MỤC LỤC
Mục lục
PHẦN A: MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài.
II. Mục đích nghiên cứu.
III. Đối tượng nghiên cứu.
IV. Phương pháp nghiên cứu.
PHẦN B: NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
1. Xuất phát từ vị trí, vai trò của phân môn Tập đọc
2. Xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung dạyTập đọc lớp 5
II. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
1. Thực trạng
2. Hiệu quả của thực trạng
III. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
1. Giải pháp 1: Làm tốt công tác chuẩn bị cho giờ dạy
2. Giải pháp 2: Chú trọng rèn kĩ năng dạy đọc thành tiếng cho học
sinh theo các mức độ đọc đúng, đọc nhanh, đọc diễn cảm.
2.1. Chuẩn bị tốt cho việc đọc
2.2. Rèn kĩ năng luyện đọc đúng
2.3. Rèn kĩ năng luyện đọc nhanh
2.4. Rèn kĩ năng luyện đọc diễn cảm
2.5. Rèn kĩ năng luyện học thuộc lòng
3. Giải pháp 3: Phối hợp các kĩ năng dạy đọc - hiểu một cách nhịp
nhàng, hiệu quả
3.1. Chuẩn bị tốt cho việc đọc thầm góp phần dạy học tốt đọc-hiểu
3.2. Biện pháp rèn kỹ năng đọc thầm để đọc – hiểu tốt
3.3. Phối hợp có hiệu quả các biện pháp hướng dẫn tìm hiểu bài
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
1. Phiếu kiểm tra và hướng dẫn chấm khảo sát lần 2 (Đề kiểm chứng)
2. Tổng hợp kết quả
15
16
18
18
19
19
19
19
21
PHẦN A: MỞ ĐẦU
Đất nước đang tiến lên trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập quốc tế đòi hỏi sự nghiệp giáo dục cũng cần có nhiều thay đổi để đào
tạo ra những con người lao động tự chủ, năng động, sáng tạo, có năng lực giải
1
quyết vấn đề thường gặp, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
Vì vậy, phương pháp giáo dục cũng phải hướng vào việc khơi dây, rèn
luyện và phát triển ở người học khả năng nghĩ và làm một cách tự chủ, năng động
và sáng tạo ngay từ khi đang học tập ở nhà trường, đặc biệt là rèn luyện cho các
em khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những
tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn, giúp các em có niềm vui,
hứng thú trong học tập.
Trong xu thế chung đó, việc đổi mới phương pháp dạy học phân môn Tập
đọc là rất quan trọng và có ý nghĩa to lớn bởi vì phân môn Tập đọc có vị trí đặc
biệt trong chương trình Tiểu học, nó đảm nhiệm quá trình hình thành và phát triển
cho học sinh kĩ năng đọc, một kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh bậc học
trong tiết học? Làm thế nào để học sinh say mê học tập đọc, thích đọc, thích tìm
[1] Giáo trình: “ Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học”; tác giả: Giáo sư, tiến sĩ Lê
Phương Nga, nhà xuất bản Đại học Sư phạm năm 2009.
đó phát triển năng lực cảm thụ văn học cho học sinh giỏi? Làm thế nào để rèn các
kĩ năng đọc cho học sinh một cách tốt nhất? Đó là băn khoăn, trăn trở của rất
nhiều giáo viên - những người đang trực tiếp giảng dạy.
Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy
học phân môn Tập đọc hiện nay, nâng cao chất lượng mũi nhọn, cách cảm thụ
2
văn học cho học sinh giỏi, tạo tiền đề cho các em học tốt môn Ngữ Văn ở bậc học
tiếp theo, tôi đã tìm tòi và áp dụng những biện pháp trong sáng kiến kinh nghiêm
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập đọc lớp 5”
mang lại hiệu quả cao, được nhà trường đánh giá tốt và triển khai thực hiện dạy
Tập đọc cho học sinh khối lớp 5 trong trường, trong huyện. Chất lượng dạy học
phân môn Tập đọc được nâng lên rõ rệt. Không những nâng cao được chất lượng
đại trà mà một số biện pháp trong sáng kiến kinh nghiệm của bản thân còn góp
phần nâng cao chất lượng mũi nhọn - nội dung cảm thụ văn học- cảm nhận những
cái hay, cái đẹp trong các tác phẩm cho học sinh trong Câu lạc bộ em yêu Tiếng
Việt.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là đưa ra một số biện pháp rèn các kĩ
năng đọc cho học sinh lớp 5. Qua đó nâng cao năng lực đọc đúng, đọc diễn cảm,
đọc hiểu; giúp học sinh đạt kết quả học tập tốt hơn.Cụ thể:
-Tổ chức dạy học Tập đọc phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo
trong học tập của học sinh, không gây nhàm chán trong tiết học
-Tạo hứng thú học tập cho học sinh: say mê học tập đọc, thích đọc, thích
Mỗi bài Tập đọc là một văn bản, là một bức tranh thu nhỏ về hiện thực cảnh
đẹp đất nước, con người, xã hội... Đọc giúp các em hiểu biết, tiếp thu được nền
văn minh của loài người, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, nhân cách. Nó là chìa
khoá đưa các em vào kho tàng văn hoá, khoa học,... giúp các em nhận ra những
tinh hoa của dân tộc, của nhân loại đang được lưu trữ trong sách vở [2].
3
Tập đọc một cách có ý thức cũng sẽ tác động đến trình độ ngôn ngữ cũng như
tư duy của người đọc, việc dạy Tập đọc tốt sẽ giúp học sinh hiểu bài hơn, bồi
dưỡng các em lòng yêu cái thiện, cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ logic
cũng như biết tư duy có hình ảnh. Đặc biệt, khi các em đọc tốt sẽ giúp các em
cảm thụ được cái hay, cái đẹp trong đoạn văn, đoạn thơ; việc này hỗ trợ đắc lực
cho các em học tốt các phân môn và môn học khác như Tập làm văn, Luyện từ và
câu, Toán,…góp phần tạo nên những con người phát triển toàn diện.
