Hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ cho học sinh THCS - Pdf 57

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG XƯƠNG

TRƯỜNG THCS QUẢNG NINH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI

HÌNH THÀNH KĨ NĂNG SỬ DỤNG BẢN ĐỒ,
LƯỢC ĐỒ CHO HỌC SINH THCS

Người thực hiện: Lê Thị Thu Hằng
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Quảng Ninh
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Địa Lí

QUẢNG XƯƠNG, NĂM 2019

0


1. MỞ ĐẦU:
Trong thời đại ngày nay, sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật với xu hướng
quốc tế hóa toàn cầu trên mọi lĩnh vực đã đặt ra nhiệm vụ vô cùng to lớn đối với
sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ khi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông. Đó là
việc xây dựng con người mới để thích ứng với thời đại mới. Chính vì vậy, mỗi
môn học trong nhà trường đều phải cung cấp những kiến thức cơ bản chọn lọc,
có tác dụng thiết thực trong việc hình thành thế giới quan khoa học, phát triển tư
duy và năng lực hoạt động của học sinh.
Cũng như các môn học khác, bộ môn Địa lí trong nhiều năm qua đã có
nhiều đổi mới về chương trình, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học

quát những khu vực lãnh thổ rộng lớn, những vùng lãnh thổ xa xôi trên bề mặt
Trái Đất mà học sinh không có điều kiện quan sát trực tiếp. Do đó, bản đồ hoặc
lược đồ vừa là phương tiện trực quan, vừa là nguồn tri thức quan trọng trong việc
dạy học Địa lí. Bản đồ hoặc lược đồ là cuốn SGK thứ 2 của Địa lí, đồng thời sử
1


dụng bản đồ hoặc lược đồ cũng là một phương pháp đặc trưng trong dạy học Địa
lí. Chính vì vậy, tôi đã nghiên cứu và viết một số kinh nghiệm về vấn đề:
“Hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ cho học sinh THCS”
Qua đề tài này tôi mong muốn rằng những vấn đề để cập đến sẽ góp một
phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường nói chung và
khích lệ việc sử dụng đồ dùng vào dạy học ở các giáo viên dạy bộ môn Địa lý
nói riêng.
1.2. Mục đích nghiên cứu :
Trong quá trình giảng dạy nhiều năm ở tất cả các khối lớp 6,7,8,9, tôi nhận
thấy: Trong chương trình Địa lý, ngoài một số bài học về bản đồ hoặc lược đồ ở
lớp 6, không có bài học nào dành riêng cho việc rèn luyện kĩ năng sử dụng bản
đồ hoặc lược đồ cho học sinh. Chính vì vậy mà rất nhiều học sinh dường như
không biết cách sử dụng bản đồ hoặc lược đồ, chưa biết cách khai thác kiến thức
từ bản đồ hoặc lược đồ hay còn lúng túng trong việc khai thác kiến thức từ bản
đồ. Do vậy kiến thức các em tiếp thu được sau mỗi tiết học là không chắc chắn,
thụ động, gượng ép hay nói đơn giản là “ học vẹt” nên rất nhanh quên. Đến các
bài thực hành phải làm việc nhiều với bản đồ hoặc lược đồ, thì các em thấy rất
khó khăn và lúng túng, chất lượng của học sinh thấp dẫn đến kết quả không cao,
hơn nữa HS còn thấy chán học, ngại học làm cho tiết học trở nên nhàm chán.
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
a. Đối tượng:
Nghiên cứu quá trình sử dụng bản đồ, lược đồ trong các giờ dạy học địa lí ở
các khối lớp 6,7,8,9. Trường THCS Quảng Ninh

