Tổ chức hoạt động thực hành cuộc sống cho trẻ 3 6 tuổi theo phương pháp montessori - Pdf 56

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

BẠCH THỊ TỐ UYÊN

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
CUỘC SỐNG CHO TRẺ 3 - 6 TUỔI THEO
PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

HÀ NỘI - 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

BẠCH THỊ TỐ UYÊN

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
CUỘC SỐNG CHO TRẺ 3 - 6 TUỔI THEO
PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

Người hướng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN THỊ HƯƠNG

HÀ NỘI - 2018

Bạch Thị Tố Uyên


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài............................................................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu..................................................................................... 3
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu .............................................................. 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 3
5. Phạm vi nghiên cứu....................................................................................... 3
6. Giả thuyết khoa học ...................................................................................... 4
7. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 4
8. Cấu trúc đề tài ............................................................................................... 5
NỘI DUNG....................................................................................................... 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THỰC
HÀNH CUỘC SỐNG CHO TRẺ 3 – 6 THEO PHƯƠNG PHÁP
MONTESSORI................................................................................................ 6
1.1. Một số khái niệm cơ bản ............................................................................ 6
1.1.1 Thực hành cuộc sống (Cuộc sống thực tế)............................................... 6
1.1.2. Hoạt động thực hành cuộc sống .............................................................. 6
1.1.3 Đặc trưng của hoạt động thực hành cuộc sống ........................................ 7
1.1.4 Đặc điểm hoạt động giáo dục thực hành cuộc sống cho trẻ 3 - 6 tuổi theo
phương pháp Montessori thông qua hoạt động ăn uống, sinh hoạt hàng ngày.
......................................................................................................................... 13
1.2 Một số vấn đề về phương pháp Montessori cho trẻ 3 - 6 tuổi ..................
13
1.2.1 Khái lược về phương pháp Montessori.................................................. 13
1.2.2 Nguyên tắc của phương pháp Montessori.............................................. 17
1.2.3 Đặc trưng của phương pháp Montessori ................................................
19

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính tương tác ....................................................... 43
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính tự do- kỷ luật................................................. 43
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo một môi trường được chuẩn bị kĩ ........................ 45


3.2 Một số biện pháp tổ chức hoạt động thực hành cuộc sống cho trẻ 3 - 6 tuổi
.... 46
3.2.1 Xây dựng môi trường lớp học theo phương pháp Montessori............... 46
3.2.2 Xây dựng nội dung thực hành................................................................ 47
3.2.3. Tiến trình tổ chức .................................................................................. 49
3.2.4 Minh hoạ tiến trình tổ chức hoạt động cho trẻ 3 - 6 tuổi thực hành cuộc
sống ................................................................................................................. 51
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 59
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Giáo dục: GD
Giáo dục Mầm non: GDMN
Hoạt động thực hành cuộc sống: HĐTHCS
Giáo viên: GV
Phương pháp giáo dục: PPGD


DANH MỤC HÌNH VẼ BẢNG BIỂU
Bảng 2.2.1.1: Tầm quan trọng về việc tổ chức hoạt động thực hành cuộc sống
cho trẻ 3 - 6 tuổi ở trường mầm non
Bảng 2.2.1.2: Mức độ sử dụng các phương pháp tổ chức hoạt động thực hành
cuộc sống cho trẻ 3 - 6 tuổi ở trường mầm non

người nói chung và trẻ em nói riêng đang trở thành nhiệm vụ quan trọng. Việc
tổ chức hoạt động thực hành cuộc sống phải được đo bằng sự vận dụng những
kỹ năng đó trong cuộc sống mỗi cá nhân để sống tích cực, sống hạnh phúc,
sống có ý nghĩa. Việc tổ chức hoạt động thực hành cuộc sống nhằm giúp trẻ
phát triển hài hòa, toàn diện về nhân cách. Cung cấp cho mỗi trẻ những kiến
thức cần thiết về kỹ năng sống kỹ năng tự phục vụ để các em sống sao cho
lành mạnh và có ý nghĩa. Giúp các em hiểu, biết những kiến thức về kỹ năng
sống, kỹ năng tự phục vụ được cung cấp thành hành động cụ thể trong quá
trình hoạt động thực tiễn với bản thân, với người khác, với xã hội, ứng phó
trước nhiều tình huống, học cách giao tiếp, ứng xử với mọi người, giải quyết
mâu thuẫn trong mối quan hệ và thể hiện bản thân một cách tích cực...