Cũng như các các lớp dưới, thông qua hệ thống bài Tâp đọc theo chủ đề và
những câu hỏi tìm hiểu bài, phân môn Tập đọc cung cấp cho học sinh những hiểu
biết về thiên nhiên, xã hội và con người, cung cấp vốn từ, tăng cường khả năng
diễn đạt, trang bị một số hiểu biết ban đầu về tác phẩm văn học và góp phần bồi
dưỡng nhân cách cho học sinh.
2. Xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung dạy Tập đọc cho học sinh
lớp 5
Phân môn Tập đọc lớp 5 củng cố và nâng cao các kĩ năng đọc đã được hình
thành từ các lớp dưới cho học sinh.
Tập đọc là một phân môn thực hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình
thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ 4 kỹ năng cũng là
4 yêu cầu về chất lượng của phân môn Tập đọc: đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu
loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc
hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm. Bốn kỹ năng này được hình thành qua
2 hình thức đọc: Đọc thành tiếng và đọc thầm. Chúng được rèn luyện đồng thời
lúng túng khi giải quyết vấn đề về đọc đúng, đọc diễn cảm, vấn đề phát âm địa
phương một cách có tính nguyên tắc, không có những chỉ dẫn cụ thể cho đọc diễn
cảm mà bằng lòng với cách hướng dẫn chung chung. Ví dụ: Đọc kết thúc câu kể
phải xuống giọng; câu hỏi phải lên giọng… Những chỉ dẫn có tính định lượng về
mối quan hệ giữa cao độ, trường độ, cường độ, chỗ ngắt…của đoạn, của bài chưa
được xác định.
Vì vậy, để dạy tốt phân môn Tập đọc cần phải có nhiều biện pháp cụ thể dựa
theo nguyên tắc và tình hình thực tế của học sinh tại địa bàn giáo viên đang công
tác, nhằm đảm bảo được mục tiêu dạy học phân môn Tập đọc lớp 5 nói riêng,
môn Tiếng Việt nói chung.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
1.Thực trạng.
1.1.Thực trạng chung
a. Về giáo viên: Thực trạng dạy học Tập đọc lớp 5 ở nhà trường một số năm gần
đây cho thấy:
- Hai nhiệm vụ dạy học Tập đọc chưa được giáo viên quan tâm đúng mức.
Nhiều giờ Tập đọc thiên về rèn đọc thành tiếng, nhiều giờ thiên về cảm thụ văn
(đọc hiểu), không ít giờ Tập đọc ở phần tìm hiểu bài lại được chuyển thành giờ
giảng văn (do quá đi sâu vào đọc hiểu), ít thay đổi hình thức trong giờ học.
- Việc hướng dẫn đọc cho học sinh còn mang nặng tính hình thức, chung
chung, ít chú ý đến cái chi tiết, cái cụ thể.Việc phối kết hợp rèn kĩ năng đọc thành
tiếng và đọc hiểu để chúng phát huy tác dụng hỗ trợ cho nhau còn hạn chế. Giáo
viên chưa linh hoạt trong việc sử dụng hệ thống câu hỏi, còn phụ thuộc vào sách.
b. Về học sinh: Học sinh đã quen với cách học ở lớp dưới nên chủ yếu chỉ chú ý
đến rèn đọc sao cho đúng, ít chú ý đến tốc độ, ngữ điệu, cách đọc sao cho hay.
- Một số học sinh chưa có ý thức học tập, ít có sự phấn đấu.
- Một số học sinh kĩ năng đọc yếu so với mức độ yêu cầu tối thiểu của khối
lớp 5 nên ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng giờ học.
- Kĩ năng đọc diễn cảm còn yếu. Khả năng hiểu bài của học sinh chưa sâu,
- Đối với học thuộc lòng, học sinh chỉ thiên về ghi nhớ máy móc, ít chú ý
đến ghi nhớ lôgic (ghi nhớ có ý nghĩa), ghi nhớ các từ "chìa khóa" thể hiện nội
dung bài để rèn ghi nhớ sâu nên các em nhanh quên.
c. Nguyên nhân của thực trạng trên: Giáo viên chưa quan tâm đúng mức tới
việc rèn kĩ năng đọc thành tiếng cho học sinh ở các mức độ (đọc đúng; đọc trôi
chảy, lưu loát; đọc diễn cảm).
- Giáo viên hướng dẫn nhưng chưa cụ thể và rõ ràng từng mức độ của kĩ
năng đọc thành tiếng (Ví dụ: Cách ngắt giọng biểu cảm, ngắt giọng lôgic phải căn
cứ vào đâu? Ngắt như thế nào là hợp lý? Những từ cần nhấn giọng là những từ
như thế nào?) dẫn đến học sinh khó xác định điểm ngắt giọng, nhất là đối tượng
học sinh yếu và trung bình.
- Cách hướng dẫn luyện đọc còn chung chung, chưa linh hoạt cho từng
dạng bài, từng đoạn cụ thể. Yêu cầu đọc diễn cảm thường áp dụng chung cho mọi
đối tượng nên nhiều khi chưa khuyến khích được các đối tượng học sinh tham gia
tích cực vào đọc diễn cảm, nhất là học sinh có kĩ năng đọc còn yếu.
- Một số học sinh do không hiểu nội dung nên giọng đọc ít thay đổi linh
hoạt cho phù hợp với nội dung từng đoạn dẫn đến đọc không hay, không thể hiện
được ý nghĩa nội dung văn bản, dụng ý mà tác giả muốn gửi gắm đến người đọc.
- Kĩ năng học thuộc lòng chậm, nhanh quên do các em thường đọc vẹt.
