Sử dụng sơ đồ tư duy để dạy học có hiệu quả các tiết ôn tập, tổng kết trong chương trình ngữ văn 9 - Pdf 57

MỤC LỤC

I. PHẦN MỞ ĐẦU:
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
II. NỘI DUNG :
1. Cơ sở lí luận
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
1. Kết luận
2. Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1.Lý do khách quan

Trang
1
1
3
3
3
4
4
4
6

mức độ sâu hơn. Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục và các kiến thức, hình ảnh luôn
được nối kết với nhau. Sự liên kết này tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả ý
tưởng trung tâm một cách đầy đủ và rõ rang, có nhiều màu sắc hấp dẫn.
Qua nghiên cứu và thực nghiệm giảng dạy cho thấy một số giáo viên còn
gặp khó khăn trong việc tổ chức hoạt động dạy học trên lớp với việc thiết kế và
sử dụng SĐTD. Đề tài này sẽ đưa ra một số gợi ý giúp giáo viên sử dụng SĐTD
vào dạy học các bài ôn tập tiếng việt, tổng kết văn bản trong bộ môn Ngữ văn 9
để giải quyết khó khăn trên.
1.2.Lý do chủ quan
Việc học văn trong nhà trường hiện nay là một vấn đề vô cùng bức thiết.
Các em dường như không thiết tha lắm với việc học bộ môn này. Về mặt khách
quan cho thấy, học các bộ môn xã hội khi tốt nghiệp THPT, thi đại học các em
khó chọn trường, đồng thời khi ra trường thì rất khó xin việc. Về mặt chủ quan
chúng ta cũng nhận thấy rằng các em ngại học văn vì phải đọc nhiều, viết nhiều
và đôi khi câu chữ trong văn chương đa nghĩa, phức tạp khiến người học khó
tiếp cận. Vì vậy, vai trò của người thầy dạy văn trong nhà trường rất quan trọng.
2


Người thầy phải truyền được niềm say mê học văn cho học sinh khiến mỗi giờ
học văn là mỗi giờ các em được trải nghiệm mình, được học tập chiếm lĩnh tri
thức, được sáng tạo.... Nhưng một thực tế cho thấy, không phải ở giờ học văn
nào, học sinh cũng được đón nhận lòng yêu nghề, nhiệt huyết với bài dạy và
cách khai thác kiến thức bài học đúng đắn của thầy cô. Có những giờ văn, giáo
viên dạy còn nặng nề về lí thuyết, áp đặt kiến thức hoặc truyền đạt nội dung văn
bản mờ nhạt. Giáo viên chưa thực sự sáng tạo, đổi mới phương pháp dạy học
theo hướng tích cực lấy học sinh là trung tâm, hướng dẫn cho các em tự chiếm
lĩnh tri thức bằng các kĩ thuật, phương pháp dạy học mang tính chất phát huy
tính chủ động, sáng tạo của người học. Bên cạnh đó, trong quá trình dạy học bộ
môn Ngữ văn ở THCS, bản thân tôi nhận thấy nhiều học sinh chưa biết cách


Đối với các tiết ôn tập Ngữ văn 9, lượng kiến thức nhiều khó nắm bắt. Vì
vậy nếu vận dụng SĐTD sẽ xác đinh được kiến thức trọng tâm, ôn tập và ghi
nhớ nhanh hơn, thấy rõ mối quan hệ tương hỗ giữa các ý, các phần trong bài học
3. Đối tượng nghiên cứu:
Khi tiến hành đề tài tôi đã dựa trên tình hình giảng dạy và học tập thực tế của
giáo viên và học sinh trong nhà trường THCS Nhữ Bá Sỹ huyện Hoằng Hóa. Từ
đó, đưa ra những cách thức, phương pháp về vấn đề hướng dẫn cho đối tượng học
sinh đại trà nắm vững kiến thức cơ bản một cách chắc chắn, dễ hiểu, dễ nhớ và
không còn cảm giác “sợ” đối với bộ môn Ngữ văn.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp tra cứu tài liệu
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế
- Phương pháp tổng hợp.

II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lí luận
4


Sơ đồ tư duy (SĐTD) còn gọi là lược đồ tư duy. Đây là hình thức ghi chép
nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một
mạch kiến thức,… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường
nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực. Đặc biệt đây là một sơ đồ mở,
không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt
các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm
từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể trình bày nó
dưới dạng SĐTD theo một cách riêng, do đó việc lập SĐTD phát huy được tối
đa khả năng sáng tạo của mỗi người.

