TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====0o0=====
BÙI THÀNH CÔNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI
NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
TẠI TỈNH NAM ĐỊNH HIỆN NAY
THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Giáo viên hướng dẫn
ThS. Vi Thị Lại
HÀ NỘI, 2018
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận, ngoài sự cố gắng của bản thân, em
đã nhận được sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè. Em xin bày tỏ lời cảm ơn
chân thành nhất tới ThS.Vi Thị Lại - người cô đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em
hoàn thành khóa luận này.
Em xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Chính
trị cùng các thầy cô giáo trong trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 đã giảng
giải, chỉ bảo em trong suốt thời gian qua.
Em cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình, cũng như bạn bè đã góp ý,
ủng hộ em hoàn thành khóa luận này.
Trong quá trình nghiên cứu, với điều kiện hạn chế về thời gian, cũng như
kiến thức của bản thân nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót.
Chương 1. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI
NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG ......................................................... 6
1.1. Một số khái niệm..................................................................................... 6
1.2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách đối với người có
công với cách mạng ..................................................................................... 14
Chương 2. VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
TẠI TỈNH NAM ĐỊNH HIỆN NAY .............................................................. 31
2.1. Sự cần thiết phải thực hiện chính sách đối với người có công tại
tỉnh Nam Định hiện nay ............................................................................... 31
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách đối với người có công với cách
mạng tại tỉnh Nam Định hiện nay ................................................................ 34
2.3. Một số định hướng và giải pháp trong việc thực hiện chính sách đối
với người có công với cách mạng tại tỉnh Nam Định hiện nay theo tư
tưởng Hồ Chí Minh ...................................................................................... 42
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 49
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................ 51
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Lịch sử dân tộc ta gắn liền với các cuộc đấu tranh trành độc lập và bảo
vệ Tổ quốc. Trong các cuộc đấu tranh này nhiều người đã không quản hi sinh,
hiến dâng cả đời mình cho đất nước. Họ là những người có công lao trong
công cuộc giành độc lập và bảo vệ đất nước, được nhân dân, Tổ quốc đời đời
ghi nhớ và biết ơn. Trên thực tế đời sống của người có công và thân nhân của
họ nhìn chung còn gặp nhiều khó khăn bởi khả năng tham gia vào thị trường
lao động của “nhóm người” này không cao. Điều này bắt nguồn từ những tổn
thương về tinh thần và thể chất mà những cá nhân này đã đóng góp trong quá
trình bảo vệ Tổ quốc. Chính vì thế, thực hiện các hoạt động nhằm bảo đảm
tránh khỏi, hiện nay toàn tỉnh có hàng chục nghìn liệt sĩ, hàng chục nghìn
thương bệnh binh, hàng trăm bà mẹ Việt Nam anh hùng và cũng có hàng trăm
người có thành tích trong kháng chiến được Nhà nước tặng Huân, Huy chương
kháng chiến và Bằng khen các loại. Những đối tượng này nhiều năm qua
đã nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân toàn
tỉnh. Tuy nhiên nhằm tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, việc
thực hiện chính sách với người có công ở tỉnh Nam Định cần được nâng
cao hiệu quả hơn nữa, khắc phục những hạn chế khó khăn trong thời gian vừa
qua.
Từ những lí do trên, tiếp tục nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về chính
sách với người có công và vận dụng tư tưởng đó vào việc thực hiện chính
sách với người có công tại tỉnh Nam Định hiện nay là một việc làm có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Thực hiện chính sách đối với người có
công với cách mạng tại tỉnh Nam Định hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí
Minh” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước đến nay có rất nhiều các công trình khoa học nghiên cứu về vấn
đề thực hiện chính sách đối với người có công, về vấn đề phát triển vận dụng
chính sách với người có công theo tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí
Minh như:
2.1. Các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện
chính sách với người có công với cách mạng
Thành Công (2017), Sáng ngời tư tưởng Hồ Chí Minh về đền ơn đáp
nghĩa, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Lê Văn Tích (2003), “Chủ tịch Hồ Chí Minh với thương binh liệt sĩ”,
Tạp chí Lịch sử Đảng, (7).
Văn Phong (2007), “Hồ Chí Minh về chính sách thương binh liệt sĩ”,
Một là, làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện chính sách với người
có công cách mạng.
Hai là, phân tích thực trạng thực hiện chính sách người có công với cách
mạng ở tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay.