Phương pháp sử dụng bản đồ hoặc lược đồ là phương pháp dạy học truyền
thống đặc trưng cho môn Địa lí ở trường phổ thông. Do bản đồ hoặc lược đồ vừa
có chức năng minh hoạ, vừa có chức năng là nguồn tri thức, nên trong dạy học
giáo viên cần phải biết kết hợp chặt chẽ giữa việc giúp học sinh tìm tòi, lĩnh hội
kiến thức với việc hình thành, phát triển kĩ năng sử dụng bản đồ hoặc lược đồ
cho học sinh qua từng bài học. Muốn làm được điều này giáo viên không nên sử
dụng bản đồ hoặc lược đồ như một phương tiện minh hoạ mà phải sử dụng bản
đồ hoặc lược đồ như một nguồn tri thức Địa lí quan trọng để từ đó học sinh khai
thác kiến thức, rèn luyện kỹ năng. Đồng thời, bản đồ hoặc lược đồ phải được sử
dụng thường xuyên trong mọi khâu của quá trình dạy học, từ bài học mới đến ôn
tập, kiểm tra, đánh giá kiến thức kỹ năng.
Để giúp học sinh có khả năng làm việc độc lập với bản đồ hoặc lược đồ,
trong quá trình dạy học, giáo viên phải chú trọng việc hình thành và phát triển ở
học sinh một kĩ năng sử dụng bản đồ hoặc lược đồ như: xác định phương hướng,
tìm và chỉ vị trí các đối tượng Địa lí trên bản đồ hoặc lược đồ, mô tả đặc điểm
một đối tượng Địa lí dựa vào bản đồ hoặc lược đồ …
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Bảng số liệu thống kê về chất lượng học sinh hiểu biết về cách sử dụng bản
đồ hoặc lược đồ như sau:
Học sinh lớp 7:
Năm
học

20172018
HKI
20182019

SS
HS


%

SL

%

SL

%

46

10

22,0

12

26,0

12

26,0

12

26,0

48


sinh, công việc đầu tiên giáo viên phải làm là yêu cầu học sinh thuộc và nhớ các
quy định về phương hướng trên bản đồ hoặc lược đồ. Với những bản đồ hoặc
lược đồ tỉ lệ lớn, người ta thường quy ước, phía trên bản đồ hoặc lược đồ là
hướng Bắc, phía dưới là hướng Nam, bên phải là hướng Đông, bên trái là hướng
Tây. Sau đó giáo viên có thể hướng dẫn học sinh dựa vào các đường kinh tuyến,
vĩ tuyến trên bản đồ hoặc lược đồ để xác định phương hướng. Giáo viên chỉ cần
giới thiệu để học sinh xác nhận là trên bản đồ hoặc lược đồ thường có những
đường kẻ dọc và kẻ ngang. Đường kẻ dọc là kinh tuyến, đường kẻ ngang là vĩ
tuyến. Đầu phía trên của kinh tuyến là hướng Bắc, đầu phía dưới của kinh tuyến
là hướng Nam. Đầu bên phải của vĩ tuyến là hướng Đông, đầu bên trái của vĩ
tuyến là hướng Tây. Khi đã biết bốn hướng chính thì cũng có thể tìm ra các
hướng phụ khác trên bản đồ hoặc lược đồ,ví dụ: giữa Đông và Bắc là Đông Bắc,
giữa Tây và Nam là Tây Nam.

Lược đồ tự nhiên khu vực Đông Nam Á – Lớp 6

[3]

- Để đạt hiệu quả cao trong việc rèn luyện kỹ năng xác định phương hướng của
học sinh, giáo viên nên đưa ra các dạng bài tập dưới nhiều hình thức khác nhau
như điền từ vào chỗ trống (…), lựa chọn đúng sai, đi du lịch trên bản đồ hoặc
lược đồ theo một số tuyến nhất định…với nhiều góc độ khác nhau, lặp đi lặp lại
nhiều lần trên cơ sở yêu cầu học sinh quan sát một nôị dung cụ thể. Ngoài ra
4


việc rèn luyện kỹ năng xác định phương hướng cho học sinh phải đựoc tiến hành
thường xuyên trong quá trình học tập môn Địa lí.
b. Rèn luyện kĩ năng tìm, xác định vị trí Địa lí của các đối tượng Địa lí trên
bản đồ hoặc lược đồ