5


học sinh có được phương pháp học tập tích cực, tăng tính độc lập, chủ động,
sáng tạo và phát triển tư duy. Bởi vì, SĐTD giúp học sinh huy động tối đa tiềm
năng của bộ não. Việc học sinh vẽ SĐTD có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng
tạo của học sinh, các em được tự do chọn màu sắc ( xanh, đỏ, tím, vàng…),
đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong..), các em tự sáng tạo trong quá trình thiết lập
mô hình để trình bày kiến thức bài học nên trên mỗi SĐTD thể hiện rõ cách
hiểu, cách trình bày kiến thức của từng học sinh và SĐTD do các em tự thiết kế
nên các em sẽ yêu quý, trân trọng sản phẩm trí tuệ của mình.
Trong quá trình dạy học các bài ôn tập, tổng kết trong chương trình Ngữ
văn 9 rất cần đến việc sử dụng SĐTD, vì đây là chương trình cuối cấp học
THCS. Hầu hết các bài ôn tập, tổng kết đều có tính chất khái quát lại cả một hệ
thống chương trình, đơn vị kiến thức của các phân môn: Văn bản, Tiếng việt,
Tập làm văn của các lớp 6,7,8 và lớp 9. Trong các tiết học này, giáo viên hướng
dẫn tốt cho học sinh học bài theo phương pháp vẽ SĐTD để ôn tập, tổng kết kiến
thức thì hiệu quả dạy học sẽ rất tốt. Vì đây là một phương pháp học tập tích cực,
giúp cho cả người học và người dạy giảm tải được cách ghi nhớ máy móc mà
thiên về suy nghĩ chiều sâu của trí óc, cách học này lưu giữ kiến thức được lâu
hơn. Đồng thời học sinh sẽ tự giác, tích cực hoạt động để tự ôn tập, nắm vững
kiến thức đã học, nhờ đó mà việc chiếm lĩnh và lưu giữ kiến thức bài học sẽ
được lâu hơn. Hơn thế nữa,các tiết ôn tập trong chương trình Ngữ văn 9 có
những bài phân phối chương trình chỉ cho thời lượng là một tiết kiến thức thì
quá nhiều (ví dụ: tiết 129: Ôn tập thơ), vì vậy nếu giáo viên không hướng dẫn
học sinh ôn tập trước và soạn bài kĩ lưỡng bài ở nhà thì tiết học sẽ không thành
công. Ở các tiết học như thế, việc vận dụng SĐTD vào quá trình dạy học là một
phương pháp dạy học đạt được kết quả khả quan nhất.
Khi dạy học các tiết tổng kết, ôn tập trong chương trình ngữ văn 9 ở các lớp
tại Trường THCS Nhữ Bá Sỹ bản thân tôi nhận thấy rằng nhiều tiết dạy theo

Trên cơ sở bốn giải pháp mà tôi đã đưa ra ở phần I, tôi sẽ tiến hành các biện
pháp tổ chức cụ thể sau:
Biện pháp tổ chức 1: Giáo viên giúp học sinh hiểu rõ vai trò, tác dụng, tiện
ích của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn.
Sơ đồ tư duy (SĐTD) là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng
một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức. SĐTD giúp học
sinh học tập một cách tích cực. Một số kết quả nghiên cứu của các nhà khoa
học cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do
chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình. Vì vậy sử dụng
SĐTD giúp học sinh huy động tối đa tiềm năng của bộ não. Việc học sinh trực
tiếp vẽ SĐTD vừa lôi cuốn, hấp dẫn các em, đồng thời còn phát triển khiếu thẩm
mĩ, óc hội họa, vừa phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của các em trong học
tập, không rập khuôn một cách máy móc như khi lập các bảng biểu, sơ đồ, vì các
em dễ dàng vẽ thêm các nhánh để phát triển ý tưởng riêng của mình.
SĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các
nhánh). Do đó, chúng ta có thể vận dụng sơ đồ tư duy vào tất cả các khâu trong
quá trình dạy học. Từ khâu kiểm tra bài cũ, đến khâu dạy học kiến thức mới, hay
khâu củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, rồi ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau
mỗi chương, mỗi học kì, kể cả việc kiểm tra bài cũ, kiểm tra 15 phút.
Sơ đồ tư duy, một công cụ có tính khả thi cao. Ta có thể vận dụng được với
bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay nói chung. Bởi vì
ta có thể thiết kế Sơ đồ tư duy trên giấy, bìa, tờ lịch cũ, bảng phụ,… bằng cách
sử dụng bút chì màu, phấn màu, tẩy…hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm
Sơ đồ tư duy (Mind Map). Với những trường đủ điều kiện về cơ sở vật chất như
7


Máy chiếu Projecto, phòng máy vi tính đảm bảo, chúng ta có thể sử dụng phần
mềm (Mind Map) để phục vụ cho việc dạy học có ứng dụng công nghệ thông
tin.

