Một số biện pháp tăng cường tiếng việt cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi trường mầm non tân phúc huyện lang chánh tỉnh thanh hóa - Pdf 57

I. Mở đầu.
1. Lý do chọn đề tài.
Trẻ em là một trong những đối tượng được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan
tâm và giáo dục nhiều nhất, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm, là tình
thương và hạnh phúc của mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng. Truyền
thống ấy đã được thể hiện qua văn hóa dân gian Việt Nam: “Dạy con từ thủa
còn thơ”. Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc giáo dục trẻ em vì trí tuệ, tính
cách con người phụ thuộc rất lớn vào nội dung phương pháp giáo dục lứa tuổi
này. Mục tiêu của giáo dục trước hết đối với mỗi cá nhân là hoàn thiện nhân
cách, phát triển toàn diện, để đạt được mục tiêu đó điều đầu tiên cần phải giáo
dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Vì ngôn ngữ là phương tiện giúp giữ gìn bảo
tồn và phát triển kinh nghiệm của loài người, là công cụ quan trọng giúp trẻ
phát triển trí tuệ, tiếp thu kiến thức học tập ở trường, lớp. Ngôn ngữ giúp trẻ
hình thành những kĩ năng nghe, nói, tiền đọc, tiền viết, là nền tảng để trẻ hiểu
về thế giới chữ viết và tiếp nhận nhiều tri thức mới. Với tất cả chúng ta, tiếng
mẹ đẻ bao giờ cũng là ngôn ngữ đầu tiên và dễ dàng tiếp cận nhất, tạo cảm giác
tự tin, thoải mái trong quá trình giao tiếp. Hiện nay, ngôn ngữ sử dụng trong hệ
thống giáo dục quốc dân của nước ta là tiếng Việt. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính
thức dùng trong nhà trường và các cơ sở giáo dục từ mầm non đến đại học[1].
Tiếng Việt là phương tiện để thực hiện quá trình giao tiếp giữa cô và trẻ, tạo
mối quan hệ gần gũi, gắn bó, là động lực để giúp trẻ phát triển và lĩnh hội kiến
thức. Nhờ có tiếng Việt mà trẻ có thể lắng nghe, tìm hiểu và nhận biết được ngày
càng nhiều các sự vật hiện tượng trẻ tiếp xúc được trong cược sống hàng ngày,
giúp trẻ hình thành và phát triển các biểu tượng phong phú về thế giới xung quanh.
Đối với trẻ mầm non, tiếng Việt là công cụ giúp trẻ hoạt động vui chơi, trao
đổi những ý đồ chơi, giao lưu tình cảm trong lúc chơi, phát triển khả năng tư
duy, trí tưởng tượng, tình cảm, đạo đức và thẩm mĩ cho trẻ. Tiếng Việt giúp trẻ
hòa nhập với cộng đồng và trở thành thành viên của cộng đồng. Tiếng Việt có
vai trò rất lớn, là phương tiện quan trọng nhất để trẻ lĩnh hội nền văn hóa dân
tộc, tạo mối quan hệ với những người xung quanh, giúp trẻ tư duy, tiếp thu khoa
học và hình thành phát triển nhân cách của trẻ [2].

Xuất phát từ những lý do trên cộng với mong muốn trẻ mầm non vùng dân
tộc thiểu số có được một cuộc sống hòa nhập, một kĩ năng giao tiếp tốt, mạnh
dạn, tự tin hòa nhập với cộng đồng và có vốn tiếng Việt phong phú, đa dạng, tạo
tiền đề để trẻ tiếp tục vững bước trên các cấp học tiếp theo, tôi đã mạnh dạn lựa
chọn, nghiên cứu và thực hiện đề tài “Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt
cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi vùng dân tộc thiểu số tại trường Mầm non Tân
Phúc, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa”
2. Mục đích nghiên cứu:
Thông qua các hoạt động tăng cường tiếng Việt giúp trẻ phát triển tốt kĩ
năng nghe, nói, tiền đọc, tiền viết, khả năng giao tiếp với cô, bạn bè, mọi người
xung quanh bằng tiếng Việt. Mở rộng vốn từ cho trẻ, giúp trẻ mạnh dạn, tự tin
hòa nhập với cộng đồng và xã hội, giúp cho trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt
và lĩnh hội kiến thức một cách tốt nhất, chuẩn bị tốt mọi hành trang để trẻ tự tin
bước vào lớp 1 và tạo tiền đề cho việc học tập của trẻ ở các cấp học tiếp theo.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi vùng dân tộc thiểu số tại trường mầm non Tân
Phúc, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Tham khảo tài liệu về tăng cường, hướng dẫn dạy trẻ làm quen tiếng
Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số
- Phương pháp trao đổi với phụ huynh.
- Phương pháp khảo sát
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp trực quan hành động.
- Phương pháp thống kê và xử lí số liệu.