cảnh đó; để nhanh chóng tim ra vị trí Địa lí của đối tượng cần tìm. Chẳng hạn
muốn tìm vị trí địa lí của dãy Hoàng Liên Sơn, ngoài nhớ về độ cao (đây là dãy
núi cao nhất của Việt Nam), học sinh cần nhớ được vị trí của dãy núi này nằm
giữa sông Hồng và sông Đà. Như vậy, muốn tìm vị trí của dãy Hoàng Liên Sơn
trên bản đồ hoặc lược đồ thi học sinh phải tìm được sông Hồng, sông Đà, và
ngược lại...
c. Rèn luyện kĩ năng đọc bản đồ hoặc lược đồ.
Giáo viên cần hiểu: Đọc bản đồ hoặc lược đồ không phải là đọc các chữ ghi
trên bản đồ hoặc lược đồ mà là một quá trình tìm hiểu kiến thức Địa lí chứa
đựng trong các kí hiệu trên bản đồ hoặc lược đồ, ở các mức độ cao, thấp khác
nhau, tuỳ theo đối tượng, mục đích sử dụng.
Đọc bản đồ hoặc lược đồ có 3 mức độ:
- Mức độ 1: Học sinh chỉ cần dựa vào kí hiệu ở bản chú giải, chỉ và đọc
tên các đối tượng địa lí trên bản đồ hoặc lược đồ (đây là Hà Nội, kia là Hải
Phòng, đây là sông Hồng, kia là sông Gâm…)
- Mức độ 2: Học sinh dựa vào bản đồ hoặc lược đồ để tìm ra các đặc điểm
của đối tượng địa lí. Ví dụ: Vị trí của núi ở đâu? Núi cao hay thấp? Núi có
hướng gì?
- Mức độ 3: Học sinh vận dụng các kiến thức địa lí đã có xác lập mối
quan hệ địa lí để rút ra những điều mà trên bản đồ hoặc lược đồ không trực tiếp
thể hiện. Ví dụ :Trên bản đồ hoặc lược đồ tự nhiên Việt Nam, để xác định ảnh
hưởng của dãy Bạch Mã tới khí hậu và đường bờ biển, thềm lục địa vùng chân
núi, trước hết HS phải xác định đúng vị trí của dãy Bạch Mã (nằm cuối dãy
Trường Sơn Bắc, chân choài ra biển, đỉnh cao 1450m, phân cách Trường Sơn
Bắc với Trường Sơn Nam, giữa vùng Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Từ vị trí
và đặc điểm của địa hình trên, đòi hỏi học sinh phải khám phá mối quan hệ giữa
dãy núi này với hướng gió Đông Bắc, từ đó ảnh hưởng tới khí hậu của hai phần
lãnh thổ Bắc và Nam của dãy núi; mối quan hệ của dãy núi với Biển Đông, để
thấy sự hẹp đi của thềm lục địa và sự hình thành một loạt vũng vịnh tự nhiên
dưới chân núi, mô tả tổng hợp đặc điểm Địa lý của khu vực tự nhiên Bạch Mã.

