghiên cứu .............. 95
Bảng 3.3. Kết quả kiểm định độ tin cậy của các thang đo ........................................ 99
Bảng 3.4 Kết quả kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các khái niệm trong
mô hình lý thuyết chính thức .................................................................. 100
Bảng 3.5. Kết quả kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các khái niệm trong
mô hình lý thuyết chính thức (sau khi đã loại biến DM)........................ 102
Bảng 3.6. Kết quả ước lượng bootstrap so với ước lượng ML ............................... 103
Bảng 3.7. Kiểm định giả thuyết phụ về sự khác biệt theo địa điểm ....................... 104
Bảng 3.8. Kiểm định giả thuyết phụ về sự khác biệt theo giới tính ........................ 105
Bảng 3.9. Kiểm định giả thuyết phụ về sự khác biệt theo tuổi ............................... 107


vii

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1. Mô hình lý thuyết hành động hợp lý (TRA) .........................................................19
Hình 1.2. Mô hình thuyết hành vi dự định (TPB) .................................................................21
Hình 1.3. Mô hình tuyến tính thể hiện sự khuếch tán ...........................................................22
Hình 1.4. Mô hình phi tuyến về sự lĩnh hội các sáng kiến trong nông nghiệp ............................22
Hình 1.5. Mô hình đề xuất nghiên cứu .................................................................................38
Hình 2.1. Dụng cụ sản xuất của hộ dân ở Hưng Mỹ ............................................................41
Hình 2.2. Máy cày của hộ dân ở vùng rau La Hường ...........................................................42
Hình 2.3: Quy trình nghiên cứu ............................................................................................50
Hình 2.4. Mô hình đề xuất nghiên cứu .................................................................................51
Hình 2.5: Nhập dữ liệu bên trong (phỏng vấn) vào dự án Nvivo 8.0 ...................................57
Hình 2.6: Nhập dữ liệu bên ngoài vào dự án Nvivo 8.0 .......................................................58
Hình 2.7: Đặt tên cho các nodes ...........................................................................................59
Hình 2.8: Truy vấn dữ liệu....................................................................................................60

(2004) cho rằng những mô hình kinh tế là chưa đủ để giải thích được toàn bộ sự
phức tạp trong các quyết định của người nông dân, vốn thường bị chi phối bởi cả
hai mục tiêu kinh tế và phi kinh tế. Chính vì thế, hầu hết các mô hình lý thuyết và
thực nghiệm lâu nay có khuynh hướng trình bày lí giải các quyết định áp dụng đổi
mới công nghệ qua cách nhìn của riêng một ngành nào đó kể trên (Pannell và cộng
sự, 2006). Vì vậy, việc nghiên cứu để nhằm kiểm chứng các lý thuyết về quyết định
áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp của nông dân cho một nước nông
nghiệp đang phát triển như Việt Nam là một chủ đề mang tính cấp thiết.


2

Rau là một thành phần không thể thiếu trong bữa ăn gia đình và rau an toàn
đang là một nhu cầu bức thiết hiện nay. Để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng
năm 2006, ASEAN đã công bố quy trình GAP cho các nước thành viên. Quy trình
VietGAP được bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng Bộ Khoa học và
Công nghệ ban hành theo quyết định số 379/QĐ-BNN-KHCN ngày 28 tháng 01
năm 2008 là một công nghệ trong nông nghiệp gồm các quy tắc, phương pháp, quy
trình thực hành nông nghiệp tốt cho rau, quả. Mặc dù, mới được triển khai áp dụng
quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP nhưng ở một số địa phương như Tiền
Giang, Long An, Bà Rịa Vũng Tàu, Binh Thuận, Thừa Thiên Huế bước đầu đã
mang lại hiệu quả kinh tế cao (Hà và Phụng, 2017). Trong đó hai địa phương Quảng
Nam và Đà Nẵng đã có những động thái đi đầu trong việc triển khai áp dụng quy
trình VietGAP, nhiều quyết định đã được phê duyệt, nhiều chương trình hội thảo
được tổ chức điển hình như: “Diễn đàn đầu tư Quảng Nam hướng tới tăng trưởng
xanh”, được tổ chức tại Hội An tháng 6/2013; Hội Thảo “Tăng trưởng xanh khu vực
miền Trung Tây Nguyên: Thực tiễn và những vấn đề đặt ra”, được tổ chức tại Viện
khọc xã hội vùng Trung Bộ tháng 11/2014. Trên thực tế mô hình VietGAP đã giúp
thay đổi nhận thức của nhiều hộ nông dân về hướng sản xuất sản phẩm sạch, an
toàn đảm bảo sức khỏe cho cả người tiêu dùng và người sản xuất như: sản xuất dưa

Quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp đã nhận được sự
quan tâm của nhiều nhà khoa học từ nhiều chuyên ngành khác nhau cả mặt lý thuyết
lẫn thực nghiệm. Tuy nhiên, chưa có sự thống nhất giữa các nghiên cứu. Nhìn
chung, có thể nhóm các công trình học thuật này theo các hướng sau:
Cách tiếp cận dựa trên thuyết lợi ích kỳ vọng - Expected Utility Theory (EUT)
được khởi xướng bởi Bernoulli (1738) cho rằng nông dân so sánh công nghệ mới
với công nghệ truyền thống và áp dụng nếu độ thỏa dụng kì vọng của công nghệ
mới cao hơn độ thỏa dụng kì vọng của công nghệ truyền thống. Đại diện cho cách
tiếp cận này có các nghiên cứu của Batz và cộng sự (1999), Baidu-Forson (1999),
Ghadim và cộng sự (2005) …Tuy nhiên, các nghiên cứu về việc quyết định áp dụng
đổi mới của nông dân dựa trên thuyết EUT chỉ xem xét tác động bởi việc nhận thức
tối đa hóa lợi ích kì vọng, mà không xem xét vai trò của các yếu tố động cơ, thái độ,
các tiêu chuẩn của cá nhân người nông dân khi quyết định áp dụng đổi mới.


4

Cách tiếp cận dựa trên các thuyết tâm lí xã như thuyết Hành động hợp lý,
hành vi dự định đều cho rằng thái độ, chuẩn mực xã hội, kiểm soát hành vi là các
nhân tố quan trọng trong việc lý giải các quyết định của nông dân. Một số nghiên
cứu điển hình theo trường phái này có: Bergevoet và cộng sự (2004); Läpple, D., và
Kelley (2013); Wauters và Mathij (2013); Bijttebier và cộng sự (2014). Tuy nhiên,
các nghiên cứu sử dụng thuyết hành vi dự định lại không xem xét vai trò của giao
tiếp đến từ bạn bè, truyền hình hay cán bộ khuyến nông. Trong khi đó, các nghiên
cứu sử dụng thuyết khuếch tán đổi mới lại đi sâu tìm hiểu tác động của việc giao
tiếp đối với quyết định áp dụng đổi mới của nông dân, như Makokha và cộng sự
(1999) đã sử dụng thuyết khuếch tán đổi mới của Roger xác nhận rằng các đặc tính
của người nông dân như: mức độ tham gia và hoạt động trong các dịp tranh luận tập
thể, mức độ tham dự tập huấn, giao lưu tại các hội thảo chuyên đề và vai trò của
lãnh đạo có ảnh hưởng nhưng không đáng kể đến nhận thức cũng như quyết định

Thuận (2010), Nguyễn Anh Minh (2018) lại xem VietGAP như một chương trình,
một chính sách để chuyển đổi, phát triển nông nghiệp truyền thống sang nền nông
nghiệp hiện đại mà không phải một công nghệ mới trong nông nghiệp. Chính vì
vậy, các nghiên cứu này chỉ mới dừng lại ở việc đánh giá, phân tích thực trạng từ đó
đề xuất các giải pháp nhằm phát triển rau củ quả theo hướng VietGAP.
Tóm lại, cho đến nay chưa có nghiên cứu học thuật nào đi sâu tiếp cận từ góc
độ động cơ, tâm lý, nhận thức để xem xét quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP
trong sản xuất rau của người nông dân.
Qua tổng quan tình hình nghiên cứu có thể rút ra một số khoảng trống:
Thứ nhất, mặc dù các nghiên cứu trước đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến
quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp như: tiếp xúc với cán bộ
khuyến nông, thái độ, ảnh hưởng xã hội, kiểm soát hành vi. Tuy nhiên, các nghiên
cứu trên chưa xem xét đến các quan sát như: nhận thức rủi ro về thương hiệu, cũng
như nhận thức về sức khỏe của người sản xuất có ảnh hưởng đến quyết định của họ.
Thứ hai, nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định
áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp cho một địa phương hay một quốc
gia đang phát triển như Việt Nam là chưa được thực hiện.
Thứ ba, đa số các nghiên cứu kết hợp giữa phương pháp định tính và định
lượng, tuy nhiên, các nghiên cứu định tính chỉ dừng lại ở việc phỏng vấn chuyên
gia. Vì vậy, luận án này sử dụng phương pháp định tính với bộ công cụ là quan sát