2


II. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

chừng. Chính vì vậy, tăng cường dạy tiếng Việt cho trẻ mầm non nói chung và trẻ dân
tộc thiểu số nói riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của giáo dục mầm
non. Hoạt động này không những nhằm giúp trẻ hình thành và phát triển kỹ năng
nghe, nói, tiền đọc, tiền viết mà còn giúp trẻ phát triển khả năng tư duy, nhận thức,
tình cảm... Là chiếc cầu nối giúp trẻ lĩnh hội kiến thức, đúc kết kinh nghiệm và tạo
tiền đề để trẻ tự tin bước tiếp trên con đường tương lai phía trước [4].
Lứa tuổi mầm non là thời kỳ phát cảm ngôn ngữ. Đây là giai đoạn có nhiều
điều kiện để trẻ lĩnh hội tốt khả năng nói tiếng Việt và các kĩ năng đọc viết ban đầu
ở trẻ. Ở giai đoạn này, trẻ có thể đạt được những thành tích vĩ đại mà ở các giai đoạn
sau không thể có được, trẻ học nghĩa và cấu trúc của từ, cách sử dụng ngôn ngữ để
chuyển tải suy nghĩ và cảm xúc của người thân, hiểu mục đích và cách thức con
người sử dụng ngôn ngữ nói và viết. Cùng với quá trình lĩnh hội ngôn ngữ thứ hai,

3


trẻ lĩnh hội và phát triển các năng lực tư duy như xây dựng và biểu đạt ý tưởng, chia
sẻ thông tin với người khác và tiếp nhận, đáp lại thông tin với người khác.
Đối với trẻ mầm non nói chung và trẻ mẫu giáo 5 –6 tuổi nói riêng, việc
phát triển khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt và hình thành những kỹ năng nghe,
nói, tiền đọc, tiền viết ở trẻ là hoạt động vô cùng cần thiết, quan trọng để đảm
bảo cho cho trẻ có kỹ năng cơ bản trong việc hoàn thành giáo dục mầm non, tạo
tiền đề để trẻ học tập, lĩnh hội tri thức của các cấp học tiếp theo, góp phần nâng
cao chất lượng cuộc sống, xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy quá trình phát triển đất
nước Việt Nam ngày một giàu mạnh, văn minh và hiện đại.
2. Thực trạng:
Trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tuy đã có khả năng giao tiếp và học tập bằng ngôn
ngữ tiếng Việt song vốn từ của trẻ đang còn hạn hẹp, chưa được phong phú, khả
năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp chưa chính xác, phát âm không chuẩn,
các thanh ngã, thanh sắc đang còn lẫn lộn, tình trạng nói ngọng, nói ngược vẫn

4


tiếng Việt khi ở trường còn khi về với gia đình trẻ lại sống trong môi trường
thuần tiếng dân tộc.
Tình hình dân trí thực tế ở địa phương vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu, vẫn
giữ những phong tục cổ hủ như làm ma, làm vía, kiêng khem không đúng khoa
học ....dẫn đến tình trạng cho con nghỉ học vô lí do vẫn còn tồn tại. Một số phụ
huynh vẫn chưa thực sự quan tâm đến tình hình học tập cũng như khả năng phát
triển của con em mình .
c) Khảo sát:
Được áp dụng và thực hiện tại lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi A2 khu Tân Thành
trường mầm non Tân Phúc.
Bảng khảo sát đầu năm
STT
1
2
3
4
5

Nội dung
Kỹ năng nghe, hiểu tiếng
Việt
Kỹ năng nói thành thạo
tiếng Việt
Kỹ năng nói đúng ngữ
pháp
Vốn từ tiếng Việt của trẻ
Kỹ năng giao tiếp mạnh