Đơn hướng
Đa hướng
hướng phát triển)
Biện pháp tổ chức thực hiện 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh các thao tác
thiết kế sơ đồ tư duy và những điều cần tránh khi vẽ SĐTD:
a.Các thao tác thiết kế SĐTD:
Để có thể sử dụng tốt và phát huy một cách có hiệu quả SĐTD trong quá
trình dạy học, trước hết, chúng ta cần cho học sinh làm quen với một số sơ đồ tư
duy có sẵn, để chí ít các em có cái nhìn khái quát về nó (tiếp xúc nó, hiểu nó, rồi
nhìn theo bản vẽ để tập vẽ theo nó). Đây là bước chuẩn bị hết sức quan trọng, vì
các em chưa hình dung được SĐTD của bài học trong đầu mình cũng như chưa
biết cách thức, phương pháp vẽ. Chúng ta cần dành thời gian hợp lý cho các em
làm quen với SĐTD, theo cách sau đây:
Để tiết kiệm thời gian, giáo viên nên chọn thời gian thuận lợi ngay từ đầu
năm học tổ chức một buổi ngoại khóa “Làm quen với Sơ đồ tư duy” (vào tiết
sinh hoạt lớp) để giới thiệu, cho các em làm quen và hướng dẫn cách vẽ SĐTD
cho các em (đây cũng là một bước tạo không khí sôi nổi, lôi cuốn các em tiếp
cận với một phương pháp, kĩ thuật dạy học mới). Để buổi ngoại khóa thành
công, giáo viên cần chuẩn bị tốt các nội dung sau:
+ Về phía học sinh, giáo viên cần nhắc nhở các em mang theo đầy đủ các
dụng cụ: giấy vở, bìa lịch cũ, bìa cứng, bút chì, hộp màu, tẩy,...
+ Về phía giáo viên, cần chuẩn bị trước: phòng máy, máy chiếu, bảng phụ,
phấn màu, ... và một số SĐTD đã vẽ sẵn trên trên máy, trên giấy vở, trên bìa
8


lịch, trên bảng phụ... Sau đó, chúng ta bắt đầu tiến hành tổ chức nội dung theo
các bước sau:
Bước 1: Giúp học sinh làm quen với SĐTD:
-Trong giờ học, giáo viên giới thiệu một số SĐTD vẽ sẵn cho học sinh làm

triển khai đủ các ý chính, sơ đồ vẽ quá chi tiết đến vụn vặt, sơ đồ vẽ không đúng
trọng tâm kiến thức, sơ đồ dùng quá nhiều hình ảnh, màu sắc lòe loẹt,... )
-Giáo viên cho học sinh quan sát, nhận xét, góp ý chỉnh sửa, bổ sung.
-Giáo viên lắng nghe, định hướng cho các em chỉnh sửa, bổ sung.
* Lưu ý:
+ SĐTD là một sơ đồ mở. Vì vậy, giáo viên cần tôn trọng và phát huy sự
sáng tạo của các em, bởi đây là “sản phẩm” của chính các em. Giáo viên chỉ
chỉnh sửa cho các em chủ yếu về mặt kiến thức. Mặt khác, giáo viên cũng cần
khuyến khích, biểu dương những SĐTD vẽ đảm bảo đầy đủ kiến thức trọng tâm,
đẹp, có cách trình bày khoa học, cân đối, hài hòa về đường nét, màu sắc.
+ Nếu thấy mất quá nhiều thời gian để tô đậm màu trong một nhánh, ta có
thể hướng dẫn thêm cho các em cách gạch chéo, đánh dấu cộng, hay chấm bi
trong đó.
+ Giáo viên nhắc nhở thêm các em cần hình thành thói quen tốt: nên lập
SĐTD trong quá trình chuẩn bị bài mới ở nhà và lập lại sau khi học xong bài
trên lớp để có điều kiện đối chiếu xem mình đã làm được những gì? Những gì
mình còn sai sót cần bổ sung, sửa chữa. Nếu làm được như vậy, chẳng những
giúp các em nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện cho các em phát triển năng
lực tư duy (Tư duy lô-gic, tư duy hệ thống...) rất tốt.
+ Giáo viên nhắc các em sau mỗi bài học nên lưu các SĐTD lại để sau này
tiện việc ôn tập, hệ thống kiến thức vào một phong bì kiểm tra.
b. Giáo viên giúp học sinh nắm vững những điều cần tránh khi ghi chép
trên SĐTD:
Trong giờ học, khi hướng dẫn học sinh vẽ SĐTD, giáo viên phải giúp cho
các em nắm vững những điều cần tránh khi vẽ SĐTD, cụ thể:
-Ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng trên các nhánh.
-Ghi chép quá nhiều ý vụn vặt không cần thiết trên SĐTD.
-Dành quá nhiều thời gian để ghi chép máy móc trên SĐTD.
-Tránh cầu kì ( tô vẽ nhiều quá) hoặc SĐTD đơn giản quá không có thông
tin, chỉ có các đề mục.