1


Ngày nay khi xã hội ngày càng phát triển, trình độ tri thức của trẻ được
nâng lên gấp bội nhưng bên cạnh đó các kỹ năng tự phục vụ bản thân các hoạt
động thực hành trong cuộc sống phục vụ bản thân của trẻ dường như bị tụt
lùi. Điều này càng thể hiện rõ đối với trẻ ở thành thị, những vùng kinh tế phát
triển. Nhiều phụ huynh do quá cưng chiều con mình bao bọc con quá kỹ khiến
cho con của họ không được thích nghi với môi trường xung quanh, dẫn đến
những sai lệch trong hành động. Chúng ta dễ dàng bắt gặp trẻ 5 - 6 tuổi vẫn
còn được mẹ chăm sóc từng ly từng tí: từ việc vệ sinh cá nhân, mặc quần áo,
cho đến việc đúc ăn. Những việc này vô tình khiến trẻ mất đi kỹ năng tự phục
vụ bản thân của trẻ.
Theo UNESCO, trẻ tám tuổi là quá trễ để giáo dục kĩ năng sống và các
kỹ năng tự phục vụ. Vì đến tuổi này trẻ đã hình thành cho mình phần lớn các
giá trị, trừ khi có sự thay đổi sâu sắc về trải nghiệm trong đời, nếu không thì
khó có thể lĩnh hội thêm giá trị sau độ tuổi này. Trẻ từ dưới hai tuổi đã bắt đầu
tiếp thu từ môi trường sống xung quanh như giọng nói của người lớn khi nói

Quá trình tổ chức hoạt động giáo dục thực hành cuộc sống cho trẻ 3 - 6
tuổi ở trường mầm non.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp tổ chức hoạt động thực hành cuộc sống theo phương pháp
Montessori cho trẻ 3 - 6 tuổi ở một số trường mầm non hiện nay.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Xây dựng cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức thực hành cuộc
sống cho trẻ 3 - 6 tuổi theo phương pháp Montessori.
4.2 Đề xuất một số biện pháp tổ chức cho trẻ 3 - 6 tuổi thực hành cuộc
sống theo phương pháp Montessori
5. Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
- Nghiên cứu việc tổ chức cho trẻ 3 - 6 tuổi thực hành cuộc sống theo
phương pháp Montessori thông qua hoạt động ăn uống sinh hoạt hàng ngày.

3


- Tiến hành nghiên cứu trên trẻ mẫu giáo 3 - 6 tuổi tại trường mầm non
Đại Thịnh - Mê Linh - Hà Nội.
- Thời gian điều tra thực trạng từ 26/2/2018 đến tháng 5/2018.
6. Giả thuyết khoa học
Hoạt động tổ chức giáo dục thực hành cuộc sống ở trường mầm non
cho trẻ mẫu giáo 3 - 6 tuổi theo phương pháp Montessori chưa được hình
thành.
Nếu có những biện pháp giáo dục tích cực dựa trên việc tận dụng ưu
thế của phương pháp Montessori và khả năng của trẻ 3 - 6 tuổi thì việc thực
hành cuộc sống, các kỹ năng sống của trẻ được nâng cao.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận

8. Cấu trúc đề tài
Phần I: Mở đầu
Phần II: Nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận của tổ chức hoạt động thực hành cuộc sống
cho trẻ 3 - 6 tuổi theo phương pháp Montessori.
Chương 2: Thực trạng tổ chức hoạt động thực hành cuộc sống cho trẻ 3
- 6 tuổi ở trường mầm non Đại Thịnh- Mê Linh- Hà Nội.
Chương 3: Biện pháp tổ chức hoạt động thực hành cuộc sống cho trẻ 3
- 6 tuổi theo phương pháp Montessori.
Phần III: Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