8

32

17

68

25

5

20

20

80

25

5

20

20

80

25


là một nhiệm vụ đầu tiên trong kế hoạch hàng tháng của nhóm lớp. Vì vậy, trang
trí, sắp xếp và xây dựng môi trường lớp học đẹp, khoa học, phù hợp cũng là một
trong những biện pháp tuyên truyền thu hút trẻ đến lớp.
Môi trường lớp học rất quan trọng, để môi trường lớp học được phù hợp,
tôi phải căn cứ vào thực tế diện tích của lớp học, phân chia lớp thành các góc
chơi khác nhau, tạo các góc mở để trẻ có nhiều cơ hội tham gia học tập tại các
góc đó, bố trí, sắp sếp gọn gàng, hợp lí, khoa học, tăng cường sử dụng các
nguyên vật liệu sẵn có, gần gũi với trẻ để trang trí.. Việc sắp sếp các góc chơi,
không gian chơi hợp lí, góc ồn ào cách xa các góc yên tĩnh, sử dụng các giá góc
có độ cao vừa phải, tạo điều kiện cho trẻ dễ lấy, dễ dàng hoạt động. Ngoài ra, tôi
đã xây dựng lồng ghép “môi trường chữ” vào các góc chơi, vừa giúp trẻ hoạt
động một cách tự nhiên, vừa tạo điều kiện để trẻ học tiếng Việt ở mọi lúc, mọi
nơi. Mỗi góc chơi, mỗi đồ dùng, đồ chơi đều có tên gọi để giúp trẻ có thể nhận
biết, gọi tên trong lúc chơi, từ đó giúp mở rộng vốn từ cho trẻ. Các đồ dùng, đồ
chơi đã được lựa chọn kĩ càng và có tính mục đích rõ ràng để khi chơi, trẻ vừa
lĩnh hội được kiến thức lại vừa phát triển vốn tiếng Việt tốt hơn.
Ví dụ: Góc bán hàng, khi thực hiện ở chủ đề Thế giới thực vật, tôi đã xây
dựng cửa hàng bán rau, củ, quả sạch với rất nhiều các loại rau, củ, quả gần gũi
với trẻ và có ở địa phương, sắp xếp khoa học với độ cao vừa phải, đảm bảo cho
trẻ dễ dàng lấy và cất trong mỗi lần chơi. Mỗi loại rau, củ, quả đều được ghi chú
tên gọi cụ thể, chính xác, kiểu chữ phù hợp với lứa tuổi mầm non để trong quá
trình chơi trẻ có thể gọi tên, nhận biết được đặc điểm, lợi ích của các loại rau,
củ, quả. Qua đó trẻ không những lĩnh hội, tiếp thu được kiến thức mà còn giúp
vốn tiếng Việt của trẻ được mở rộng, khả năng nói và phát âm được nâng cao.
Với góc chơi này, tôi phải thay đổi cách bố trí, sắp xếp, đồ dùng, đồ chơi theo
từng chủ đề để thu hút và tránh sự nhàm chán cho trẻ.

6



Môi trường bên ngoài có vai trò vô cùng quan trọng, sau khoảng thời gian
trẻ hoạt động trong lớp là lúc trẻ được hòa mình vào không gian bên ngoài một
cách thoải mái nhất. Trẻ được trải nghiệm một cách tích cực vào các hoạt động
vui chơi, vận động như chạy, nhảy, leo trèo, nhặt lá, nhổ cỏ, học các chữ cái trên
cây, ... Từ đó, tạo hứng thú để trẻ tham gia tích cực, được trải nghiệm các hoạt
động khác nhau, để được trò chuyện với nhau bằng tiếng Việt.
Ngay từ đầu năm, được sự chỉ đạo của nhà trường, tôi đã tham gia cùng các
đồng chí giáo viên trong khu cải tạo khuôn viên, xây dựng môi tường bên ngoài
xanh, sạch, đẹp, an toàn, ngoài ra tôi gắn các chữ cái, những câu từ, thông điệp ở các
gốc cây, thân cây,...nhằm giúp trẻ có cơ hội làm quen với chữ viết ở mọi lúc mọi nơi
cũng như hình thành khả năng quan sát và “đọc hiểu tiếng Việt của trẻ. Xây dựng
“thư viện của bé” với đa dạng các loại sách, tranh truyện... để trẻ có thể xem tranh,
thảo luận với bạn bè, đọc những hình ảnh có trong tranh, từ đó giúp trẻ mở rộng khả
năng giao tiếp, phát triển vốn từ và nâng cao kỹ năng nói tiếng Việt cho trẻ.