Trong quá trình hướng dẫn học sinh đọc bản đồ hoặc lược đồ, giáo viên nên
kết hợp với việc rèn luyện kĩ năng mô tả các đối tượng địa lí dựa vào bản đồ
hoặc lược đồ, như mô tả về một dãy núi, một dòng sông, một vùng đất…Muốn
cho học sinh biết cách mô tả về một đối tượng địa lí nào đó, giáo viên nên đưa ra
dàn ý nói về những nội dung cần mô tả cho học sinh hiểu. Ví dụ: khi mô tả về
một dòng sông, học sinh phải mô tả lần lượt theo các ý: sông bắt nguồn từ đâu ?
Đổ nước ra đâu? Sông chảy theo hướng nào? Sông dài bao nhiêu km? Đây là
sông lớn hay nhỏ? giải thích tại sao? Giá trị của sông?...
Như vậy, việc hướng dẫn HS đọc bản đồ hoặc lược đồ phải được diễn ra
trong ba bước:
- Tìm vị trí đối tượng trên bản đồ hoặc lược đồ
- Mô tả đối tượng (hình dáng kích thước, quan hệ không gian).
- Xác định mối quan hệ tương hỗ, nhân quả không thể hiện trực tiếp trên bản
đồ hoặc lược đồ (nhờ vào liên tưởng để tìm tòi); mô tả đối tượng cần khám phá
trên bản đồ hoặc lược đồ.
Để đọc được bản đồ hoặc lược đồ như vậy, đòi hỏi giáo viên phải rèn luyện
cho HS các kĩ năng:
+ Hiểu hệ thống kí, ước hiệu bản đồ hoặc lược đồ.
+ Nhận biết, chỉ và đọc tên các đối tượng Địa lý trên bản đồ hoặc lược đồ.
+ Nghiên cứu chi tiết mạng lưới tọa độ, các đường viền và chữ viết.
+ Xác định phương hướng, khoảng cách, vĩ độ, kinh độ, kích thước, hình thái
và vị trí các đối tượng Địa lý trên lãnh thổ.
+ Mô tả đặc điểm đối tượng trên bản đồ hoặc lược đồ.
+ Xác định các mối liên hệ không gian trên bản đồ hoặc lược đồ.
+ Xác định các mối quan hệ tương hỗ và nhân quả thể hiện trên bản đồ hoặc
lược đồ.
+ Mô tả tổng hợp một khu vực, một bộ phận lãnh thổ (vị trí Địa lý, địa hình,
khí hậu, thủy văn, đất đai, thực vật, động vật, dân cư, kinh tế).
Ngoài ba phương pháp rèn luyện kỹ năng bản đồ hoặc lược đồ trên còn có
một phương pháp thông dụng nhất hiện nay trong việc rèn luyện kỹ năng bản đồ

S.Kì Cùng.
Câu 2: Đi dọc kinh tuyến 1080Đ từ núi Bạch Mã -> bờ biển Phan Thiết ta
phải đi qua:
a) Các cao nguyên:
- Kon Tum: Cao TB >1400m đỉnh cao nhất Ngọc Linh 2598m.
- Plây-ku: Cao TB >1000m tương đối bằng phẳng.
- Đắc-lắc: Cao TB 1000m
b) Nhận xét:
- Ngoài phân hóa theo chiều Đông - Tây, địa hình còn có sự phân hóa theo chiều
Bắc - Nam.
- Nham thạch chủ yếu là đá badan. Ngoài ra còn có đá Gra-nit và đá biến chất.
Một phần nhỏ ven biển Phan Thiết là đá trầm tích.
Câu 3: Trên quốc lộ 1A từ Lạng Sơn -> Cà Mau ta phảiqua:
a) Các đèo lớn:
Sài Hồ (Lạng Sơn) -> Tam Điệp (Ninh Bình) -> Ngang (Hà Tĩnh) -> Hải Vân
(Thừa Thiên - Huế) -> Cù Mông (Bình Định) -> Cả (Phú Yên)
b) Các đèo ảnh hưởng rất lớn tới giao thông Bắc -Nam: Thuận lợi cho việc
giao thông đi lại dọc từ Bắc -> Nam. Cho ví dụ.
Hay, ví dụ bài thực hành về điền vào bản đồ hoặc lược đồ trống: Hãy điền
vào bản đồ hoặc lược đồ (trống) Việt Nam các hệ thống sông lớn ở Bắc Bộ và
Nam Bộ .
Đối với học sinh ở bậc trung học cơ sở, cần phải hướng dẫn các em nghiên
cứu và ghi nhớ các địa danh trên bản đồ hoặc lược đồ của học sinh thể hiên hai
điểm: nhớ, thuộc địa danh, xác định đúng vị trí của chúng trên bản đồ hoặc lược
đồ. Hai điểm này liên quan chặt chẽ với nhau: khi đọc tên địa lí, học sinh liên
tưởng đến tài liệu thực tế, xác định đặc trưng và vị trí của nó. Để ghi nhớ phải sử
dụng phối hợp cả mắt và tư duy – ngôn ngữ và bằng hoạt động theo trình tự sau:
+ Học sinh phải phát âm đúng, ghi tên địa danh đúng.
+ Hình dung các vị trí địa danh (ở hướng nào, giáp những địa danh nào,...) sau