Ba là, đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện chính
sách với người có công cách mạng ở tỉnh Nam Định hiện nay theo tư tưởng
Hồ Chí Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách đối với người có công với cách
mạng và thực trạng thực hiện chính sách đối với người có công với cách
mạng ở tỉnh Nam Định hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách với người có công
với cách mạng.
Về không gian: Thực trạng thực hiện chính sách với người có công cách
mạng tại tỉnh Nam Định.
Về thời gian: Từ năm 2012 đến năm 2017.
5. Phương Pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và phương pháp duy vật lich sử.
Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp
lôgic, phân tích, tổng hợp, so sánh, làm rõ mục đích đề tài đề ra.
6. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, khóa
luận gồm 2 chương, 5 tiết.
những thương binh, đó là tử sĩ.
Trong “Lời kêu gọi nhân ngày 27-7-1948” Người cũng đã khái quát về
người có công:
Họ quyết hy sinh tính mệnh họ, để giữ gìn tính mệnh của đồng bào.
Họ hy sinh gia đình và tài sản họ, để bảo vệ gia đình và tài sản
của đồng bào.
Họ quyết liều chết chống địch, để cho Tổ quốc và đồng bào sống.
Họ là những chiến sĩ anh dũng của ta.
Trong đó, có người đã bỏ lại một phần thân thể ở trước mặt trận.
Có người đã bỏ mình ở chiến trường. Đó là thương binh, đó là tử sĩ…
[19, tr.580]
Bên cạnh đó Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra thêm một khái niệm
về người có công:
“Thương binh là những người đã đưa một phần xương máu phục vụ
cho Tổ quốc. Họ là anh hùng. Quân nhân phục viên đã đánh giặc bao
năm, như vậy là đã kinh qua một lịch sử vẻ vang” [24, tr.491].
Cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng một cách sáng tạo tư
tưởng Hồ Chí Minh. Theo Pháp lệnh ưu đãi dành cho người có công
cách mạng, ban hành theo quyết định năm 2005 “Người có công cách mạng”
là: Người hoạt động cách mạng trước ngày 1/1/1945; người hoạt động cách
mạng từ ngày 1/1/1945 đến trước Tổng khời nghĩa tháng 8/1945; liệt sĩ; bà mẹ
Việt Nam anh hùng; anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao
động; thương binh, những người hưởng chính sách như thương binh;
bệnh binh; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; người
hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù phải đày; người
hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ
quốc tế; người có công giúp đỡ cách mạng; thân nhân của những người có
công cách mạng.
Có hai con mà một con là liệt sĩ, một con là thương binh với thương tật
từ 81% trở lên.
Chỉ có một con mà người đó là liệt sĩ.
Có một con là liệt sĩ, chồng hoặc bản thân là liệt sĩ.
Người con là liệt sĩ bao gồm con đẻ và con nuôi của Bà mẹ được pháp
luật thừa nhận, và đã được Chính phủ tặng Bằng "Tổ quốc ghi công".
Bà mẹ có đủ một trong 4 trường hợp nêu trên do phải chịu đựng nỗi đau
mất con, mất chồng mà bị bệnh tâm thần, vẫn được tặng danh hiệu "Bà mẹ
Việt Nam Anh hùng".
Người chồng là liệt sĩ nói ở trên đây là người đã được Chính phủ tặng
Bằng "Tổ quốc ghi công" mà Bà mẹ là vợ của người đó được hưởng chế độ
tuất liệt sĩ.
Danh hiệu này do Chủ tịch nước ký tặng hoặc truy tặng theo đề nghị của
Chính phủ.
Người được tặng (truy tặng) được cấp bằng và huy hiệu "Bà mẹ Việt
Nam Anh hùng".
Thương binh, người được hưởng chính sách như thương binh: Thương
binh là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả năng lao
động từ 21% trở lên, được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp “Giấy chứng
nhận thương binh” và “Huy hiệu thương binh” thuộc một trong các trường
hợp sau: chiến đấu và trực tiếp thực hiện chiến đấu; bị địch bắt phải tra tấn
cơ quan có thẩm quyền công nhận đã tham gia công tác, chiến đấu, phục vụ
chiến đấu tại các vùng mà quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc hóa học, bị mắc
bệnh làm suy giảm khả năng lao động, sinh con dị dạng, dị tật hoặc vô sinh do
hậu quả của chất độc hóa học.
Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù,
đày: là người được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền công nhận trong
thời gian bị tù, đày không khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng chiến,
không làm tay sai cho địch.
Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm
nghĩa vụ quốc tế được hưởng các chế độ ưu đãi quy định tại Điều 31 của
Pháp lệnh ưu đãi người có công cách mạng (về trợ cấp, bảo hiểm): là người
tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng “Huân chương kháng chiến”, “Huy
chương kháng chiến”.
Người có công giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích giúp đỡ
cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm, bao gồm: Người được tặng Kỷ
niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước”; người
trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có
công với nước” trước cách mạng tháng Tám năm 1945; người được tặng
Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến; người trong gia
đình được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến.
1.1.2. Chính sách ưu đãi với người có công với cách mạng
Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, công tác người có công là một loại
chính sách xã hội đặc biệt thu hút sự tham gia của mọi đối tượng dân cư, mọi
ngành, mọi giới; không chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ mà còn là tình cảm,
lương tri sống ở đời và làm người, nói lên bản chất ưu việt của chế độ xã hội,
nét đẹp văn hóa ứng xử, đạo lý sống của con người Việt Nam. Trong các lực
lượng xã hội tham gia làm công tác người có công, Đảng Cộng sản phải là
người khởi xướng và lãnh đạo thông qua hệ thống các chủ trương, đường lối
một lần mức chuẩn (1.110.000đ). Tương tự, thân nhân của 2 liệt sĩ được nhận
2 lần mức chuẩn và của 3 liệt sĩ trở lên được nhận 3 lần mức chuẩn. Vợ hoặc
chồng liệt sĩ lấy chồng hoặc lấy vợ khác thì được hưởng trợ cấp tiền tuất hằng
tháng bằng một lần mức chuẩn. Các trường hợp thân nhân liệt sĩ được hưởng
trợ cấp tiền tuất hằng tháng bao gồm cha đẻ, mẹ đẻ, người có công nuôi
dưỡng liệt sĩ, con dưới 18 tuổi, con trên 18 tuổi nhưng còn đi học hoặc bị
khuyết tật nặng, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên và có thu nhập
hằng tháng thấp hơn 0,6 lần mức chuẩn, vợ hoặc chồng liệt sĩ lấy chồng hoặc
lấy vợ khác nhưng nuôi con liệt sĩ đến tuổi trưởng thành hoặc chăm sóc bố mẹ
liệt sĩ khi còn sống. Trường hợp liệt sĩ không còn người hưởng trợ cấp tiền
tuất hằng tháng thì người thờ cúng được hưởng trợ cấp thờ cúng mỗi năm một
lần 500.000 đồng.
Bà mẹ Việt Nam anh hùng được hưởng trợ cấp một lần, trợ cấp hằng
tháng, sống ở gia đình thì được hưởng trợ cấp người phục vụ. Khi Bà mẹ Việt
Nam anh hùng chết, người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí, đại diện
thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng 3 tháng trợ cấp, phụ cấp ưu đãi.
Mức trợ cấp người phục vụ Bà mẹ Việt Nam anh hùng mỗi tháng bằng một
lần mức chuẩn.
Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời
kỳ kháng chiến được hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng. Khi chết, người tổ
chức mai táng được nhận mai táng phí, được hưởng trợ cấp một lần bằng ba
tháng trợ cấp ưu đãi. Nếu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân, Anh hùng
Lao động trong thời kỳ kháng chiến khi chết mà chưa được nhận chế độ ưu
đãi hoặc truy tặng thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần.
Thương binh (bệnh binh) suy giảm khả năng lao động do thương tật
(bệnh tật) từ 81% trở lên được hưởng phụ cấp, hoặc phụ cấp đặc biệt hằng
tháng khi có vết thương đặc biệt nặng, nếu sống ở gia đình thì được nhận thêm
khoản trợ cấp người phục vụ. Người bị thương bị giảm khả năng lao động do
với cách mạng
1.2.1. Sự cần thiết phải thực hiện chính sách đối với người có công với
cách mạng
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành tình yêu thương, sự quan tâm, chăm
sóc đối với thương binh, gia đình liệt sĩ. Tình thương bao la ấy của người là
bài học vô cùng quý giá, trường tồn với thời gian.