5


NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THỰC
HÀNH CUỘC SỐNG CHO TRẺ 3 – 6 THEO PHƯƠNG PHÁP
MONTESSORI
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Thực hành cuộc sống (Cuộc sống thực tế)
Theo từ điển tiếng việt phổ thông:
Thực hành là làm để áp dụng lí thuyết và thực tế.
Cuộc sống là tổng thể nói chung những hoạt động trong đời sống của
một con người hay một xã hội.
 Như vậy thực hành cuộc sống là những hoạt động mô phỏng sinh hoạt
đời
thường trong cuộc sống hàng ngày.
Thực tiễn: Có ý nghĩa cơ bản, hữu ích, có mục đích.

chân thực, gần gũi nhất với thực tế.
Hệ thống giáo cụ dùng trong các bài tập thực hành cuộc sống cũng
được thiết kế mô phỏng y hệt đồ dùng thực tế như dao, dĩa, chổi…. chỉ khác
là nhỏ gọn hơn để trẻ có thể sử dụng. Điều này tạo điều kiện tối đa cho trẻ có
cơ hội thực hành thực tế, giúp trẻ trưởng thành mạnh dạn hơn. Trẻ cũng sẽ
độc lập hơn và không còn ỉ lại vào bố mẹ nữa.
1.1.3 Đặc trưng của hoạt động thực hành cuộc sống
Phương pháp Montessori đang là phương pháp giáo dục sớm đang được
rất nhiều sự quan tâm của các phụ huynh cũng như giáo viên. Phương pháp
nổi bật với các phương pháp giáo dục hướng trẻ theo sự phát triển tự nhiên.
Bởi vậy các bài tập thực hành cuộc sống luôn chiếm một vị trí quan trọng
trong phương pháp Montessori.
a. Mục đích của các bài tập thực hành cuộc sống
Các bài tập thực hành cuộc sống sở hữu những ý nghĩa và vai trò khá
thiết thực đối với trẻ nhỏ. Những bài tập thực hành này được áp dụng với mục

7


đích trực tiếp là để giúp trẻ tăng cường và phát triển sự độc lập trong việc
thực hiện các hoạt động căn bản, tự phục vụ bản thân, chăm sóc môi trường
của mình, chăm sóc bản thân mình, các mối quan hệ xã hội (ứng xử tế nhị lịch
thiệp) thông qua các bài tập và các tình huống thực tế.
Ví dụ: Khi trẻ đến lớp trẻ có thể làm rất nhiều thứ như tự lấy bát ăn
cơm, rửa bát, kê bàn ghế khi ăn cơm, dọn dẹp đồ chơi sau khi dùng xong, tự
giặt khăn mặt…. những hoạt động này sẽ hình thành nếp sống ý thức, gọn
gàng và tự lập ở trẻ. Hay trẻ được học cách chăm sóc cây cối xung quanh lớp
học, từ đó trẻ biết cách quan tâm, yêu thương những người xung quanh mình.
Ngoài ra các bài tập thực hành cuộc sống thực tiễn còn giúp trẻ củng cố
và phát triển “sự phối hợp của các vận động” của cơ thể và do đó đặt nền tảng

Dựa trên thực tế: Các hoạt động này phải dựa trên thực tế. Chúng ta
rửa bát đĩa với nước và xà phòng thật, chúng ta đánh bóng giày bằng xi thật
và cắt hoa quả với dao thật. Sự an toàn nằm ở cái thực tế.
Không giới hạn: Có một sai lầm lớn khi nghĩ rằng các hoạt đông thực
hành cuộc sống được giới hạn trong những bài học bạn được học ở khóa đào
tạo. Các bài học này không có một giới hạn nào hết mà phụ thuộc vào văn hóa
và nhu cầu trong môi trường sống và có sự khác nhau từ môi trường này đến
môi trường khác, hay từ nước này sang nước khác. Bạn có thể sáng tạo ra bài
học của riêng mình bằng việc bám sát với các định hướng của lý thuyết của
thực hành cuộc sống.
Mỗi hoạt động chỉ có một: Dù không có giới hạn nào về số lượng hoạt
động thực hành cuộc sống trong môi trường, nhưng mỗi hoạt động chỉ có một
bộ duy nhất. Việc này giúp trẻ học được rằng trẻ cần đợi tới lượt và cuộc sống
không luôn thỏa mãn mình ngay lập tức. Kết quả là giáo cụ sẽ được trân trọng
hơn. GV luôn có thể để dành các hoạt động trong kho và thi thoảng thay đổi
nếu có đồ gì bị vỡ, hỏng, nhưng luôn luôn chỉ có 1 bộ trên giá.
Giáo cụ có khay đựng: Các giáo cụ đều được đặt trong giỏ, rổ, khay,
hoặc trên một giá đỡ ở một vị trí nhất định. Tất cả giáo cụ đều phải hoàn

