BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG KHI NHÀ NƢỚC
THU HỒI ĐẤT ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG TỪ
THỰC TIỄN TỈNH THÁI BÌNH
TRỊNH XUÂN HẢO
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 8 38 01 07
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN MINH MẪN
HÀ NỘI – 2019
LỜI CAM ĐOAN
Để hoàn thành một đề tài Luận văn Thạc sĩ luật học, tác giả phải tìm hiểu,
nghiên cứu nhiều tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, như sách, giáo trình, tạp
chí, internet,… đồng thời thu thập các số liệu thực tế, qua đó thống kê, phân tích
và xây dựng thành một đề tài nghiên cứu hoàn chỉnh.
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của tôi.
Tất cả các nội dung và số liệu trong đề tài này do tôi tự tìm hiểu, nghiên cứu và
xây dựng, các số liệu thu thập là đúng và trung thực. Giải pháp là do tôi rút ra từ
quá trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác giải phóng mặt bằng các công
trình giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Thái Bình mà bản thân tôi được tiếp
tháng
năm 2019
Tác giả luận văn
Trịnh Xuân Hảo
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG GIẢI
PHÓNG MẶT BẰNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT PHỤC VỤ CÁC
DỰ ÁN CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG.
6
1.1. Cơ sở, khái niệm, mục đích ý nghĩa về bồi thường giải phóng mặt bằng
khi Nhà nước thu hồi đất.
6
1.1.1. Cơ sở chính trị và cơ sở lý luận của bồi thường, giải phóng mặt bằng
khi Nhà nước thu hồi đất.
6
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt
bằng khi Nhà nước thu hồi đất
24
1.3. Kinh nghiệm và thực tiễn pháp lý của một số quốc gia trên thế giới về
bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất và những gợi mở
cho Việt Nam
27
1.3.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc
27
1.3.2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc
29
1.3.3. Kinh nghiệm của Singapore
31
1.3.4. Một số gợi mở cho Việt Nam trong quá trình xây dựng và hoàn thiện
pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất
34
1.3.5. Kinh nghiệm rút ra đối với việc bồi thường, giải phóng mặt bằng khi
56
2.1.5. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi
Nhà nước thu hồi đất
60
2.2. Thực trạng pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu
hồi đất ở tỉnh Thái Bình
63
2.2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Bình và
sự ảnh hưởng đối với công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà
nước thu hồi đất
63
2.2.2. Các văn bản pháp luật của tỉnh Thái Bình về bồi thường, giải phóng
mặt bằng khi thu hồi đất phục vụ các dự án công trình giao thông
66
2.2.3. Thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà
nước thu hồi đất phục vụ các dự án công trình giao thông tại tỉnh Thái Bình
67
2.2.4. Đánh giá quá trình thi hành pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt
bằng khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ các dự án công trình giao thông tại
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng
khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ dự án công trình giao thông
81
3.2.2. Giải pháp tăng hiệu quả của triển khai thực tế
85
3.2.3. Giải pháp ổn định cuộc sống người dân trong vùng giải tỏa
90
3.2.4. Giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác tổ chức thực
hiện pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất
phục vụ dự án công trình giao thông
91
KẾT LUẬN
94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
96
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
5
GPMB
Giải phóng mặt bằng
6
NĐ-CP
Nghị định-chính phủ
7
UBND
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Số hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp ở các mức quy mô diện
tích khác nhau.
50
Bảng 2: Mức tiền bồi thường đất của các hộ dân
71
nông nghiệp chiếm đa số như ở Thái Bình.
Chính vì các lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài “pháp luật về bồi
thường, giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất đối với các dự án công
1
trình giao thông từ thực tiễn tỉnh Thái Bình” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
Thạc sĩ Luật tại khoa luật kinh tế, Viện Đại học Mở Hà Nội.
2. Tình hình nghiên cứu
Pháp luật bồi thường, giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất là đề
tài thu hút sự nghiên cứu của giới luật học nước ta. Thời gian qua, đã có nhiều
công trình khoa học về vấn đề này được công bố và có thể kể đến một số công
trình nghiên cứu sau:
Phạm Văn Võ (2009), “chế độ pháp lý về sở hữu đối với đất đai ở Việt
Nam hiện nay”, Luận án Tiến sỹ, Thành phố Hà Nội. Tác giả đã nêu tổng quan
chế độ pháp lý về sở hữu đất đai, việc thực hiện chế độ sở hữu toàn dân đối với
đất đai ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra. Đồng thời, đưa ra một số vấn đề về
đổi mới chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam.