1.2.2. Dạy đọc - hiểu: Một trong những kĩ năng đọc giúp học sinh hiểu văn bản
là đọc thầm. Dạy đọc thầm chính là dạy đọc có ý thức, dạy đọc - hiểu. Qua thực
trạng dạy đọc - hiểu hiện nay tôi thấy:
a. Về giáo viên:
- Giáo viên chưa chú trọng nhiều đến rèn kĩ năng đọc thầm cho học sinh,
nhiều khi yêu cầu học sinh đọc thầm nhưng không có mục đích, không kiểm tra
tốc độ đọc của học sinh nên đã không phát huy được ưu thế của nó trong việc tìm
hiểu và nắm nội dung bài.
- Giáo viên tổ chức cho học sinh tìm hiểu bài qua hệ thống câu hỏi cuối
bài với cách dạy đồng loạt và chủ yếu sử dụng phương pháp hỏi đáp, dễ gây
nhàm chán. Có những câu hỏi dài với nhiều yêu cầu nhưng giáo viên không tách
Hình thức tổ chức và phương pháp dạy học được thể hiện qua kế hoạch
dạy học hầu như giống nhau, không có mấy thay đổi cho phù hợp với từng bài.
* Nguyên nhân: Nhiều khi, việc xây dựng kế hoạch dạy học chỉ để đối phó với
các đợt kiểm tra nên ít có giá trị thực tế; chưa có sự đầu tư hợp lý cho cho việc
nghiên cứu bài, xây dựng kế hoạch dạy học.
2. Hiệu quả của thực trạng
Năm học 2017-2018, tôi được phân công giảng dạy lớp 5B. Tôi đã khảo
sát chất lượng lần 1.
- Thời điểm kiểm tra: Tuần 6, tháng 10 năm học 2017-2018
- Đối tượng: Học sinh lớp 5B, năm học 2017-2018
- Số lượng học sinh được kiểm tra: 31 em
2.1. Phiếu kiểm tra và hướng dẫn chấm khảo sát chất lượng lần 1: Phụ lục 1
2.2. Tổng hợp kết quả:
* Tổng hợp số học sinh đạt yêu cầu về kiến thức, kĩ năng: 31 em.
Kiến thức, kĩ năng cần đạt
Số học sinh đạt yêu cầu
Đọc đúng
23
Đọc lưu loát, trôi chảy
15
Đọc diễn cảm
13
Học thuộc lòng
20
Đọc - hiểu (hiểu ND bài)
21
* Tổng hợp kết quả kiểm tra chất lượng: 31 em
Tỉ lệ
74,2%
- Phần tự luận: Đa số học sinh diễn đạt dài dòng, chủ yếu là nêu nguyên
văn câu có trong bài, không tóm được ý và diễn đạt theo cách hiểu của mình.
* Nguyên nhân: Giáo viên chưa chú ý rèn cho học sinh làm chủ tốc độ đọc, cách
nhấn giọng và cách ngắt giọng hợp lý theo lôgic và theo giá trị biểu cảm.
- Giáo viên chưa linh hoạt trong việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ
chức dạy học.
Thời gian dành cho luyện đọc diễn cảm ít (6 phút) nên phần đọc diễn cảm
có ít em được thể hiện đọc trước lớp, chỉ chủ yếu là học sinh khá, giỏi.
Phần tìm hiểu bài, giáo viên nói và giảng hơi nhiều, chưa phát huy được
tính tích cực trong học tập, chưa huy động vốn kiến thức tổng hợp của học sinh.
III. CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Trong năm học 2017-2018, tôi áp dụng “Một số biện pháp nâng cao chất
lượng dạy học phân môn Tập đọc lớp 5” ở lớp 5B với các giải pháp cụ thể:
1. Giải pháp 1. Làm tốt công tác chuẩn bị cho giờ dạy
Trước hết giáo viên phải nghiên cứu kĩ nội dung bài đọc trong sách giáo
khoa, hiểu ý đồ của tác giả để nắm bản chất của mỗi dạng kiến thức học sinh cần
đạt được, từ đó xây dựng kế hoạch dạy học mang tính thiết thực. Dự đoán các
tình huống sư phạm có thể xảy ra và dự đoán những lỗi học sinh thường mắc phải
- cách xử lí các tình huống đó. Điều giáo viên cần ghi nhớ " Muốn học sinh đọc
tốt, hiểu bài tốt, vận dụng tốt thì trước tiên giáo viên phải đọc tốt, thấu hiểu văn
bản theo cách hiểu của học sinh lớp 5 và biết tìm cách dạy hợp lý để học sinh đạt
được điều đó. Cụ thể:
- Cần rèn cho học sinh thói quen đọc và chuẩn bị bài ở nhà đầy đủ.
- Giáo viên phải nghiên cứu sách tỉ mỉ, chu đáo, phải đọc bài nhiều lần, để
đọc mẫu tốt và hiểu thấu đáo nội dung bài đọc. Giáo viên cần trả lời các câu hỏi
sau để xác định mục tiêu yêu cầu nội dung và lựa chọn phương pháp cũng như
hình thức dạy một cách hợp lý:
+ Trong bài vừa đọc học sinh dễ mắc những lỗi nào về phát âm? (Đó thường
là những tiếng khó, những chỗ ngắt nghỉ khó, đặc biệt là câu dài).
+ Giọng đọc, ngữ điệu chung của cả bài, từng đoạn như thế nào? đoạn nào
2. Giải pháp 2: Chú trọng rèn kĩ năng dạy đọc thành tiếng cho học sinh
theo các mức độ đọc đúng, đọc nhanh, đọc diễn cảm.
Rèn kĩ năng đọc thành tiếng để củng cố kĩ năng đọc đúng và luyện đọc
hay. Cần quan tâm từ việc chuẩn bị đọc (một khâu mà lâu nay giáo viên thường ít
để ý đến) cho đến việc hướng dẫn luyện đọc đúng, luyện đọc nhanh và luyện đọc
diễn cảm.