Đầu tiên, thực hiện chính sách đối với người có công là bổn phận của
mỗi công dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng:
“Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân và gia đình liệt sĩ là những
người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Cho nên bổn phận của chúng ta là
phải biết ơn, phải thương yêu và giúp đỡ họ” [24, tr.372].
Thứ hai, thực hiện chính sách đối với người có công là kế thừa và phát
huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc “Uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp
nghĩa”, ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (năm
1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định chọn ngày 27-7 là ngày Thương
binh - Liệt sĩ, nhằm tôn vinh và tỏ lòng biết ơn đối với thương binh, bệnh binh
và gia đình liệt sỹ và người có công. Hồ Chủ tịch đã nói: “Thương binh, bệnh
binh, gia đình bộ đội, gia đình liệt sỹ là những người có công với Tổ quốc. Vì
thế bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, thương yêu và giúp đỡ họ”. Vì vậy,
chăm sóc, ưu đãi người có công với cách mạng có ý nghĩa chính trị, xã hội to
lớn và trở thành một nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến pháp nước Cộng
hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Điều 67 Hiến pháp năm 1992 quy định phải
thực hiện tốt các chính sách ưu đãi với người có công với nước, vận động
toàn xã hội tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, nâng cao mức sống về
mặt vật chất tinh thần của người có công. Đây là yếu tố nhằm thực hiện sự
tiến bộ và công bằng xã hội, góp phần ổn định chính trị, thúc đẩy sự nghiệp
đổi mới phát triển.
Trong cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do
Lòng thương người của Chủ tịch thể hiện ở sự đồng cảm với những
người thân trong gia đình bị mất con, em vì hi sinh cho Tổ quốc, xong rất đỗi
tự hào vì được “Tổ quốc ghi công”. Sự xúc động và cảm kích khi đọc thư của
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi bác sĩ Phạm Đình Tụng, khi được tin con trai ông
hi sinh: Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước
Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên là con cháu của tôi. Mất một
thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột.
Hồ Chí Minh cũng nói rằng nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng
cảm hi sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang
giống nòi. Họ chết đi cho Tổ quốc sống mãi. Vật chất họ mất nhưng tinh thần
họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt nam.
Thứ ba, thực hiện chính sách với người có công còn nâng cao ý thức
giáo dục đạo đức, tư tưởng, chính trị phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ cách
mạng của đất nước, dân tộc. Không phải sự mất mát nào cũng làm cho chúng
ta kính trọng, học tập, dù có thương cảm, mủi lòng, ngoại trừ hi sinh cho đất
nước làm cho cuộc sống hiện tại và tương lại mãi mãi tồn tại và phát triển. Đó
là những cái chết làm nên sự sống và trở thành bất tử. Tình cảm thân thiết,
tình đồng chí, đồng đội được cô đọng thể hiện trong “Bài điếu đồng chí Hồ
Tùng Mậu” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 1/8/1951 là Người với đồng chí
Hồ Tùng Mậu là đồng chí, lại thân thiết hơn anh em ruột. Khi hoạt động ở nơi
đất khách quê người, khi bị giam ở lao tù đế quốc, khi đấu tranh ở nước nhà,
hơn 25 năm, đã bao phen chúng ta đồng cam cộng khổ, như tay với chân…
Mất đồng chí Hồ Tùng Mậu, đồng bào mất một người lãnh đạo tận tụy, Chính
phủ mất một người cán bộ lão luyện, Đoàn thể mất một người đồng chí trung
thành và tôi mất một người anh em thân thiết. Mấy nguồn thương tiếc, cộng
dồn vào một lòng Người. Tính nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về
thương binh liệt sĩ không chỉ là thương tiếc, ngậm ngùi, đau xót và tự hào mà
còn gợi nên tinh thần bất khuất làm hồi sinh sức sống mãnh liệt của cả dân
tháng 7 năm 1947 làm “Ngày Thương binh toàn quốc” đầu tiên để bày tỏ tình
cảm thắm thiết, lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân đối với những người bị
thương tật vì đã không tiếc máu xương, cống hiến hết mình cho Tổ quốc.