Lưu Quốc Thái (2009), “thị trường quyền sử dụng đất – Thực trạng và
hướng hoàn thiện”, Luận án Tiến sỹ Thành phố Hà Nội. Tác giả đã nêu quá
trình thực thi các quy định của Luật đất đai năm 2013, trong đó đề cập về quyền
và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế trong sử dụng đất gặp không ít khó khăn, thách
thức như trên thực tế việc tiếp cận đất đai giữa tổ chức kinh tế thuộc các thành
phần kinh tế còn thiếu sự bình đẳng (đặc biệt là đối với doanh nghiệp tư nhân
vừa và nhỏ); các tổ chức kinh tế chủ yếu tiếp cận đất đai tại thị trường sơ cấp
quyền sử dụng đất thông qua việc Nhà nước giao đất, cho thuê đất, còn mang
nặng tính chất xin - cho tiềm ẩn nguy cơ tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm,
trong khi đó các giao dịch về quyền sử dụng đất trên thị trường thứ cấp về quyền
sử dụng đất dường như còn ít phát triển do thiếu khung pháp lý hoàn chỉnh, đầy
đủ và toàn diện cho thị trường này phát triển thông suốt và lành mạnh.
Các công trình nghiên cứu trên đã giải quyết một số lý luận và thực tiễn
cơ bản liên quan đến Pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng ở nước ta.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về bồi
thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất đối với các dự án công
trình giao thông từ thực tiễn tỉnh Thái Bình có vai trò đưa ra các giải pháp góp
phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi Luật Đất đai 2013 vẫn chưa được
quan tâm đúng mực. Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu, luận văn đi sâu
vào tìm hiểu pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi
đất đối với các dự án công trình giao thông từ thực tiễn tỉnh Thái Bình.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và
thực tiễn của việc Nhà nước bồi thường, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất đối
với các dự án công trình giao thông tham chiếu với thực tiễn thi hành tại tỉnh
Thái Bình, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi
lĩnh vực pháp luật này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
3
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
(1) Phân tích khái niệm, đặc điểm của thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và
hậu quả của việc thu hồi đất; phân tích khái niệm, đặc điểm mục đích ý nghĩa và
lý giải cơ sở của việc bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất
ở Việt Nam.
(2) Phân tích sự cần thiết, nội dung, hình thức và nguồn của cơ chế điều
chỉnh pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất;
lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt
bằng khi Nhà nước thu hồi đất và những gợi mở cho Việt Nam trong quá trình
xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà
phương pháp nghiên cứu sau đây:
(1) Phương pháp phân tích, phương pháp diễn giải, phương pháp lịch sử,
phương pháp thống kê… được sử dụng trong chương 1.
(2) Phương pháp đánh giá, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh
Luật học, phương pháp đối chiếu… được sử dụng trong chương 2.
(3) Phương pháp bình luận, phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp
được sử dụng trong chương 3.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần hoàn thiện một số vấn đề lý luận về về bồi thường,
giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất đối với các dự án công trình giao
thông đường bộ, qua đó làm phong phú thêm lý luận về về bồi thường, giải phóng
mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất.
- Ý nghĩa thực tiễn
Những giải pháp mà luận văn đưa ra là những tài liệu tham khảo hữu ích
cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong việc
nâng cao hiệu quả về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất
đối với các dự án công trình giao thông đường bộ nói riêng và về bồi thường,
giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất nói chung.
Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng là tài liệu tham khảo hữu ích trong
các cơ sở đào tạo Luật
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Lời nói đầu và kết luận, luận văn có kết cấu 3 chương với
các nội dung cụ thể sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bồi thường giải phóng mặt bằng khi
Nhà nước thu hồi đất phục vụ các dự án công trình giao thông.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi
nhà nước thu hồi đất phục vụ dự án công trình giao thông tại tỉnh Thái Bình
Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả công tác giải phóng mặt bằng phục vụ dự án công trình giao thông
đất thực sự của người lao động” .