2.1. Chuẩn bị tốt cho việc đọc
Giáo viên cần giúp học sinh hiểu rằng: Trong hoạt động giao tiếp, khi đọc
thành tiếng, người đọc một lúc đóng hai vai: một vai là người tiếp nhận thông tin
bằng chữ viết, vai thứ hai là người trung gian để truyền thông tin, đưa văn bản
viết đến người nghe. Khi giữ vai thứ hai này, người đọc đã thực hiện việc tái sản
sinh văn bản. Vì vậy, khi đọc thành tiếng, người đọc có thể đọc to cho mình hoặc
cho người khác. Đọc bài và phát biểu ý kiến xây dựng bài là hai hình thức giao
tiếp trước đám đông của học sinh nên giáo viên phải coi trọng khâu chuẩn bị để
đảm bảo thành công, tạo cho các em sự tự tin cần thiết. Khi đọc thành tiếng, các
em phải tính đến người nghe.
Giáo viên cần rèn cho học sinh hiểu rằng: các em đọc không phải chỉ cho
mình cô giáo mà để cho tất cả các bạn cùng nghe nên cần đọc đủ lớn cho tất cả
các bạn được nghe rõ. Nhưng như thế hoàn toàn không có nghĩa là các em phải
đọc quá to hoặc gào lên.
Để luyện cho học sinh đọc quá nhỏ (lí nhí), giáo viên cần tập cho các em
đọc to chừng nào bạn ở xa nhất trong lớp nghe được mới thôi. Nhiều khi nên cho
học sinh này đứng trên bục giảng, đối diện với lớp để đọc bài; tạo sự tự tin.Tư thế
đứng đọc vừa đàng hoàng vừa thoải mái, sách phải mở rộng và cầm bằng hai tay.
2.2. Rèn kĩ năng luyện đọc đúng
Luyện cho học sinh cách đọc đúng: nghĩa là các em cần tái hiện âm thanh
của văn bản đọc một cách chính xác, không có lỗi, không đọc thừa, không sót
tiếng. Đọc đúng phải thể hiện đúng ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm. Đọc
đúng bao gồm việc đọc đúng các âm, thanh, nghỉ ngắt hơi đúng chỗ (đọc đúng
bao gồm một phần của đọc diễn cảm).
Ta là / nụ là / hoa của đất. (Bài ca trái đất - TV5, tập 1, trang 41)
- Hướng dẫn học sinh cần dựa vào nghĩa và quan hệ cú pháp để ngắt nhịp
cho đúng (Cần phân tích cả cách ngắt đúng và cách ngắt sai để học sinh hiểu, ghi
nhớ, lần sau không ngắt sai).
Ví dụ: Ngắt đúng: Chắt trong vị ngọt / mùi hương
Lặng thầm thay / những con đường ong bay.
(Không ngắt: Chắt trong / vị ngọt mùi hương
Lặng thầm / thay những con đường ong bay.)
Ngắt đúng: Trái đất trẻ / của bạn trẻ năm châu.
(Không ngắt: Trái đất trẻ của bạn trẻ / năm châu).
- Hướng dẫn học sinh nắm vững: Việc ngắt hơi phải phù hợp với các dấu
câu như: nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấu chấm. Đọc đúng ngữ điệu câu là
cần đọc lên giọng ở cuối câu hỏi, hạ giọng ở cuối câu kể, thay đổi giọng cho phù
hợp với tình cảm diễn đạt trong câu cảm. Với câu khiến, cần nhấn giọng phù hợp
để thấy rõ các nội dung khiến.... Như vậy luyện đọc đúng đã bao gồm một số
tiêu chuẩn của đọc diễn cảm nhưng chưa sâu như đọc diễn cảm.
2.2.2. Trình tự luyện đọc đúng: Rèn kĩ năng đọc đúng tiếng, từ, câu, đoạn cho
đến cả bài.
Trước khi lên lớp, giáo viên phải dự tính để ngăn ngừa các lỗi khi rèn kỹ
năng đọc đúng. Tuỳ đối tượng học sinh, tuỳ vào từng bài, tuỳ vào phương ngữ
từng địa phương, giáo viên xác định các lỗi phát âm mà học sinh lớp mình dễ
mắc phải để chọn ra các tiếng, từ, cụm từ, câu khó cho học sinh luyện đọc.
Khi học sinh đọc, giáo viên và học sinh khác phát hiện lỗi sai. Giáo viên
tổng hợp, lựa chọn ghi ra một số lỗi sai phổ biến mà học sinh mắc phải để học
sinh luyện đọc các tiếng, từ khó này.Với những câu mà giáo viên dự tính sẽ có
nhiều em đọc sai, ngắt nghỉ không đúng chỗ thì cần được ghi ra bảng phụ, hướng
dẫn cho học sinh chỗ ngắt nghỉ, nhấn giọng, sau đó cho các em luyện đọc câu rồi
mới tếp tục tiến hành đọc theo đoạn, bài.
10
sâu sắc về bài đọc và biết cách diễn đạt thích hợp dưới sự hướng dẫn của thầy.
Hiểu và có những ấn tượng đúng với bài học chưa đủ, học sinh cần chia sẻ với
mọi người những ấn tượng của mình mới đọc diễn cảm được. Để luyện đọc diễn
cảm, cần làm tốt các công việc sau:
Khi rèn đọc diễn cảm cho học sinh, giáo viên cần hướng dẫn để các em đọc
đúng giọng vui, buồn, giận dữ, trang nghiêm...phù hợp từng ý cơ bản của bài đọc,
phù hợp kiểu câu, thể loại; đọc có cảm xúc cao, biết nhấn giọng ở từ ngữ biểu
cảm, gợi tả, phân biệt lời nhân vật, lời tác giả...