9


chỉnh, được chuẩn bị và đã sẵn sàng để sử dụng. Người lớn trong môi trường
này cần đảm bảo rằng hoạt động đã được chuẩn bị cùng mọi thứ mà trẻ cần để
có thể hoàn thiện thành công hoạt động này. Việc này hỗ trợ cho tính xu
hướng chung của con người trong trẻ và thời kỳ nhạy cảm về trật tự trong đó
sự trật tự của ngoại cảnh này sẽ bổ trợ cho sự trật tự trong nội tâm của trẻ.
Vị trí của giáo cụ: Các giáo cụ nên được đặt theo nhóm, ví dụ các hoạt
động chuẩn bị đồ ăn được đặt ở giá chuẩn bị đồ ăn, khung cúc áo được đặt ở
góc chăm sóc bản thân và tương tự như thế. Các hoạt động nước nên gần một

một xã hội “tự nhiên” và “hòa bình”, thông qua sự thấm hút (các điều tốt) vào
trẻ, và ảnh hưởng tới xã hội tương lai, sẽ giúp loại bỏ định kiến của người lớn
hiệu quả hơn so với bất kỳ cố gắng trực tiếp nào của người lớn (để loại bỏ
định kiến) có thể đạt được.
3. Nhận thức về nhu cầu của môi trường và nhu cầu của bản thân: Một
em bé khi thực hiện các hoạt động này vì mục đích riêng của mình và trong
môi trường được chuẩn bị của riêng mình, sẽ phát triển một thói quen chăm
sóc mọi thứ xung quanh và chăm sóc chính bản thân mình.
4. Các bài tập thực hành cuộc sống thực tiễn (EPL) được thực hiện một
cách tự nguyện và được lặp đi lặp lại cũng sẽ đóng góp đáng kể và “tự nhiên”
cho việc phát triển thể chất. Các cơ bắp của toàn bộ cơ thể được tập luyện một
cách uyển chuyển, không máy móc và không phải bởi sức ép bên ngoài như
việc huấn luyện thể chất, cũng không phải chỉ được thực hiện như là một chức
năng của cơ thể, mà bởi một con người, như một biểu hiện của sự sống của
con người thật sự, được hiểu và có ý chí mục đích. Vì lý do đó chúng được
lặp đi lặp lại, thường xuyên hơn bất kỳ hoạt động thể chất nào, mà không mệt
mỏi và căng thẳng.
5. Chúng giúp trẻ phát triển trí tuệ và tương tác có trách nhiệm với môi
trường của mình, điều này tạo cơ sở nền tảng cho những khám phá phức tạp
và trừu tượng hơn sau này.

11


6. Hình thành thói quen thực hiện một hoạt động một cách ý thức và có
tính xây dựng để lại một “trải nghiệm” khiến cho tất cả các hình thức hoạt
động khác (không có ý thức & không có tính xây dựng) trở nên „nhạt nhẽo‟.
7. Chúng cũng giúp trẻ hình thành thói quen đánh giá hoạt động của
chính mình một cách khách quan và độc lập không theo quan điểm khen ngợi
hay chê bai từ bên ngoài, mà từ sự hứng thú và khao khát sự hoàn thiện.