3. Thái độ:
Giúp học sinh có thái độ học tập tích cực, ham hiểu biết có niềm tin vào bản
thân để tìm cách giải thích các hiện tượng sự vật địa lí. Giúp các em vun đắp
tình yêu thiên nhiên, tích cực tham gia bảo vệ môi trường, tôn trọng các giá trị
kinh tế, văn hóa của nhân dân lao động.
4. Định hướng hình thành năng lực:
- Năng lực chung: Năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề
- Năng lục chuyên biệt: Tư duy tổng hợp theo lãnh thổ, sử dụng bản đồ.
II. Chuẩn bị của GV và HS:
1. Chuẩn bị của GV:
– Bản đồ tự nhiên Châu âu.
2. Chuẩn bị của HS;
- SGK, vở ghi..
III.Phương pháp dạy học :
- Thải luận, nêu vấn đề, đàm thoại ...
IV. Các tổ chức hoạt động học tập:
1.ổn định lớp
2. Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra vở bài tập của 5 học sinh.
3. Tiến trình bài học:: (40 phút)
Châu Âu không phải là cái nôi nguyên thuỷ của nền văn minh nhân loại,
nhưng Châu Âu là xứ sở và cội nguồn của sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật. Do
đó hầu hết các quốc gia ở Châu Âu có nền kinh tế phát triển đạt tới trình độ cao
của thế giới. Tìm hiểu tự nhiên Châu Âu là bài mở đầu cho sự tìm hiểu một châu
lục có đặc điểm thiên nhiên và sự khai thác tài nguyên rất hiệu quả của mỗi quốc
gia trong châu lục.
Hoạt động của Gv và HS
Yêu cầu cần đạt
Hoạt động 1: (20 phút)HĐ cá nhân / cả lớp, 1. Vị trí – địa hình:
a/ Vị trí:
nhóm/ cả lớp:


- Diện tích>10 TrKm2.
- Nằm khoảng giữa các
vĩ tuyến 360B và 710B,
chủ yếu trong đới ôn
hòa, có ba mặt giáp
biển và đại dương.
- Phía đông ngăn cách
với Châu Á bởi dãy
Uran

- Bờ biển bị cắt xẻ
mạnh, biển ăn sâu vào
nội địa tạo nhiều bán
đảo.

12


b/ Địa hình:
Địa hình: chủ yếu là
đồng bằng, bờ biển bị
cắt xẻ mạnh, biển lấn
HĐ nhóm/ cả lớp:
sâu vào đất liền, tạo
- GV Chia lớp làm 3 nhóm thảo luận về đặc điểm thành nhiều bán đảo,
địa hình Châu Âu?
vũng vịnh.
+ Nhóm 1: Thảo luận về núi trẻ.
+ Nhóm 2: Thảo luận về đồng bằng.

nào? Em hãy nhận xét về diện tích
các kiểu khí hậu.

[5]
13


(+ Ven biển Tây Âu có khí hậu ôn đới
hải dương.
+ Ven địa trung hải khí hậu Địa Trung
Hải.
+ Trung Tây Âu, phía đông dãy núi
Xcandinavi khí hậu ôn đới lục địa.)
Học sinh trả lời, GV chuẩn xác kiến
thức.
? Giải thích vì sao phía tây Châu Âu
có khí hậu ẩm và mưa nhiều hơn phía
đông?
( Có dòng biển nóng Bắc Đại Tây
Dương – gió Tây Ôn đới đưa hơi ấm,
ẩm vào sâu đất liền
? Dựa vào bản đồ tự nhiên Châu Âu
em hãy cho biết mật độ sông ngòi
Châu Âu?
? Sự phân bố thực vật thay đổi theo
yếu tố nào của tự nhiên?

- Khí hậu: phần lớn diện tích có khí
hậu ôn đới hải dương và ôn đới lục
địa.


ôn đới hải dương.
ôn đới lục địa
Địa Trung Hải
- Cận nhiệt, ôn đới luc địa.

Đặc điểm phân bố
thực vật
- Rừng cây lá rộng,
sổi, dẻ.
- Rừng cây lá kim:
Thông, tùng.
- Rừng cây lá cứng,
bụi gai, thảo nguyên.