Tiếp đó, Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội toàn quốc lần
thứ VI của Đảng năm 1986 khởi xướng đã làm thay đổi căn bản về nội dung
chính sách, pháp luật đất đai: Đất đai được giao cho hộ gia đình, cá nhân sử
dụng ổn định lâu dài. Ngày 05/4/1988 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số
10-NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, trong đó khẳng định hộ gia
đình là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp và giao khoán ruộng đất
6
ổn định, lâu dài cho hộ nông dân. Tiến trình đổi mới tư duy này được tiếp tục
ghi nhận trong các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII năm 1991 và
các Hội nghị Trung ương tiếp theo (đặc biệt là Hội nghị Trung ương lần thứ 2
(khóa II, tháng 12/1991) và Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (khoa VII, tháng
6/1992) đã khẳng định thực hiện nhất quán chủ trương: “ruộng đất được giao
cho nông dân sử dụng lâu dài; Nhà nước quy định bằng pháp luật việc thừa kế,
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Tiếp đó, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX và các Hội
nghị Trung ương lần thứ chín (khóa IX) đã khẳng định quan điểm của Đảng về
duy trì, củng cố chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đi đôi với việc bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất; trong đó chú trọng thực hiện việc bồi
thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất. Đặc biệt, Nghị quyết số
26-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai nói chung
và các quy định về bồi thường, giải phóng mặt bằng nói riêng; Hội nghị lần thứ
sáu Ban chấp hành Trung ương khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 19-NQ/TW
ngày 06/11/2012 về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời
kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước
ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; trong đó đưa ra nhiều
Nhà nước thu hồi đất.
1.1.1.2. Cơ sở lý luận của bồi thường, giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu
hồi đất
Cơ sở lý luận của việc bồi thường
Thứ nhất, vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được đặt ra dựa
trên cơ sở quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ. Hiến
Pháp 1946 đã ghi nhận và bảo hộ quyền sở hữu tư nhân về tài sản: “Quyền sở
hữu về tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm” (Điều 12). Quyền này tiếp
tục được khẳng định trong bản Hiến pháp năm 1992: “Công dân có quyền sở
hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở , tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản
xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp…Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu
hợp pháp và quyền thừa kế của công dân” (Điều 58). Hơn nữa, Hiến pháp năm
1992 còn long trọng tuyên bố: “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị
quốc hữu hóa. Trong trường hợp thật cần thiết vì lí do quốc phòng, an ninh và vì
lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của
cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường…”. (Điều 23);
Như vậy, quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của mọi cá nhân và tổ chức đã
được Hiến pháp ghi nhận và bảo hộ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào
8
mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì toàn bội tài
sản hợp pháp găn liền với đất bị thu hồi của người đang sử dụng đất đều phải
được bồi thường theo giá thị trường. Đối với trường hợp người sử dụng đất bị
thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở, Nhà nước phải thực hiện chính sách tái định
cư cho các đối tượng này;
Thứ hai, xét về bản chất Nhà nước ta là Nhà nước do nhân dân lao động
thiết lập lên, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân; phục vụ
và chăm lo cho lợi ích, sự phồn vinh của người dân. Do đó, thì khi Nhà nước thu
thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng
đất.Như vậy, một khi pháp luật đã thừa nhận quyền sử dụng đất là một loại
quyền về tài sản của người sử dụng đất, thì khi Nhà nước thu hồi đất, Nhà nước
phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho người sử dụng đất.
Cơ sở lý luận của việc giải phóng mặt bằng
Giải phóng mặt bằng là một quá trình tổ chức thực hiện các công việc liên
quan đến di dời nhà cửa, cây cối các công trình xây dựng và một bộ phận dân cư
trên phần đất nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng
một công trình mới trên đó. (Nghị định 197/2004/NĐ-CP).
Quá trình giải phóng mặt bằng được tính từ khi bắt đầu hình thành Hội
đồng giải phóng mặt bằng đến khi giải phóng xong và giao cho chủ đầu tư mới.
Đây là một quá trình đa dạng và phức tạp thể hiện sự khác nhau giữa các dự án
và liên quan trực tiếp đến các bên tham gia và của toàn xã hội.
Trong điều kiện nước ta hiện nay, “Giải phóng mặt bằng” là một trong
những công việc quan trọng phải làm trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Sự cần thiết triển khai xây dựng nhiều công trình cơ sở hạ tầng,
nhiều khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, theo đó các cơ sở văn
hoá giáo dục, thể dục thể thao cũng đuợc phát triển, tốc độ đô thị hoá cũng diễn
ra nhanh chóng.