8


Hình ảnh: Một góc trong môi trường bên ngoài
b) Xây dựng môi trường xã hội
Môi trường xã hội là môi trường gắn bó, yêu thương giữa cô và trẻ. Trước
hết, cô phải là người luôn luôn gần gũi, tôn trọng sở thích của trẻ, lắng nghe trẻ
nói và đáp ứng những nhu cầu chính đáng của trẻ. Tạo bầu không khí vui vẻ,
thân thiện, giao lưu trò chuyện cùng với trẻ, tạo niềm tin để trẻ cảm thấy an toàn
khi được đi học, tuyệt đối không phân biệt đối xử, kỳ thị trẻ, không cấm trẻ nói
chuyện mà nên khuyến khích trẻ nói chuyện và giao lưu với nhau bằng tiếng
Việt trong các hoạt động chơi như hoạt động góc, hoạt động chiều... chú ý lắng
nghe trẻ nói, trò chuyện với trẻ ở mọi lúc, mọi nơi với thái độ cởi mở, vui tươi
để trẻ cảm thấy tự tin khi giao tiếp trò chuyện cùng cô và các bạn.
Ngoài ra, mỗi giáo viên nói chung và bản thân tôi nói riêng cần phải xây dựng

thơ, truyện, khám phá khoa học, cùng tôi tổ chức những trò chơi cho trẻ... Phụ
huynh đã giúp tôi giải thích nghĩa của những từ mới, từ khó bằng tiếng mẹ đẻ, sau
đó chuyển đổi sang ngôn ngữ thứ hai là tiếng Việt. Điều đó vừa giúp phát triển
ngôn ngữ mẹ đẻ cho trẻ và vừa tạo cơ hội để trẻ hiểu nghĩa và học ngôn ngữ thứ
hai dễ dàng thuận lợi hơn, hoặc khi tổ chức các trò chơi học tập, có thể hướng dẫn
chơi và tổ chức cho trẻ chơi thử bằng tiếng mẹ đẻ sau đó mới chuyển sang hướng
dẫn và chơi bằng tiếng Việt. Điều đó sẽ tạo hứng thú cho trẻ, giúp trẻ tích cực tham
gia vào hoạt động và góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy tiếng Việt cho trẻ.
Ví dụ 1: Đối với giờ hoạt động học Khám phá khoa học “Tìm hiểu một số
loại quả”, tôi tổ chức cho trẻ hoạt động theo nhóm, với mục đích để trẻ tự tìm tòi,
khám phá, trò chuyện với bạn bè để tìm ra tên gọi, đặc điểm của các loại rau củ,
quả, như vậy vừa đảm bảo được những tiêu chí trong dạy học lấy trẻ làm trung
tâm, vừa kích thích trẻ được nói, trao đổi với bạn bè và phát triển ngôn ngữ tốt
hơn. Với hình thức tổ này, cộng tác viên sẽ phối hợp với tôi để giới thiệu tên gọi
cũng như đặc điểm, công dụng của các loại rau, củ, quả bằng tiếng mẹ đẻ nhằm
mục đích giúp trẻ hiểu nghĩa của từ, sau khi tìm hiểu xong, tôi sẽ mời đại điện các
nhóm lên trình bày hiểu biết của mình về các loại rau củ, quả bằng tiếng Việt và
vai trò của cộng tác viên lúc này là hỗ trợ và giúp đỡ nếu trẻ gặp khó khăn, cuối
cùng tôi mới là người cung cấp những kiến thức và giúp trẻ nhận biết tên gọi, các
đặc điểm của một số loại rau, củ, quả bằng tiếng Việt.

10


Hình ảnh: Cộng tác viên hỗ trợ giáo viên trong giờ khám phá khoa học
Ví dụ: Đối với những giờ hoạt động góc, vai trò của cộng tác viên hỗ trợ
ngôn ngữ lúc này là hướng dẫn trẻ chơi, trò chuyện, tham gia chơi cùng với trẻ,
giải thích những từ ngữ, nội dung chơi mà trẻ không hiểu bằng tiếng mẹ đẻ để
giúp trẻ chơi tốt hơn, hứng thú và tự tin hơn, như ở góc bán hàng, cộng tác viên sẽ
đóng vai làm người mua hàng, trò chuyện với trẻ về các loại thực phẩm mà trẻ