Cho học sinh làm việc với toàn tác phẩm, xác định giọng đọc chung cho cả
bài và riêng cho mỗi đoạn: Tổ chức cho các em đàm thoại, nhận ra thể loại văn
bản, hiểu ý đồ của tác giả rồi cùng thảo luận với học sinh để xác định giọng đọc
chung của cả bài, xác định giọng đọc của từng đoạn.
Học sinh luyện tập để thực hiện giọng đọc của từng câu, đoạn, bài. Khi đó,
giáo viên cần chỉ ra những chỗ khó đọc, những " điểm nút" trong bài đòi hỏi học
sinh phải hiểu được mới tìm cách thể hiện điều đó trong giọng đọc. Trong bước
luyện đọc diễn cảm học sinh phải thảo luận, nhận xét về giọng đọc, giải thích vì
sao đọc như thế là hay, đọc như thế là chưa hay, chỗ nào trong cách đọc của thầy,
trong cách đọc của bạn mà mình thích... Trong trường hợp này tôi thường trình
bày những cách đọc khác nhau trong thế đối lập để học sinh phát hiện ra được có
cách đọc hay, có cách đọc không hay. Trong văn bản kịch, văn xuôi có các nhân
vật, thường cho học sinh phân vai để làm sống lại các nhân vật của tác phẩm, để
đọc phân biệt lời của tác giả và lời của nhân vật, phân biệt lời của các nhân vật
khác nhau.
Để rèn kĩ năng đọc diễn cảm, cần phải rèn cho học sinh biết xác định được
chỗ ngắt giọng (ở đây muốn nói đến kỹ thuật ngắt giọng biểu cảm), làm chủ được
tốc độ đọc (đọc nhanh, chậm, chỗ ngân, chỗ giãn nhịp đọc), làm chủ được cường
độ giọng đọc (đọc to hay nhỏ, nhấn giọng hay không) và làm chủ ngữ điệu (độ
cao của giọng đọc, lên giọng hay hạ giọng).
* Giúp giúp học sinh hiểu cách ngắt giọng biểu cảm và ngắt giọng lôgíc
Hướng dẫn học sinh phân biệt rõ 2 cách ngắt giọng này theo cách hiểu
chuyện, viết thư,... Đọc diễn cảm còn phụ thuộc vào cảm nhận riêng của các em,
vì vậy tôi không nên áp đặt một cách đọc khuôn mẫu cho tất cả học sinh mà cần
khuyến khích cách đọc sáng tạo của mỗi học sinh.
[4] Sách giáo giáo viên Tiếng Việt lớp 5, tập 2; nhóm tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên), Nguyễn
Thị Hạnh, Nguyễn Thị Ly Kha, Lê Phương Nga, Lê Hữu Tỉnh; nhà xuất bản Giáo dục năm 2006.
13
+ Đối với các văn bản khác: Giáo viên cần hướng dẫn học sinh xác định
ngữ điệu đọc sao cho phù hợp với mục đích thông báo (làm rõ những thông tin cơ
bản giúp người nghe tiếp nhận được vấn đề quan trọng, nổi bật trong văn bản).
Ví dụ: Khi đọc bài "Người công dân số Một" học sinh phải thể hiện giọng đọc
đúng ngữ điệu các câu theo mục đích nói, phù hợp với tính cách, tâm trạng của
từng nhân vật. Chẳng hạn: giọng anh Lê ngạc nhiên "Anh vào Sài Gòn để làm
gì?”, giọng anh Thành châm biếm, mỉa mai "À...vào làng Tây để có tên Tây...Anh
làm đơn chưa?"...
* Phải khắc phục cách đọc thiên về hình thức hoặc diễn cảm “tùy tiện”
của học sinh. Giáo viên thay đổi các hình thức đọc cá nhân, cặp, nhóm và phải
có biện pháp kiểm tra, quán xuyến các hình thức đọc đó để đạt được mục tiêu qua
việc sử dụng chúng với mong muốn nâng cao chất lượng rèn kĩ năng đọc.
Để hình thành kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh, giáo viên cần:
- Hướng dẫn cho học sinh hiểu rằng " đọc diễn cảm" không phải là đọc sao
cho "điệu", thiếu tự nhiên, dựa vào ý thích chủ quan của người đọc. Đọc diễn
cảm là cách sử dụng ngữ điệu để phô diễn cảm xúc của tác giả qua bài đọc.
Học sinh phải nhập tâm, biết bộc lộ cảm xúc khi đọc bài văn, bài thơ... Khi có
cảm xúc, các em sẽ tìm thấy ngữ điệu thích hợp. Chính văn bản quy định ngữ
điệu cho chúng ta chứ không phải chúng ta đặt ra ngữ điệu cho văn bản.
- Để luyện đọc diễn cảm tốt cần rèn cho học sinh những kỹ năng:
+Tập lấy hơi và tập thở: Biết thở sâu ở chỗ ngừng nghỉ để lấy hơi khi đọc.
14
- Thường xuyên kiểm tra đánh giá kết quả học thuộc lòng của học sinh
bằng nhiều hình thức khác nhau: Bản thân học sinh tự kiểm tra, kiểm tra trong
nhóm nhỏ, trong nhóm lớn (bạn kiểm tra), kiểm tra trước lớp (bạn và giáo viên
kiểm tra).
- Kết hợp nhiều hình thức để luyện đọc thuộc lòng:
+ Cá nhân nhẩm đọc, luyện đọc trong nhóm nhỏ, nhóm lớn.
+ Tổ chức cho cá nhân học sinh thi đọc thuộc lòng trong mỗi nhóm.
+ Tổ chức cho cá nhân học sinh thi đọc thuộc lòng trước lớp: Học sinh đọc
thuộc lòng bằng cách đọc tiếp nối các đoạn của bài; đọc cả bài.
+ Tổ chức phần luyện đọc thuộc lòng này thành một trò chơi để tạo hứng
thú học tập cho các em. Ví dụ: Xì điện, hái hoa dân chủ,...