Công tác giải phóng mặt bằng mang tính quyết định tiến độ của các dự
án, là khâu đầu tiên thực hiện dự án. Có thể nói: “Giải phóng mặt bằng nhanh
là một nửa dự án”. Việc làm này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của
Nhà nước, của chủ đầu tư, mà còn ảnh hưởng đến đời sống vật chất cũng như
tinh thần của người bị thu hồi đất, cụ thể:
Đối với sự phát triển cơ sở hạ tầng:
Ở mỗi một giai đoạn phát triển kinh tế xã hội có một sự phát triển thích
ứng của hạ tầng kinh tế xã hội. Với tư cách là phương tiện vật chất kỹ thuật, hạ
tầng kinh tế xã hội lại trở thành lực lượng sản xuất quyết định đến sự phát triển
của nền kinh tế xã hội mà trong đó giải phóng mặt bằng là điều kiện tiên quyết
để dự án có được triển khai hay không.
ổn định.
Sau một thời gian dài thực hiện Luật đất đai 1993 đã thấy những thiếu
sót, những khó khăn về phạm vi bồi thường, nên đến Luật đất đai 2003 và cùng
với đó Chính phủ ban hành Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 đã
khắc phục được những thiếu sót, khó khăn trên.
Hiện nay cùng với Nghị định 197/2004/NĐ-CP, Nghị định 181/2004/NĐCP, Nghị định 84/2007/NĐ-CP là sự ra đời của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP
ngày 13/08/2009 của Chính phủ, trong đó công tác bồi thường giải phóng mặt
bằng đã có nhiều thay đổi khi UBND cấp tỉnh có dự án được thoả thuận với
11
người dân về mức bồi thường. Qua đó kéo gần thêm khoảng cách giữa chủ đầu
tư với người có đất bị thu hồi, hạn chế những “dự án treo” trên giấy mà nguyên
nhân chủ yếu là việc bồi thường giải phóng mặt bằng gặp khó khăn.
1.1.2. Các khái niệm về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu
hồi đất
1.1.2.1. Khái niệm thu hồi đất và các tác động của thu hồi đất
Trước đây, Luật Đất đai năm 1987 và Luật Đất đai năm 1993 đã cập nhật
vấn đề thu hồi đất nhưng chưa định nghĩa rõ thế nào là thu hồi đất mà chỉ liệt kê
các trường hợp bị thu hồi đất (Điều 14 Luật Đất đai năm 1987 và Điều 26 Luật
Đất đai năm 1993).
Khi Luật Đất đai năm 2003 ra đời, thuật ngữ thu hồi đất đã được giải
thích tại khoản 5 Điều 4 “thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính
để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã,
phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này”. Dù đã được điều chỉnh về
nội hàm của khái niệm thu hồi đất, song cách giải thích này chưa thật sự chính
xác bởi nó dẫn đến cách hiểu rằng người sử dụng đất bị thu hồi chỉ là tổ chức
hay UBND xã, phường, thị trấn, trong khi theo quy định pháp luật, người sử
dụng đất bị thu hồi còn có thể là hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất, hơn nữa đây
nhiều ngành luật, như trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực dân sự; trách
nhiệm bồi thường vật chất của người lao động khi có hành vi gây thiệt hại trong
pháp luật lao động; trách nhiệm bồi thường nhà nước khi chủ thể gây thiệt hại là
người thi hành công vụ,….Đặc điểm chung của các quy định này là đặt ra
trách nhiệm bồi thường khi một chủ thể có hành vi gây thiệt hại cho chủ thể
khác trong xã hội. Theo quy định của pháp luật đất đai, trách nhiệm bồi thường
được đặt ra khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an
ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng hay vì mục đích phát triển kinh tế. Việc
thu hồi đất này không do lỗi của người sử dụng đất mà vì mục đích chung của xã
hội, hơn nữa khi bị thu hồi đất, người sử dụng đất phải gánh chịu những thiệt
thòi, bị ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp, vì vậy Nhà nước phải thực
hiện trách nhiệm bồi thường. Như vậy, đối với những trường hợp người sử dụng
đất có lợi ích chính đáng cần được bảo vệ, thì Nhà nước với tư cách là người đại
diện cho quyền lợi của nhân dân, phải có nghĩa vụ khôi phục các quyền và lợi
ích đó bằng cách quy định chế định pháp lý về bồi thường như nguyên tắc; điều
kiện của việc bồi thường; cách thức bồi thường; trình tự, thủ tục bồi thường…để
làm sao quyền lợi của người bị thu hồi đất được đảm bảo, đồng thời tạo
điều kiện thuận lợi, nhanh chóng cho quá trình thu hồi đất, giúp chủ đầu tư
nhanh chóng có mặt bằng cho việc thực hiện dự án.