-Sử dụng máy chiếu trong bài học.
-Kết hợp thuyết minh với sơ đồ tư duy để dạy học bài ôn tập.
2.Học sinh:
-Soạn bài trước khi đến lớp.
-Chuẩn bị giấy rô ki, bút màu để vẽ sơ đồ tư duy.
C.Tiến trình tổ chức hoạt động dạy học:
I.Hoạt động khởi động:
1.Ổn định tổ chức lớp.
2.Kiểm tra bài cũ: Giáo viên kiểm tra phần chuẩn bị bài của học sinh.
II. Bài mới: Giáo viên giới thiệu bài.
Hoạt động của giáo viên và học sinh
Hoạt động 1:
Sau khi giới thiệu bài mới, giáo viên ghi cum
từ trung tâm “ÔN TẬP TIẾNG VIỆT” lên giữa
bảng đen. Sau đó, dẫn dắt học sinh lần lượt đi

Nội dung cần đạt
I.Ôn tập phần lí thuyết:
1.Các phương châm hội thoại.
2.Xưng hô trong hội thoại.
3.Cách dẫn trực tiếp, dẫn gián
11


vào tìm hiểu các nội dung ôn tập theo trình tự tiếp.
SGK. Bắt đầu với việc hệ thống, củng cố kiến
thức lý thuyết thông qua các câu hỏi:
?Chúng ta đã học qua những phương châm hội
thoại nào? Em hãy nhắc lại nội dung mỗi
phương châm hội thoại?

-Gv hướng dẫn Hs làm các bài tập trong sách giáo khoa.
-GV yêu cầu Hs hoạt động theo nhóm hoặc hoạt động cá nhân, sau đó lên bảng
trình bày.
-Gv yêu cầu Hs nhận xét chéo, GV nhận xét chung, bổ sung, đánh giá.
*Lưu ý: vì dung lượng hạn hẹp của sáng kiến kinh nghiệm nên ở hoạt động 2
của tiết ôn tập, bản thân tôi không sử dụng SĐTD nên xin phép không dành
nhiều thời gian để bàn về vấn đề này.
D.Củng cố dặn dò:
-Gv yêu cầu Hs nắm vững đơn vị kiến thức bài học.
-Hs về nhà rèn luyện thêm kĩ năng vẽ SĐTD.
-Hoàn thiện bài tập ôn tập.
13


-Soạn bài tiết 74.
E.Rút kinh nghiệm:
Trên đây là một giáo án mà bản thân tôi đã vận dụng SĐTD vào dạy học
thành công.
b.Hướng dẫn cho học sinh học ở nhà theo mô hình vẽ SĐTD chuẩn bị cho
bài học tiếp theo.
Quy trình tổ chức hoạt động vẽ SĐTD ở nhà (phần chuẩn bị bài):
- Dùng SĐTD để củng cố kiến thức sau mỗi tiết học và hệ thống kiến thức
sau mỗi chương, phần….Sau mỗi bài học, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học
sinh tự hệ thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách
vẽ SĐTD. Giáo viên hướng dẫn cho học sinh ôn tập theo tổ, nhóm, cá nhân theo
hình thức: các em đọc bài, soạn bài theo cách vẽ sơ đồ tư duy. Mỗi nhóm, tổ, cá
nhân có thể tự định hướng cho mình các vẽ các sơ đồ tư duy dựa trên các từ
khoá chính của bài ôn tập, tổng kết. Nếu là phân nhóm, tổ thì mỗi nhóm, tổ vẽ
vào một tờ giấy rô ki, mỗi thành viên của nhóm, tổ phải đầu tư trí tuệ vào bản vẽ
của nhóm mình (tổ trưởng, nhóm trưởng phân công), đối với cá nhân thì các em