Biện pháp 3: Tăng cường tiếng việt cho trẻ thông qua các hoạt động học
Việc tăng cường tiếng việt cho trẻ thông qua các hoạt động học như thế nào
cho hiệu quả nhất. Thông thường trẻ sẽ được làm quen với những từ mới, từ khó
và học nói tiếng Việt qua giờ hoạt động làm quen với tiếng Việt được thực hiện
2 lần 1 tuần vào buổi chiều, nhưng như vậy chưa tận dụng phát huy được hết
những cơ hội để trẻ được hoạt động, trải nghiệm làm quen tiếng việt một cách
hiệu quả, vì vậy, tôi đã tăng cường dạy trẻ và cho trẻ làm quen tiếng Việt vào
những giờ học khác nhau
a) Tăng cường tiếng việt cho trẻ qua hoạt động làm quen với Toán
Trong các giờ học làm quen với Toán, với tư cách ngôn ngữ thứ hai, sẽ có
rất nhiều các thuật ngữ, khái niệm, định nghĩa mà trẻ dân tộc thiểu số cần nắm
được, nói được và hiểu được nghĩa như: so sánh, nhiều hơn, ít hơn, cao hơn,
thấp hơn, hình tròn, hình vuông, hình tam giác.... Để quá trình cho trẻ làm quen
với toán đạt hiệu quả thì việc đầu tiên cô phải giúp trẻ hiểu được nghĩa của các
từ thì trẻ mới hiểu được nội dung bài học.
Ngôn ngữ toán học đòi hỏi sự chính xác nên khi lồng ghép việc dạy trẻ
làm quen tiếng Việt cô phải chú ý đến độ chính xác, dạy trẻ nói câu và hiểu
nghĩa của câu, cô nói mẫu nhiều lần để trẻ lắng nghe và phát âm, chú ý cho tất
cả các trẻ được nói, được trả lời.
Ví dụ: Khi dạy trẻ đếm đến 7, nhận biết các nhóm có 7 đối tượng, nhận
biết chữ số 7 ở chủ đề bản thân, ngoài việc cung cấp và hình thành kiên thức cho
trẻ, cô cần cho trẻ làm quen với các từ mới như: nhiều hơn, ít hơn, bằng nhau và
dạy trẻ nói đủ câu như: Cái áo, cái quần, nhóm áo nhiều hơn, nhóm quần ít hơn,
nhóm áo và nhóm quần bằng nhau và đều bằng 7, Cô cần nói mẫu để trẻ lắng
nghe và cho trẻ nói lại, chú ý cho cả lớp, tổ, nhóm, cá nhân trẻ được nói.

12


b) Tăng cường tiếng việt cho trẻ qua hoạt động khám phá khoa học –

của trẻ cũng được mở rộng, khả năng nói tiếng Việt lưu loát, rõ ràng và mạch lạc hơn.
c) Tăng cường tiếng việt cho trẻ qua hoạt động âm nhạc.
Âm nhạc là giờ học thu hút sự hứng thú của trẻ tương đối nhiều, ở giờ học
này, trẻ được múa, được hát, được lắng nghe cô hát và chơi các trò chơi âm
nhạc. Trong các bài hát sẽ có những từ mới, từ khó mà trẻ chưa biết.Vì vậy,
trước khi dạy trẻ, tôi đã rà soát, xác định những từ, câu mới mà trẻ chưa biết để
dạy trẻ nói và hiểu nghĩa của các từ, câu đó.
Ngoài ra tôi chú ý dạy trẻ hát đúng lời, rõ lời, hát tròn tiếng, rõ tiếng.
Trước khi dạy trẻ hát, tôi cho trẻ đọc câu hát đó trước rồi mới dạy trẻ hát từng
câu, giúp trẻ hiểu được nghĩa, nội dung của câu hát, bài hát.
Ví dụ: Trong giờ dạy trẻ hát và vận động bài: “Em yêu cây xanh”. Việc
đầu tiên tôi cần làm là xác định từ và mẫu câu mới cần dạy trẻ, “cái cây” cũng là
từ mà đa số trẻ dân tộc thiểu số đều bị phát âm sai dấu. “Cái cây” thành “cái