3. Giải pháp 3. Phối hợp các kĩ năng dạy đọc - hiểu một cách nhịp nhàng,
hiệu quả
Rèn kỹ năng đọc thầm rất quan trọng trong dạy đọc - hiểu. Nhưng trong
một số tài liệu dạy học cho rằng việc tổ chức dạy đọc thành tiếng gọi là "luyện
đọc". Nói như vậy, đọc đã bị thu hẹp nghĩa, chỉ còn ứng với hình thức đọc thành
tiếng. Từ đây dễ dẫn đến một sai lầm trong thực tế là giáo viên không chú ý đúng
mức đến luyện đọc thầm cho học sinh.
Sự thực thì đọc thầm có ưu thế hơn đọc thành tiếng ở chỗ nhanh hơn đọc
thành tiếng từ 1,5 đến 2 lần. Nó có ưu thế hơn hẳn trong quá trình tiếp nhận,
thông hiểu nội dung văn bản vì người ta không chú ý đến việc phát âm mà chỉ tập
chung để hiểu nội dung điều mình đọc. Vì vậy, ngay từ lớp 1 đã đọc thầm và lên
lớp 5 thì kĩ năng này ngày càng được củng cố, nâng cao tốc độ đọc.
Để dạy học - hiểu tốt, tôi đã thực hiện tốt các việc sau:
3.1. Chuẩn bị tốt cho việc đọc thầm góp phần dạy học tốt đọc - hiểu
Cũng như khi ngồi đọc thành tiếng, giáo viên phải rèn cho học sinh tư thế
quen với cách đọc thầm, đặc biệt là cách đọc thầm nhanh (mở rộng trường nhìn),
đọc lướt toàn câu, đoạn hoặc cả bài. Ví dụ: Đọc thầm đoạn 1 trong bài “Hội thi
nấu cơm ở Đồng Vân”, TV lớp 5, tập II và cho biết hội thi bắt nguồn từ đâu?
Ví dụ: Đọc lướt cả bài "Chuyện một khu vườn nhỏ" và cho biết, qua bài
tập đọc này, tác giả muốn nói với chúng ta điều gì?
Cần kiểm soát quá trình đọc thầm của học sinh bằng cách quy định thời
gian đọc thầm cho từng đoạn và bài. Học sinh đọc song thì báo cho giáo viên
biết, từ đó giáo viên nắm được và điều chỉnh tốc độ đọc thầm cho hợp lý.
* Có hai hình thức kiểm tra đọc thầm:
+ Kiểm tra trực tiếp: Học sinh đang đọc thầm yêu cầu các em đọc to lên để
xem các em đã đọc đến đâu và yêu cầu giơ tay khi đọc hết đoạn nào đó.
+ Kiểm tra qua đọc - hiểu: Vì mục đích của đọc thầm là hiểu bài nên việc
kiểm tra kết quả hiểu bài đọc của học sinh là hình thức kiểm tra đọc thầm quan
trọng hơn. Trước khi học sinh đọc thầm giáo viên nên đưa ra mục đích đọc thầm
(câu hỏi hoặc các vấn đề cần tìm hiểu). Sau khi học sinh đọc thầm, yêu vầu trả lời
câu hỏi về nội dung hoặc biện pháp nghệ thuật của đoạn, bài để kiểm tra.
3.3. Phối hợp có hiệu quả các biện pháp hướng dẫn tìm hiểu bài
Hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài là giúp các em hiểu nghĩa của từ, cụm từ,
câu, đoạn, hiểu nội dung, giá trị nghệ thuật của bài. Vì vậy, học sinh tìm hiểu bài
nhằm mục đích trau rồi kĩ năng đọc - hiểu, nắm bắt thông tin góp phần nâng cao
năng lực cảm thụ và tạo cơ sở cho học sinh luyện đọc diễn cảm.
Để hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài đạt kết quả tốt, ngay từ khi yêu cầu
học sinh tiếp nhận văn bản nhằm mục đích đọc đúng (luyện đọc), giáo viên cần
giúp các em hiểu nghĩa một số từ ngữ có tác dụng góp phần nâng cao kĩ năng
đọc - hiểu (Lưu ý không những giúp học sinh hiểu nghĩa từ ngữ được chú giải
trong sách giáo khoa mà cả những từ ngữ phổ thông mà học sinh địa phương
chưa quen biết hay là ngững từ ngữ đóng vai trò quan trong giúp học sinh hiểu
nội dung bài (từ chìa khóa).
Ở phần giúp học sinh hiểu nghĩa từ, giáo viên nên sử dụng nhiều cách giải
nghĩa từ khác nhau, giúp học sinh có hứng thú tìm hiểu nghĩa của từ, ghi nhớ lâu
- Câu hỏi yêu cầu tìm hiểu và khái quát ý của đoạn, bài.
Vận dụng linh hoạt phương pháp và thay đổi hình thức tổ chức dạy học
khác nhau để tạo điều kiện cho học sinh học tập một cách tích cực mới nâng cao
được chất lượng dạy học (những câu hỏi đơn giản nên sử dụng phương pháp hỏi
đáp hoặc đàm thoại; những câu hỏi khó hoặc câu hỏi mở nên sử dụng hình thức
thảo luận nhóm, cặp; những câu hỏi có nhiều hướng trả lời nên sử dụng trò chơi
theo kiểu bài tập trắc nghiệm... Tuy nhiên giáo viên không được sử dụng tuỳ tiện
phương pháp và hình thức dạy học mà phải căn cứ vào bài cụ thể để lựa chọn.Ví
dụ: Với câu hỏi "Tại sao tác giả lại gọi là hạt vàng làng ta?", giáo viên có thể sử
dụng hình thức thảo luận nhóm sẽ thu được kết quả cao hơn, vì đây là câu hỏi đòi
hỏi sự tư duy, suy luận lôgíc của học sinh.