Ngày 27-7 năm 1947, ngày Thương binh toàn quốc, mở đầu bằng cuộc
mit-tinh quan trọng đã được diễn ra tại xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ tỉnh Thái
Nguyên. Tại đây Ban tổ chức đã cử đại diện Chính trị Cục Quân đội Quốc gia
Việt Nam trịnh trọng đọc thư của Hồ Chí Minh gửi cho Ban Thường trực của
Ban Tổ chức ngày thương binh toàn quốc. Hồ Chí Minh cũng gửi tặng một
chiếc áo lụa, một tháng lương và một bữa ăn của nhân viên trong Phủ Chủ
tịch. Trong thư, Người viết:
Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền
chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân
thích, họ hàng ta bị đe dọa, của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng
mạc ta bị nguy ngập, ai là người xung phong trước hết để chống cự quân
thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta? Đó là những chiến sĩ mà nay một
số thành ra thương binh… Thương binh là những người đã hi sinh xương
máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, vì lợi ích của Tổ quốc, của
đồng bào mà các đồng chí đó bị ốm, bị yếu…. Vì vậy, Tổ quốc và đồng
bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy [19, tr.204].
Những câu nói trong thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho thấy một tư
tưởng hết sức nhân văn và ý nghĩa. Những người anh dũng đó đã hi sinh một
phần rất lớn để để mang lại cho Tổ quốc ta sự độc lập tự do và hạnh phúc
ngày hôm nay.
Tiếp đó, nhân ngày 27-7 năm 1948, Hồ Chí Minh cũng có lời kêu gọi:
Khi nạn ngoại xâm ào ạt đến, nó như một trận lụt to. Nó đe dọa tràn
ngập cả non song Tổ quốc. Nó đe dọa cuốn trôi cả tính mệnh, tài sản,
chìm đắm cả bố mẹ, vợ con của nhân dân ta. Trước cơn nguy hiểm ấy, số
đông thanh niên yêu quý của nước ta đã dũng cảm xông ra mặt trận. Họ
nặng hay nhẹ do Hội đồng quân Y Bộ quốc phòng xét định, áp dụng cho: binh
và sĩ, úy và tá, tướng, nếu Hội đồng quân Y xét thương tật không thể tang
hoặc giảm thì được cấp hưu bổng vĩnh viễn ngay.
Cùng với đó là sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với con cái và
gia đình họ. Những quân nhân bị thương tật từ 50 độ trở lên nếu có con chính
thức đủ điều kiện trong điều thứ 8 sau này sẽ được lĩnh gia cấp bất cứ là được
cấp hưu bổng vĩnh viễn hay tạm thời . Gia cấp cho mỗi xuất con, mỗi tam cá
nguyệt sẽ do một nghị định của ông Bộ trưởng bộ Quốc phòng ấn định. Cha
mẹ vợ con các tử sĩ được cấp tiền tuất. Tiền tuất cho mẹ, vợ, con sẽ do Nghị
định của ông Bộ trưởng bộ Quốc phòng ấn định. Lương hưu thương tật hay
tiền tuất cho thân nhân tử sĩ sẽ không đem nhượng hay bán hoặc khấu trừ.
Trong đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cho thấy rõ rằng những quân nhân
tại ngũ trong các ngành quân đội quốc gia Việt Nam, chết trong các trường
hợp sau này thì được gọi là tử sĩ: vì giao chiến với quân địch, vì thừa hưởng
một công cụ, vì tận tâm với một việc ích chung, vì cứu một hay nhiều người,
hoặc nguyên do vì đã bị thương trong những trường hợp ấy mà chết.
Thứ hai, những chính sách của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đảm bảo cho
người có công về mặt đời sống chính trị. Người đã ban hành sắc lệnh ấn định
việc khen thưởng tới các gia đình có con lên đường tòng quân, Sắc lệnh số
129/SL ngày 16/12/1952 ấn định việc khen thưởng những nhà có 3 con trở lên
tòng quân.
Để tỏ lòng biết ơn, niềm tự hào của Chính phủ và nhân dân đối với chiến
sĩ và gia đình chiến sĩ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra bảng “Bảng vàng danh
dự” và bảng “Gia đình vẻ vang” để tặng thưởng cho các gia đình chiến sĩ.
Trong đó, Bác cũng có các quy định rõ ràng cho “Bảng vàng danh dự”
được tặng cho những gia đình có 3 người con, cháu hoặc em còn ở chung
thuộc các hạng như: là bộ đội chủ lực , hoặc đã hy sinh hoặc đã được phép
giải ngũ, hiện ở bộ đội địa phương đã hơn hai năm hoặc trước đã ở bộ đội địa