13


cay”. Vì vậy, từ mới cần dạy trẻ là từ “cái cây” và mẫu câu mới ở đây là “Đây là
cái cây xanh xanh”, ...chú ý sửa sai cho những trẻ nói ngọng, nói sai
d) Tăng cường tiếng việt cho trẻ qua hoạt động tạo hình
Trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ 5 – 6 tuổi nói riêng rất hứng thú với các
hoạt động tạo hình. Tuy nhiên, muốn trẻ thực hiện tốt thì giáo viên phải dạy trẻ
nói và giải thích nghĩa của những từ mới. Điều đó vừa có thể giúp trẻ hiểu hết
được nội dung và thực hiện bài học một cách sáng tạo vừa cung cấp vốn từ và
khả năng nói tiếng việt của trẻ được lưu loát, thành thạo
Trong quá trình thực hiện hướng dẫn trẻ quan sát, nhận xét tranh mẫu, cô
chú ý dạy trẻ nói đủ câu, đúng ngữ pháp, nói lưu loát, để giúp trẻ tăng khả năng
biểu đạt ngôn ngữ.
Ví dụ: Với đề tài “Xé dán một số loại quả”. Cô cần cung cấp và dạy trẻ
những từ mới như “quả cam”, “quả táo”, “ quả chuối’, “chùm nho’.... Ngoài ra

Biện pháp 4: Tăng cường tiếng việt cho trẻ thông qua các hoạt động chơi
Ngôn ngữ tiếng Việt là cầu nối giữa cô và trẻ, giữa trẻ và trẻ khi ở trường,
nhờ có tiếng Việt mà trẻ tiếp thu lĩnh hội được kiến thức, nhận thức được cái
hay, cái đẹp trong cuộc sống xung quanh, vẻ đẹp của thiên nhiên, trường lớp.
Hay nói cách khác, tiếng Việt là ngôn ngữ chính để sử dụng khi trẻ đến trường,
lớp. Tăng cường tiếng Việt cho trẻ không chỉ được lồng ghép vào các hoạt động
học, mà còn được tăng cường thực hiện thông qua các hoạt động chơi của trẻ.
Trẻ vừa được giao lưu với bạn bè, cô giáo, được vui chơi thoải mái, vừa trực tiếp
lĩnh hội kiến thức và phát triển ngôn ngữ tiếng Việt, mở rộng vốn từ, tăng khả
năng giao tiếp một cách tự nhiên.
a) Tăng cường tiếng việt cho trẻ qua chơi trong giờ đón trẻ:
Giờ đón trẻ là lúc cô giáo cần tạo bầu không khí vui vẻ, thoải mái để chào
đón trẻ đến lớp, tạo cho trẻ cảm giác tự tin, an toàn khi chào bố mẹ và ở lại với
cô. Qua giờ đón trẻ, cô cần dạy trẻ biết chào cô giáo, chào bố mẹ, ông bà, trò
chuyện với trẻ về những câu truyện gần gũi hoặc gợi ý để trẻ tự kể chuyện, tự
giới thiệu về những việc làm hoặc những công việc ở gia đình....
Trong giờ chơi tự do, tôi tạo điều kiện để trẻ được thoải mái chơi những
trò chơi trẻ thích, khám phá những điều trẻ thấy tò mò, xem tranh, ảnh, sách
truyện, trò chuyện với bạn... Ngoài ra, tôi trò chuyện cùng với trẻ, hỏi trẻ những
câu hỏi gần gũi như: “Con đang làm gì?”, “Bạn đang làm gì?”, “Con thích đồ
chơi nào?”, “Con đang chơi trò gì vậy?”,.... hoặc cho trẻ chơi một số trò chơi
nhẹ nhàng, vui nhộn. Điều đó sẽ kích thích trẻ nói, giao tiếp bằng tiếng Việt
được nhiều hơn, vốn từ rõ ràng, mạch lạc hơn.
b) Tăng cường tiếng việt cho trẻ qua chơi, hoạt động ngoài trời
Sau mỗi giờ hoạt động học tôi cho trẻ tham gia các hoạt động ngoài trời,
tôi tổ chức cho trẻ dạo chơi, quan sát và khám phá môi trường bên ngoài với
những cảnh đẹp, rừng cây, sự thay đổi của thời tiết, trải nghiệm với nắng gió,
bóng râm, những con vật đang yêu gần gũi, mô hình thu nhỏ các di tích lịch sử
của huyện Lang Chánh như Thác Ma Hao, di tích Chùa Mèo... từ những hình
ảnh đó tôi kết hợp trò chuyện với trẻ, cho trẻ gọi tên và nêu nhận xét của mình.