6

và phỏng vấn sâu người nông dân (với phần mềm hỗ trợ Nvivo 8.0) nhằm điều
chỉnh và phát triển các thang đo cho phù hợp với dữ liệu thực tế, đồng thời áp dụng
phương pháp định lượng (SEM) để kiểm định giả thuyết có lẽ là chưa từng có ở các
nghiên cứu trước đây.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở những nền tảng lý luận về quyết định áp dụng đổi mới công nghệ

phương Quảng Nam và Đà Nẵng” tập trung tìm hiểu động cơ, nhận thức, thái độ
của nông dân khi quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong sản xuất rau.
Khách thể nghiên cứu: là các nông hộ đang sản xuất rau theo tiêu chuẩn
VietGAP trên địa bàn tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng. Việc lựa chọn này là
do hiện nay việc sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGAP chủ yếu là các nông hộ, mà
chưa có sự tham gia của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này.
Đối tượng khảo sát: người lao động chính trong hộ sản xuất rau VietGAP.
Phạm vi:
Nội dung: Quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP của nông dân chịu tác
động bởi cả hai nhóm nhân tố khách quan lẫn chủ quan. Tuy nhiên, nghiên cứu này
tiếp cận từ góc độ động cơ, nhận thức, tâm lý của người nông dân. Chính vì vậy,
mà các yếu tố khách quan không được đề cập trong nghiên cứu này.
Không gian: nghiên cứu này chỉ khảo sát tại 6 khu vực sản xuất gồm: Hưng
Mỹ, Lang Châu Bắc, Bàu Tròn tỉnh Quảng Nam; La Hường, Yến Nê, Túy Loan
thuộc thành phố Đà Nẵng, đây là những khu vực có số hộ tham gia sản xuất rau
VietGAP nhiều nhất và có thể đại diện cho cả 2 địa phương trên. Nghiên cứu này
chọn 2 địa phương trên vì một số lý do sau: i) thứ nhất, mặc dù Quảng Nam và Đà
Nẵng là 2 địa phương khác nhau về mặt hành chính kể từ sau ngày 1/1/1997, nhưng
các chính sách về hỗ trợ áp dụng sản xuất rau VietGAP của hai địa phương còn rất
hạn chế để tạo ra sự khác nhau về mức độ tham gia VietGAP của nông hộ. Hơn
nữa, ở đây nghiên cứu tiếp cận từ góc độ tâm lý của người nông dân chịu tác động
từ nhận thức lợi ích, môi trường, quy chuẩn xã hội… Bên cạnh đó, các điều kiện
canh tác, thời tiết, phong tục tập quán sản xuất của 2 địa phương này có những nét
tương đồng. ii) thứ hai, việc lựa chọn 2 địa phương cũng nhằm làm gia tăng kích cỡ
mẫu nghiên cứu, từ đó sử dụng các hàm thống kê cho việc kiểm định phân tích, rút
ra hàm ý. Ngoài ra, nghiên cứu này sử dụng phương pháp đa nhóm để xem xét sự


8




9

cứu này sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện với kích thích mẫu là 320. Đối
tượng được điều tra là lao động nông nghiệp chính trong gia đình ở các làng sản
xuất rau VietGAP như Hưng Mỹ, Lang Châu Bắc, Bàu Tròn, La Hường, Yến Nê,
Túy Loan. Dữ liệu thu thập được làm sạch và tiếp tục thông qua thủ tục: (1) đánh
giá độ tin cậy bằng phân hệ số Cronbach’s alpha; (2) phân tích khám phá nhân tố
EFA); (3) CFA và (4) SEM.
7. Những đóng góp mới của luận án
Sau khi hoàn thiện luận án dự kiến sẽ mang lại những đóng góp về mặt lý
luận cũng như thực tiễn, cụ thể như sau:
Thứ nhất, luận án sẽ góp phần gia tăng bề dày khoa học về tác động của các
nhân tố đến quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong nông nghiệp của nông dân,
khi áp dụng kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính để khai phá dữ liệu bằng
việc phỏng vấn sâu các đối tượng là lao động chính trong sản xuất rau VietGAP với
phương pháp định lượng (SEM) nhằm kiểm định các giả thuyết được đề xuất.
Thứ hai, luận án chọn 2 địa phương Quảng Nam và Đà Nẵng thuộc một nước
nông nghiệp đang phát triển để phân tích sẽ góp phần gia tăng bằng chứng thực
nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng đổi mới công nghệ trong
nông nghiệp của nông dân đã được đúc kết thành những nền tảng lý thuyết vững
chắc.
Thứ ba, nhận thức về rủi ro liên quan đến thương hiệu và nhận thức lợi ích
về sức khỏe người sản xuất có tác động đáng kể trong quyết định áp dụng tiêu
chuẩn VietGAP của nông dân.
Thứ tư, kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo quan trọng giúp cho các
nhà hoạch định chính sách và các nông hộ có cái nhìn sâu rộng hơn về vai trò của
các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong sản xuất
rau của nông dân. Hơn nữa, kết quả của luận án sẽ là tiền đề để khuyến khích hình