Trong quá trình tìm hiểu bài, giáo viên cần rèn cho học sinh cách trả lời và
diễn đạt ý mình muốn nói theo cách hiểu của bản thân một cách ngắn gọn, tránh
tình trạng nêu câu trả lời nguyên văn câu, đoạn trong bài. Để thực hiện được điều
17
này, giáo viên phải rèn cho học sinh có kĩ năng phân tích và tổng hợp. Sau câu trả
lời của học sinh, giáo viên phải kết luận và chốt ý thật ngắn gọn và súc tích.
Giáo viên phải khéo léo trong trong việc nhận xét khi có học sinh trả lời
sai, hoặc chưa đầy đủ. Nên tìm ý đúng trong câu sai đó cho dù là rất nhỏ để
khuyến khích, động viên học sinh hoặc định hướng gợi mở để các em có câu trả
lời đúng, từ đó giúp các em tự nhận ra cái sai của mình. Qua đó, giúp các em tự
tin và trả lời tốt hơn ở các lần sau, tránh để các em mặc cảm, tự ti, không dám
phát biểu ý kiến, trả lời câu hỏi ở các lần sau.
* Những điểm cần lưu ý khi dạy đọc - hiểu một bài thuộc phong cách
ngôn ngữ văn chương.
Giáo viên phải nắm được đặc chưng của ngôn ngữ văn chương để giúp học
sinh tiếp nhận được vẻ đẹp của ngôn từ, vẻ đẹp của cách nói văn chương, hướng
dẫn các em phát hiện được những tín hiệu nghệ thuật và giá trị của chúng trong
Số học sinh đạt
Tỉ
lệ
đạt
yêu cầu
khảo sát lần 1
Đọc lưu loát, trôi chảy
29
93,5 %
45,3 %
Đọc diễn cảm
26
83,9 %
42%
Học thuộc lòng
31
100 %
35,5%
Đọc - hiểu (hiểu ND bài)
31
100 %
32,7%
18
* Tổng hợp kết quả kiểm tra chất lượng: 31 em
Điểm 9-10
Điểm 7-8
Điểm 5-6
Điểm dưới 5
thể hiện rõ qua các lần kiểm tra định kỳ. Đến lần kiểm tra định kỳ lần 4 (cuôi kỳ
II năm học 2017-2018), Nội dung kiểm tra đọc thành tiếng và đọc hiểu số học
sinh đạt điểm 9;10 là 20 em chiếm 64,5%, điểm 7;8 là 11 em chiếm 35,5%,
không có học sinh điểm 5-6 và điểm dưới 5.
Sáng kiến kinh nghiệm của bản thân đã được Ban giám hiệu nhà trường,
đồng nghiệp đánh giá cao, triển khai thực hiện trong khối 5 từ đầu năm học này
và đã nâng cao chất lượng phân môn Tập đọc nói riêng và môn Tiếng Viêt của cả
khối nói chung. Trong lần Kiểm tra định kì giữa học kì II năm học 2018-2019, cả
khối 5 có 70 học sinh, tổng điểm đọc có 46 em điểm 9-10 đạt 65,7%, 23 em điểm
7-8 đạt 32,9%, 1 em điểm 5-6 đạt 1,4%, không em nào dưới điểm 5.
PHẦN C: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN
Để thực hiện tốt các biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn
Tập đọc lớp 5, tôi đã làm tốt các việc sau:
1.Trước hết, giáo viên phải nghiên cứu kĩ nội dung bài đọc trong sách giáo
khoa, hiểu ý đồ của tác giả, nắm bản chất của mỗi dạng kiến thức học sinh phải
đạt được, từ đó xây dựng kế hoạch dạy học mang tính thiết thực, đúng là “bản
thiết kế tổ chức giờ dạy”. Dự đoán các tình huống sư phạm có thể xảy ra và dự
đoán những lỗi học sinh thường mắc phải, cách xử lí các tình huống đó. Điều
giáo viên cần ghi nhớ "Muốn học sinh đọc tốt, hiểu bài tốt, vận dụng tốt thì trước
tiên giáo viên phải đọc tốt, thấu hiểu văn bản theo cách hiểu của đối tượng học
sinh lớp 5 và tìm cách dạy hợp lý để học sinh đạt được điều đó”.
2. Cần linh hoạt sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, áp dụng phù
hợp với đối tượng học sinh lớp mình để rèn các kĩ năng đọc cho học sinh.Tìm ra
những điểm yếu của học sinh để chú trọng rèn luyện. Cần rèn cho học sinh có
19
vì vậy mà khi dạy học tập đọc giáo viên phải chú ý rèn luyện đồng thời cả hai
hình thức đọc này. Sự hoàn thiện một trong những kĩ năng này sẽ có tác động tích
cực đến những kĩ năng khác. Đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh, cũng cho phép
thông hiểu nội dung văn bản. Ngược lại, nếu không hiểu điều mình đang đọc thì
không thể đọc cho hay (đọc diễn cảm) được. Nhiều khi, khó có thể nói rạch ròi kĩ
năng nào làm cơ sở cho kĩ năng nào phát triển, nhờ đọc đúng mà hiểu hay chính
nhờ hiểu mà đọc đúng. Vì vậy trong dạy học Tập đọc không thể xem nhẹ hình
thức đọc nào.
7. Khi rèn kĩ năng đọc cho học sinh thông qua hai hình thức này thường
được thực hiện đồng thời: Chẳng hạn, trong lúc bạn hay thầy (cô) đọc thành
tiếng, học sinh khác theo dõi nghĩa là các em đã sử dụng kĩ năng đọc thầm; để trả
lời câu hỏi của giáo viên nêu ra, cần có "lệnh" và yêu cầu cụ thể để rèn cho học
sinh có thói quen đọc thầm từng câu, đoạn, hay cả bài có mục đích. Để tránh
trường hợp học sinh đọc trơn tru nhưng lại là đọc vẹt, đọc mà không hiểu văn bản
đọc, giáo viên cần chú ý rèn kĩ năng đọc thông hiểu văn bản ở mức độ phù hợp
với trình độ của các em theo từng đối tượng cụ thể.