16


Hình ảnh: Trẻ chơi trong góc văn học
d) Tăng cường tiếng việt cho trẻ qua chơi, hoạt động theo ý thích
(Hoạt động chiều)
Với thời điểm này, cô có thể tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi, ôn bài, làm
quen bài mới hoặc tham gia các hoạt động lao động tự phục vụ, lao động trực
nhật, lao động nhóm, tập thể... theo ý thích của trẻ. Trẻ được tự do lựa chọn các
góc chơi, nội dung chơi. Tuy nhiên để thực hiện được nội dung tăng cường tiếng
Việt cho trẻ qua hoạt động chơi theo ý thích này, tôi đã sắp xếp đồ chơi, lựa
chọn các loại đồ chơi, trò chơi có nội dung liên quan đến tăng cường tiếng Việt
cho trẻ ở các góc chơi, sau đó gợi ý để trẻ lựa chọn theo ý thích của mình.
Ví dụ: - Cô gợi ý những trò chơi ôn luyện từ, câu đã học như: “Chơi nối
tiếp”, chơi “Ai nói được nhiều tên con vật”, hoặc một số trò chơi dân gian có
mục đích luyện kĩ năng nói như “Dung dăng dung dẻ”, “ Lộn cầu vồng”....
Biện pháp 5: Trao đổi, phối hợp với phụ huynh và cộng đồng trong
công tác tăng cường tiếng Việt cho trẻ.
a) Trao đổi, phối hợp với phụ huynh
Học tiếng việt đối với trẻ em dân tộc là học ngôn ngữ thứ hai. Quá trình
trẻ em dân tộc học tiếng việt khác với quá trình học ngôn ngữ mẹ đẻ. đó cũng
chính là lí do khiến cho việc dạy trẻ nói tiếng Việt ở trường gặp không ít khó
khăn. Để trẻ có thể tự tin đến trường, tiếp thu tốt kiến thức, mạnh dạn trong giao
tiếp với cô và bạn bè bằng tiếng phổ thông thì ngoài cô giáo, cha mẹ và người
thân của trẻ phải giúp trẻ có một môi trường sinh hoạt, học tập và giao tiếp bằng
tiếng Việt. Có như vậy, quá trình học tập và lĩnh hội kiến thức cũng như khả
năng giao tiếp của trẻ mới đạt hiệu quả cao.
Nhận thức được điều đó, tôi đã trao đổi với các bậc phụ huynh để cùng
phối kết hợp với cô giáo trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ cũng như việc

đình hay cộng đồng thì tiếng Việt của trẻ sẽ tiến bộ rất nhanh. Chính vì vậy,
ngoài việc tuyên truyền phối hợp dạy trẻ nói tiếng Việt ở nhà, tôi đã vận động,
tuyên truyền mọi người dân, các tổ chức, ban ngành trong thôn bản tạo cơ hội và
điều kiện để trẻ được hoạt động, giao tiếp bằng tiếng Việt. Đó sẽ là điều kiện tốt
nhất để giúp trẻ mạnh dạn, tự tin bước vào các cấp học tiếp theo, dễ dàng có
những hiểu biết về xã hội rộng lớn hơn.
Để thực hiện được điều đó, việc đầu tiên tôi đã trao đổi và phối hợp cùng
với Trưởng thôn, Hội phụ nữ thôn xây dựng thư viện sách, tranh ảnh, xây dựng

18


lồng ghép môi trường chữ viết tiếng Việt, tổ chức các trò chơi ngay tại nhà văn
hóa của Thôn – nơi mà trẻ hay tập trung chơi đùa ngay sau khi tan học và những
ngày nghỉ. Ngoài ra, tôi phối hợp cùng đoàn thanh niên của xã tuyên truyền rộng
rãi đến toàn thể người dân hãy giao tiếp với nhau và với trẻ bằng tiếng Việt, tổ
chức những trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ, tổ chức sân chơi cộng đồng,
câu lạc bộ “Bé với tiếng Việt”, tổ chức những ngày hội, ngày lễ như ngày tết
trung thu, ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6, tạo cơ hội để trẻ được tham gia phát biểu,
đọc thơ, đồng dao, ca dao, kể truyện... và giao lưu với bạn bè.