Theo Giáo trình Luật Đất đai năm 2016 của Trường Đại học Luật Hà Nội:
“Luật đất đai là tổng hợp các quy phạm pháp luật mà Nhà nước ban hành nhằm
13
thiết lập quan hệ đất đai trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và sự bảo
hộ đầy đủ của Nhà nước đối với các quyền của người sử dụng đất tạo thành một
ngành luật quan trọng trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta” [31, trang 9].
Luật Đất đai năm 2003; Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004
của Chính phủ quy định “về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu
nhu cầu giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội và quốc phòng giữa những người dân
trong cùng một vùng hay giữa vùng này với vùng khác hoặc giữa nước này với
nước khác, xoá đi khoảng cách địa lý, chuyển dịch cơ cấu kinh tế.Hệ thống giao
thông đường bộ là tổng hợp hệ thống cầu, đường giao thông, các công trình trên
tuyến như cống các loại, hệ thống lan can, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống
15
đèn tín hiệu, cọc tiêu, biển báo... tất cả tạo thành một hệ thống liên hoàn phục vụ
nhu cầu đi lại, giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng với nhau, giữa nơi này
với nơi khác, quốc gia này với quốc gia khác. Giao thông đường bộ là một bộ
phận quan trọng của giao thông vận tải nói riêng và của hệ thống kết cấu hạ tầng
kinh tế xã hội nói chung. Cơ sở hạ tầng là tổ hợp các công trình vật chất kỹ
thuật, có chức năng, phục vụ trực tiếp dịch vụ sản xuất, đời sống của dân cư
được bố trí trên một phạm vi lãnh thổ nhất định. Cơ sở hạ tầng được chia làm 3
nhóm chính:
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: bao gồm các công trình và phương tiện vật chất
phục vụ cho sản xuất và đời sống sinh hoạt của xã hội như các con đường, cầu,
cống, hệ thống điện, bưu chính viễn thông...
Cơ sở hạ tầng xã hội: là các công trình và phương tiện để duy trì và phát
triển các nguồn lực như các cơ sở giáo dục, đào tạo, các cơ sở khám, chữa bệnh,
các cơ sở đảm bảo đời sống và nâng cao tinh thần của nhân dân như hệ thống
công viên, các công trình đảm bảo an ninh xã hội...
Cơ sở hạ tầng môi trường: bao gồm các công trình phục vụ cho bảo vệ
môi trường sinh thái của đất nước, cũng như môi trường sống của con người như
công trình xử lý rác thải, nước thải...
Như vậy, dự án công trình giao thông (dự án đầu tư xây dựng công trình
giao thông đường bộ) có thể hiểu là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ
vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình giao thông đường
bộ (xây dựng công trình đường sá, cầu cống các loại...), giao thông đường bộ là
nguồn lực để họ duy trì sự sống và tài sản này có giá trị trường tồn theo thời
gian.
Chính vì vậy, khi thu hồi đất, Nhà nước không chỉ chú trọng tới việc bù
đắp về tổn thất vật chất, mà cần chú trọng bù đắp những tổn thất về mặt tinh
thần cho người bị thu hồi đất như sự xáo trộn nơi ăn chốn ở, phong tục tập quán;
mất tư liệu sản xuất và hơn thế nữa là mất đi tình cảm gắn bó với mảnh đất – nơi
bản thân họ làm ăn sinh sống, mất nghề nghiệp để sinh sống từ bao đời. Việc bồi
thường của Nhà nước được thực hiện một cách trọn vẹn sẽ giúp người
dân nhanh chóng ổn định đời sống và sản xuất. Điều này thể hiện tính nhân đạo,
ưu việt của Nhà nước Việt Nam và đây cũng là sự khác biệt rõ nét trong chính
sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất so với bồi thường đối với các loại đất
khác.
1.1.4. Mục đích ý nghĩa của việc bồi thường, giải phóng mặt bằng khi nhà
nước thu hồi đất
1.1.4.1. Đảm bảo lợi ích quốc gia, công cộng
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì các trường hợp thu hồi đất
thuộc quy định tại Điều 61 (Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh) và
Điều 62 (Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công
cộng) Luật Đất đai 2013 buộc phải áp dụng giá bồi thường, hỗ trợ giải phóng
mặt bằng theo mức quy định của Nhà nước để tính giá trị bồi thường, hỗ trợ.
17