Dựa trên các kết quả nghiên cứu từ đó, đề xuất một số hàm ý và chính sách
giúp cho các nhà hoạch định, nhà quản lý và các nông hộ có cái nhìn sâu rộng hơn
về vai trò của các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP
trong sản xuất rau là nội dung duy nhất của chương này.


11

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG ĐỔI MỚI
CÔNG NGHỆ TRONG NÔNG NGHIỆP CỦA NÔNG HỘ
1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1. Công nghệ
Công nghệ là hoạt động thực hành có mục đích, bao gồm tác động qua lại
giữa con người với kiến thức của họ và công cụ, máy móc – gọi là phần cứng
(Wilson và cộng sự, 1997). Trong khi đó, Roger (1983) cho rằng công nghệ là thiết
kế cho hoạt động có sử dụng công cụ sản xuất làm giảm tính không chắc chắn của
quan hệ nhân quả để đạt kết quả mong muốn. Công nghệ gồm hai phần: phần cứng
gồm công cụ trong công nghệ như là vật liệu dụng cụ sản xuất, còn phần mềm là cơ
sở thông tin về công cụ đó. Bên cạnh đó, Đinh Phi Hổ (2003) cũng chỉ ra rằng công
nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ và phương
tiện để biến đổi các nguồn lực thành các sản phẩm hay dịch vụ phục vụ cho sản xuất
và đời sống. Công nghệ được coi là sự kết hợp giữa phần cứng và phần mềm. Phần
cứng là máy móc, nhà xưởng, thiết bị. Phần mềm bao gồm 3 thành phần: con người
(kiến thức, kỹ năng, tay nghề, kinh nghiệm), thông tin (bí quyết, quy trình, phương
pháp) và tổ chức (sắp xếp, điều phối, quản lý).
Ngoài ra, để phân biệt giữa kỹ thuật và công nghệ thì Inglod (2002) xác định
như sau: kỹ thuật liên quan kỹ năng, là khả năng chuyên biệt của từng người; công
nghệ là tập hợp kiến thức khách quan, tổng quát, cho đến mức độ khả năng áp dụng
thực hành, và cũng cần phân biệt chúng với công cụ, là vật dụng dùng để giúp con

cho cây trồng. Chính vì vậy, ngày nay vấn đề đổi mới công nghệ không chỉ nhằm
mục đích tối đa hóa lợi nhuận, tăng trưởng kinh tế mà còn tính đến cả các yếu tố xã
hội, bảo vệ môi trường, an ninh lương thực và những lợi ích về sức khỏe. Để tiến bộ
công nghệ phát huy một cách hiệu quả đối với sản xuất, người sản xuất phải có
nhận thức đầy đủ về vai trò, tác dụng của đổi mới công nghệ mang lại. Muốn vậy
phải nâng cao kiến thức, quy trình công nghệ.
Người nông dân không sẵn lòng áp dụng đổi mới công nghệ được Đinh Phi
Hổ (2003) dẫn từ Wharton C (1971) có 6 nguyên nhân chính như sau:


13

(1) Không biết hoặc không hiểu về kỹ thuật mới: Mặc dù cán bộ khuyến
nông có nỗ lực truyền bá nhưng có một bộ phận nông dân không biết thông tin về
kỹ thuật đó, hoặc nông dân có biết tới kỹ thuật đó thông qua cán bộ khuyến nông
nhưng lại không hiểu vì có thể do phương pháp khuyến nông không thích hợp.
(2) Không có đủ năng lực để thực hiện: mặc dù nông dân đã biết kỹ thuật
mới, tuy nhiên để thực hiện kỹ thuật mới đó nó đòi hỏi kiến thức và kỹ năng mới
nhưng nông dân lại không có những điều kiện này
(3) Không được chấp nhận về mặt tâm lý, văn hóa và xã hội;
(i) Về mặt tâm lý: nông dân đã quen với phương thức sản xuất nông nghiệp
truyền thống, cách tính toán không phải là trên giấy mà bằng kinh nghiệm và suy
nghĩ riêng của họ.
(ii) Về mặt văn hóa – xã hội: Cộng đồng dân cư trên những vùng địa lý khác
nhau có tập quán, tôn giáo khác nhau, nếu kỹ thuật mới không phù hợp với tập quán
– tôn giáo mà họ có thì họ sẽ không chấp nhận ứng dụng kỹ thuật đó.
(4) Không được thích nghi: Kỹ thuật mới chưa được thử nghiệm tại địa
phương mà nông dân cư trú. Một sự hồ nghi sẽ xuất hiện vì không biết điều kiện tự
nhiên ở địa phương có thích hợp không.
(5) Không khả thi về kinh tế: Khi kỹ thuật mới áp dụng, thường chi phí sản