Hình ảnh: Trẻ tham gia giao lưu, trò chuyện và chơi trò chơi vào ngày 1/6
Ngoài ra tôi còn tuyên truyền phối hợp với cán bộ y tế thôn bản để thông
qua những buổi tiêm chủng, các cán bộ y tế thôn có thể lồng ghép việc tuyên
truyền cho các bậc phụ huynh hiểu được tầm quan trọng của ngôn ngữ tiếng
Việt, giao tiếp với trẻ bằng tiếng Việt, từ đó sẽ là điều kiện thuận lợi nhất để quá
trình học tiếng Việt của trẻ đạt hiệu quả cao.

Hình ảnh: Cán bộ Y tế thôn tuyên truyền với các bậc cha mẹ về tiếng Việt


tiếng Việt
Kỹ năng nói đúng ngữ
pháp
Vốn từ tiếng Việt của trẻ
Kỹ năng giao tiếp mạnh
dạn, tự tin của trẻ

25

25

100

0

0

25

22

88

3

12

25

20

III. Kết luận, kiến nghị
1. Kết luận
Sau quá trình nghiên cứu và thực hiện các biện pháp tăng cường tiếng Việt
cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại trường mầm non Tân Phúc tôi thấy trẻ lớp mình phát
triển tốt về mọi mặt nói chung cũng như về khả năng nói tiếng Việt nói riêng. Trẻ
thông minh, nhanh nhẹn, chủ động tích cực trong mọi hoạt động tìm tòi và khám phá
thế giới xung quanh, tiếp thu lĩnh hội kiến thức tốt. Bên cạnh đó, khả năng nói tiếng
Việt của trẻ trở lên lưu loát hơn, rõ ràng và mạch lạc hơn, trẻ mạnh dạn, tự tin trong
giao tiếp, thói quen tự phục vụ tốt hơn, tinh thần đoàn kết phối hợp cao hơn.
Nâng cao chất lượng giáo dục phát triển kỹ năng nói tiếng Việt cho trẻ là
việc làm vô cùng cần thiết, là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu cần được chú trọng
và thực hiện. Tôi thường xuyên và tích cực cho trẻ được nói, được mở rộng vốn
từ và khả năng hiểu biết về tiếng Việt ở mọi lúc mọi nơi, bên cạnh đó cũng
không ngừng sưu tầm phương pháp mới, những đồ chơi thu hút trẻ vào hoạt
động, tăng cường tích cực vận động phụ huynh cũng như cộng tác viên phối hợp
với giáo viên cùng tìm ra biện pháp tốt nhất cho trẻ, để mỗi trẻ em là một mầm
xanh của đất nước, là tương lai của nhân loại.
Trong quá trình thực hiện các biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ mẫu
giáo 5 – 6 tuổi tại trường mầm non Tân Phúc, tôi rút ra một số kinh nghiệm sau:

20


Giáo viên phải thực sự yêu mến trẻ, nhiệt tình, sáng tạo, năng động trong
mọi mặt và nhất là phải nắm vững kiến thức cũng như phương pháp tổ chức cho
trẻ làm quen tiếng Việt
Nắm rõ tình hình của trẻ về mức độ tiếp thu kiến thức, khả năng nói tiếng
việt cũng như vốn từ của từng trẻ để đưa ra biện pháp và kế hoạch giáo dục trẻ
phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ.
Đối với hoạt động làm quen tiếng Việt, nên có sự hỗ trợ của cộng tác viên

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Lang Chánh, ngày 15/4/2019

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết sáng kiến
Trần Thị Huyền

21


TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Tài liệu bồi dưỡng hè cho cán bộ quản lí và giáo viên mầm non năm học
2011 - 2012
Chủ biên: Hoàng Đức Minh – Trần Thị Ngọc Trâm. Nhà xuất bản giáo
dục Việt Nam
[2] Tài liệu hướng dẫn cộng tác viên, cộng đồng, cha mẹ tiếng cường tiếng
Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số
Chủ biên: Nguyễn Thị Hiếu. Nhà xuất bản Bộ GD&ĐT
[3] Hướng dẫn chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số. Trang 3
Tác giả: Trần Thị Ngọc Trâm – Bùi Thị Kim Tuyến. NXB GD Việt nam.
[4] Hướng dẫn tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non vùng dân tộc thiểu số
Chủ biên: Nguyễn Thị Hiếu. Nhà xuất bản Bộ GD&ĐT

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status