8. Rèn đọc thuộc lòng phải đạt được mục tiêu tích lũy tri thức và rèn trí
nhớ cho học sinh nhưng giáo viên cần lưu ý rèn cho học sinh sự ghi nhớ có ý
thức kết hợp ghi nhớ máy móc và ghi nhớ lôgic, tuyệt đối tránh rèn học thuộc
lòng qua một mình sự ghi nhớ máy móc.
20
9. Chuẩn bị chu đáo cho tiết dạy, từ bước chuẩn bị, xây dựng kế hoạch cho
đến bước thực hiện trên lớp. Thường xuyên tự đánh giá hiệu quả của giờ dạy của
bản thân qua chính kết quả, chất lượng học tập của học sinh trong mỗi tiết để phát
huy điểm mạnh, khắc phục những hạn chế, từ đó mà điều chỉnh phương pháp
cũng như hình thức dạy học cho hợp lý.
Khả năng ứng dụng sáng kiến và mở rộng phạm vi nghiên cứu của
sáng kiến: Năm học 2018-2019, tôi và các đồng chí giáo viên khối lớp 5 ở
Cam kết không cóp py
Tác giả
Phạm Thị
21
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH
GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP
CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả:
Phạm Thị Bích Hồng
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên – Trường Tiểu học Hà Binh, huyện Hà
Trung, tỉnh Thanh Hóa
TT
Tên đề tài SKKN
1
Rèn kĩ năng nhận diện và xác
định các thành phần câu đọc
cho học sinh giỏi lớp 5.
Một số biện pháp rèn kĩ
năng đọc cho học sinh lớp 4.
2
giá xếp loại
Năm học đánh
xếp loại
(Phòng, Sở,
giá xếp loại
(A, B,
Tỉnh...)
hoặc C)
Phòng
GD&ĐT Hà
C
2006 -2007
Trung
Phòng
GD&ĐT Hà
A
2007 -2008
Trung
Sở GD&ĐT
Thanh Hóa
B
2007 -2008
Phòng
GD&ĐT Hà
Trung
Phòng
GD&ĐT Hà
Trung
Sở GD&ĐT
Thanh Hóa
Họ và tên học sinh: .........................................................................................................................................Lớp:....................
Điểm
Nhân xét
1. Đọc thành tiếng:
2. Đọc hiểu:
Tổng điểm đọc:
Phần một: Đọc thành tiếng (3 điểm).
Kiểm tra kĩ năng đọc thành tiếng của từng học sinh với yêu cầu sau:
Tự chọn 2 khổ thơ trong bài " Bài ca về trái đất" (Tiếng Việt 5, tập 1, trang
41) để đọc diễn cảm và thuộc lòng; học sinh khá, giỏi đọc diễn cảm và thuộc lòng
cả bài.
Phần hai: Đọc - hiểu (7 điểm).
Thời gian: 35 phút.
Đọc thầm bài “Bài ca về trái đất” (Tiếng Việt 5, tập 1, trang 41) và làm các
bài sau.
Câu 1 (0,75 điểm): Nối khổ thơ với ý nghĩa của nó cho phù hợp.
A
B
Khổ thơ thứ nhất
Cần giữ cho trái đất bình yên
Khổ thơ thứ hai
Trái đất thật là tươi đẹp
Khổ thơ thứ ba
Mọi người trên trái đất đều đáng quí
Câu 2 (0,75 điểm): Hình ảnh "Tiếng hát, tiếng cười" có ý nghĩa gì? Khoanh tròn
vào chữ cái trước câu trả lời đúng nhất.
a. Trái đất hoà bình.
24
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ KIỂM TRA (KHẢO SÁT LẦN 1)
Phần 1: Đọc thành tiếng (3 điểm):
- Đọc đúng (sai không quá 2 tiếng) (1,0 điểm).
- Đọc lưu loát, trôi chảy 2 khổ thơ tự chọn trong bài, học sinh khá, giỏi đọc
cả bài (Tốc độ đọc khoảng 115 -120 tiếng/ phút); ngắt nghỉ hơi giữa các dòng thơ,
cụm từ; nhấn giọng ở các từ, gợi tả, gợi cảm. (1,0 điểm).
- Đọc diễn cảm và thuộc lòng hai khổ thơ; HS khá, giỏi đọc diễn cảm và
thuộc lòng cả bài. (1,0 điểm).
Phần 2: Đọc - hiểu (7 điểm).
Câu 1 (0,75 điểm): Nối đúng cả 3 ý, cho 0,75 điểm (nối đúng 1 ý, cho 0,25
điểm).
A
B
Khổ thơ thứ nhất
Cần giữ cho trái đất bình yên
Khổ thơ thứ hai
Trái đất thật là tươi đẹp
Khổ thơ thứ ba
Mọi người trên trái đất đều đáng quí
Câu 2 (0,75 điểm): Khoanh vào ý c.
Câu 3 (1 điểm): Hình ảnh trái đất đẹp: Trái đất giống như quả bóng xanh bay
giữa trời xanh; có tiếng chim bồ câu và những cánh hải âu vờn sóng biển.
Câu 4 (1,5 điểm): Mỗi loài hoa tuy có vẻ đẹp riêng nhưng loài hoa nào cũng
quí, cũng thơm cả. Ý chỉ trên trái đất này, mọi người dù khác nhau màu da, tiếng
nói nhưng cũng đều bình đẳng, cũng đều đáng quí, đáng yêu cả.
Câu 5 (1,5 điểm): Học sinh nêu được ý có nội dung: Chúng ta phải cùng nhau
chống chiến tranh xây dựng một thế giới hoà bình. Chỉ có hoà bình, tiếng cười