1.1.4. Nông hộ
Khái niệm nông hộ được nhiều nhà khoa học quốc tế và trong nước quan tâm
nghiên cứu và chúng được khởi xướng bởi Ellis (1988) “Hộ nông dân là các hộ gia
đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng
chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế
lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có
xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao” (dẫn theo Lê Đình Thắng).
Trong khi đó, tại Việt Nam, một số nhà nghiên cứu cũng đưa ra định nghĩa về nông
hộ. Theo Lê Đình Thắng (1993) “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh
tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”. Bên cạnh đó, Đào Thế Tuấn (1997) xác
định “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng,
bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”. Ngoài
ra, Tạ Tuyết Thái (2016) quan niệm “Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ bản, tiến
hành sản xuất kinh doanh dựa trên nguồn lực sẵn có của gia đình nhằm tạo ra thu
nhập theo nhiều hình thức khác nhau, chịu sự tác động của quy luật khách quan
trong quá trình tồn tại và phát triển”.


15

Tuy có nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến nông hộ, nhưng nhìn chung
nông hộ được xác định là hộ gia đình tại nông thôn tham gia hoạt động sản xuất
trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp bằng việc sử dụng các nguồn lực sẵn có của
hộ và tham gia một phần hay hoàn toàn vào sản xuất thị trường.

1.1.5. Nông dân
Theo wikipedia nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham
gia sản xuất nông nghiệp. Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các
ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai. Tùy từng quốc gia, từng thời kì lịch
sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất. Họ hình thành

thì quyết định áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong sản xuất rau cho biết mức độ sẵn
sàng hoặc nỗ lực của người nông dân bỏ ra để áp dụng quy trình VietGAP trong các
mùa vụ tiếp theo. Quyết định này có thể bị ảnh hưởng bởi hàng loạt các yếu tố bao
gồm các yếu tố nhận thức (lợi ích, rủi ro), định mức chủ quan, khả năng kiểm soát
hành vi và mức độ giao tiếp chia sẻ thông tin của người nông dân.

1.1.7. Vai trò của sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGAP
Về sức khỏe con người: sản xuất và sử dụng rau an toàn có tác dụng tốt đến
sức khẻo con người, giúp con người hấp thu đầy đủ các Vitamin và dưỡng chất
trong rau mà không phải lo lắng về vấn đề ngộ độc thực phẩm hay những ảnh
hưởng không tốt đến sức khỏe. Trong ăn uống hàng ngày, rau tươi có vai trò đặc
biệt quan trọng. Tuy lượng protid và lipid trong rau tươi không đáng kể, nhưng
chúng cung cấp cho cơ thể nhiều chất hoạt tính sinh học, đặc biệt là các muối
khoáng có tính kiềm, các vitamin, các chất pectin và axit hữu cơ. Ngoài ra, trong
rau tươi còn có loại đường tan trong nước và chất xenluloza (Tuyết, 2014). Hơn thế
nữa, một vai trò khác của sản xuất rau an toàn là góp phần bảo vệ sức khỏe người
sản xuất do giảm thiểu việc tiếp xúc với hóa chất độc hại. Các loại rau tươi của
nước ta rất phong phú. Nhìn chung, rau tươi được chia thành nhiều nhóm: nhóm rau
xanh như rau cải, rau muống, rau xà lách, rau cần...; nhóm rễ củ như cà rốt, củ cải,
su hào, củ đậu...; nhóm cho quả như cà chua, cà bát, cà pháo, dưa chuột...; nhóm
hành gồm các loại hành, tỏi,.v.v...
Về môi trường: thông qua việc áp dụng những biện pháp canh tác đảm bảo
cho cây rau hấp thu tốt nhất chất dinh dưỡng, nước mà không để lại tồn dư trong



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status