V. Tổng kết và hướng dẫn học tập (2 phút)
*.Tổng kết: Trình bày sự phân bố các loại địa hình chính ở Châu Âu? Giải thích
vì sao phía tây Châu Âu có khí hậu ấm áp và mưa nhiều hơn phía đông?
*. Hướng dẫn học tập: (3 phút)Học bài và nghiên cứu trước bài 52.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Dưới đây là bảng kết quả sau khi sử dụng bản đồ hoặc lược đồ vào dạy
học Địa lý của tôi ở lớp 7 năm học 2018-2019 đạt đươc như sau:

14


Năm
học


SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

48

10

21

14

29.0

12

25.0


chỉ dẫn cụ thể, tránh rơi vào suy diễn máy móc. Chẳng hạn: nơi màu xanh là
đồng bằng phù xa, nơi màu vàng là núi…
- Không chỉ sử dụng bản đồ hoặc lược đồ trong nghiên cứu bài mới, mà cả trong
ôn tập, kiểm tra, ra bài tập về nhà, bài thực hành, tham quan, ngoại khoá…
- Bản đồ (lược đồ) phải có nội dung phù hợp với bài giảng, tránh khập khiễng.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
3.1. Kết luận:
Qua quá trình nghiên cứu và thực tế áp dụng phương pháp sử dụng bản đồ
hoặc lược đồ trong dạy học địa lí ở trường THCS Quảng Ninh năm học 2018 –
2019, tôi nhận thấy kết quả học tập bộ môn của học sinh cao hơn rất nhiều so
với những năm học trước khi việc sử dụng bản đồ hoặc lược đồ vào dạy học còn
hạn chế. Qua thực tế tiết dạy trên cá nhân tôi nhận thấy: học sinh nắm bài chắc
hơn, hiểu bài sâu hơn, học sinh có kỹ năng phân tích, kỹ năng tư duy lôgic các
đối tượng Địa lý tốt hơn.
Điều tôi tâm đắc nhất là việc sử dụng bản đồ hoặc lược đồ vào dạy học đã
tạo nên không khí sôi nổi trong học tập. Nhất là nó giúp cho các em có điều kiện
để nêu suy nghĩ của mình, giúp các em tự tin, hiểu biết lẫn nhau cũng từ đó xây
dựng được mối quan hệ giữa thầy và trò trong giờ học.
Sử dụng bản đồ hoặc lược đồ vào dạy học, còn rèn được trí thông minh, sáng
tạo, giúp học sinh ôn luyện, củng cố khắc sâu kiến thức đã học một cách ngẫu
nhiên, tự giác, không mang tính áp đặt, thụ động.
Nếu thực hiện tốt việc sử dụng bản đồ hoặc lược đồ trong các giờ dạy Địa lý
thì sẽ tạo cho giáo viên tự khẳng định mình thông qua việc tự nghiên cứu
phương pháp dạy học, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy.
15


Qua quá trình áp dụng phương pháp đưa bản đồ hoặc lược đồ vào các tiết dạy
Địa lý ở các khối, lớp cấp THSC, tôi cũng tự rút ra cho mình những kinh nghiệm
hay tiếp tục phát huy để dạy các bài sau là:

khác.

Bùi Tuấn Việt

Lê Thị Thu Hằng

MỤC LỤC
16


Trang
1. Mở đầu.......................................................................................1
1.1. Lí do chọn đề tài......................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu...............................................................2
1.3.Đối tượng nghiên cứu...............................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu .........................................................2
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.................................................2
2.1 .Cơ sở lí luận............................................. ................................2
2.2. Thực trạng.................................................................................2
2.3. Giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề....................................2
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.......................................13
3. Kết luận và kiến nghị...................................................................14
3.1.Kếtluận......................................................................................14
3.2. Kiến nghị…………………………………………………..…15

Tài liệu tham khảo
1. Luật Giáo dục
17



(Ngành GD cấp
huyện/tỉnh; Tỉnh...)

Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A, B, hoặc
C)

Năm học
đánh giá
xếp loại

Huyện

C

2009- 2010

Huyện

B

2011- 2012

Huyện

B

2015- 2016


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status