hàng ngày
Hoạt động thực hành cuộc sống của trẻ thực chất là các hoạt động gắn
liền với sinh hoạt hàng ngày của trẻ tử ăn, uống, mặc, ngủ... Trong sinh hoạt
hàng ngày, trẻ buộc phải thực hiện các hoạt động tự phục vụ bản thân nhằm
đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của cá nhân trẻ. Quá trình diễn ra hàng ngày từ lúc
trẻ ngủ dậy, đi đến trường tham gia các hoạt động ở trường, cho đến lúc về
nhà, rồi đi ngủ cũng chính là cuộc sống thực tế của trẻ diễn ra hàng ngày.
Trong cuộc sống thực tế ấy, trẻ thực hiện liên tục các hoạt động tự phục vụ
bản thân như: đánh răng, rửa mặt, ăn sáng, chuẩn bị ba lô đến trường, mặc
quần áo, chải tóc gọn gàng, khi đến trường chơi với các bạn phải tự lấy cất
bàn ghế, lấy cất đồ chơi; khi ăn phải tự kê bàn ghế, tự xúc cơm ăn; khi ngủ
phải tự chuẩn bị chiếu, chăn gối; phải tự biết đi vệ sinh, tự uống nước, tự rót
nước, tự làm mọi việc để tham gia chủ động vào các hoạt động tập thể…
Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc tổ chức các bài tập thực
hành cuộc sống cho trẻ để trẻ được trải nghiệm cuộc sống thực tế của chúng.
Vì vậy có thể coi cuộc sống thực tế của trẻ là một trong những phương tiện
dạy học hữu hiệu nhất đối với việc hình thành các bài tập thực hành cho trẻ.
1.2 Một số vấn đề về phương pháp Montessori cho trẻ 3 - 6 tuổi
1.2.1 Khái lược về phương pháp Montessori
Tiến sĩ Maria Montessori sinh vào ngày 31/08/1870 tại một thị trấn ở
Chiaravalle, Ý. Bà có cha là quân nhân, mẹ là một phụ nữ học thức cao với
niềm đam mê đọc sách. Vì không tán thành những định kiến ngăn cản việc

13


học hành và sự nghiệp đối với phụ nữ thời bấy giờ nên bà đã quyết định theo
học ngành Kỹ thuật vốn chỉ dành cho nam giới.
Sau đó, dù gia đình khuyến khích đi theo ngành giáo dục - một trong
số ít những ngành nghề dành cho nữ giới thời đó, Maria quyết định học

Việc tham gia vào Hội đồng giáo dục quốc gia dành cho trẻ kém phát
triển trí não đã tạo cơ hội để bà trở thành giám đốc của trường Orthophrenic
- nơi chào đón những đứa trẻ có vấn đề về trí não. Sự kiện này đánh dấu một
bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của Maria khi từ một nhà khoa học bà
chính thức trở thành một nhà giáo dục. Bà có 2 năm làm việc tại trường này
với những thử nghiệm và hoàn thiện những học cụ mà Itard và Séguin đã tạo
ra. Mỗi ngày từ 8 giờ sáng tới 7 giờ tối, bà dạy ở trường và sau đó làm việc
đến tận khuya để chuẩn bị học cụ mới, ghi chép lại những quan sát của
mình. Bà xem đây là khoảng thời gian quý giá mà mình có được những bằng
cấp giá trị nhất trong sự nghiệp giáo dục của mình.
Năm 1898, cậu bé Mario ra đời là kết quả tình yêu giữa bà và ông
Guisseppe. Chính Mario sau này đã cùng làm việc với mẹ của mình và tiếp
nối sự nghiệp của mẹ sau khi bà qua đời.
Năm 1901 bà rời trường Orthophrenic và bắt đầu học về triết học giáo
dục và thần học. Năm 1904 - 1908 bà là giảng viên khoa sư phạm Đại học
Rome. Vào thời điểm đó, tại San Lorenzo có khá nhiều cặp vợ chồng phải đi
làm suốt cả ngày và không có thời gian giữ con. Chúng nghịch phá khắp nơi
khiến những người dân ở đây phải tìm giải pháp cho vấn đề này. Maria đã
nắm bắt cơ hội này để làm việc với những đứa trẻ khỏe mạnh bình thường.
Cùng với những học cụ đã phát triển ở trường, bà thành lập nhà trẻ đầu tiên
vào tháng 1/1907 với tên Casa dei Bambini (hay còn gọi là Children House).
Bà đã tạo ra nhiều hoạt động khác nhau cho trẻ và đặt các học cụ phù hợp với
trẻ vào lớp học. Bà nhận ra rằng khi trẻ được tiếp xúc với môi trường có
những hoạt động được tạo ra với mục đích hỗ trợ quá trình phát triển tự nhiên

15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status