nhóm. Gv chuẩn bị một SĐTD chuẩn của bài học trình bày, học sinh theo dõi và
đánh giá chất lượng bản vẽ của nhóm mình, điều chỉnh những thiếu sót.
-Giáo viên có thể đưa ra một SĐTD chưa hoàn thiện trên tờ giấy rô ki, yêu
cầu mỗi nhóm học sinh lên bảng bốc thăm phần trình bày của nhóm mình.
Sau đó, mỗi nhóm trình bày vào tờ giấy A4 phần nội dung kiến thức mà
nhóm mình sẽ trình bày, sau thời gian 7 phút, cử đại diện lên dính vào tờ giấy rô
ki mà giáo viên đã chuẩn bị treo trên bảng, nhóm trưởng thuyết minh phần trình
bày của nhóm mình. Giáo viên cho các nhóm nhận xét và sau đó giáo viên sẽ
tổng hợp kiến thức, nhận xét, bổ sung và cho điểm.
Ví dụ: Giáo viên đưa ra SĐTD cho tiết học Ôn tập về truyện ( Tiết 153-phần
ôn tập kiến thức cơ bản về các văn bản đã học -Câu hỏi 1, SGK, trang 144).

15


Trên đây là một sơ đồ tư duy chưa hoàn chỉnh, giáo viên đưa ra để học sinh
điền thông tin tiếp theo để hoàn thiện bài ôn tập.
c. Giải quyết những tình huống sẽ xảy ra trong quá trình dạy học bằng
SĐTD ở các tiết ôn tập, tổng kết trong chương trình Ngữ văn 9:
-Trong quá trình tổ chức cho học sinh chiếm lĩnh đơn vị kiến thức bài học
theo SĐTD, giáo viên sẽ bắt gặp những tình huống sau:
+Sẽ có những học sinh vẽ SĐTD đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu của bài
học. Nhưng bên cạnh đó, sẽ có những học sinh không vẽ theo yêu cầu của bài
học, thậm chí sẽ lúng túng không biết vẽ SĐTD.
+Có những SĐTD vẽ thiếu nhánh, ghi nội dung kiến thức bài học trên các
nhánh không phù hợp.
-Trước những tình huống đó, giáo viên cần phải có những biện pháp xử lí
hợp lí, nâng cao hiệu quả dạy học. Cụ thể, bản thân tôi sẽ giải quyết các tình
huống đó như sau:
+Đối với những SĐTD của các em vẽ tốt, đáp ứng yêu cầu của bài học thì

bản thân tôi đã nhận thức được vai trò tích cực của việc ứng dụng SĐTD trong
quá trình dạy học. Tôi đã tìm hiểu, biết cách sử dụng SĐTĐ một cách hiệu quả
trong hầu hết các khâu của quá trình lên lớp, từ việc kiểm tra bài cũ, dạy bài
mới, củng cố kiến thức bài học, ôn tập, hệ thống kiến thức các chương,
phần....Học sinh tiếp thu bài, nắm kiến thức chắc chắn hơn, khoa học hơn, nhanh
hơn. Đa số các em học sinh khá, giỏi đã biết sử dụng SĐTD để ghi chép bài,
tổng hợp kiến thức môn học. Những học sinh trung bình đã biết dùng SĐTD để
củng cố kiến thức bài học ở mức đơn giản. Điều quan trọng hơn là các em học
tập tích cực hơn, sôi nổi hơn. Các em không còn tâm lý chán học, ngại học môn
Ngữ văn vì phải ghi chép nhiều. Trái lại, tất cả rất hào hứng với việc học tập. Vì
việc ứng dụng SĐTD không chỉ tạo tác động trực quan lôi cuốn các em, mà còn
giúp các em ghi chép bài gọn gàng, khoa học hơn, nhanh hơn và nhẹ nhàng hơn
nhiều so với cách ghi chép trước đây. Cụ thể:
- Năm học 2017-2018: Trước khi thực hiện đề tài, qua phiếu thăm dò niềm
yêu văn, hiểu văn của học sinh, tôi thu được kết quả sau: Tổng số học sinh lớp
9C, 9D: 80 em.
Sử dụng sơ đồ,
Yêu thích môn
Có thái độ bình Không thích học văn,
biểu đồ tư duy
văn, hiểu bài học thường.
không hiểu bài.
SL
%
SL
%
SL
%
truyền thống
20

Bảng so sánh kết quả thi giữa HKI và kết quả thi cuối HKII của 2 lớp 9
Trường THCS Nhữ Bá Sỹ TT Bút Sơn:
KT giữa HKI
KT cuối HKII
Ghi chú
Số HS
Số HS
Lớp
Sĩ số
đạt 5,0
Tỉ lệ
đạt 5,0
Tỉ lệ
trở lên
trở lên
9C
42
30
71%
42
100%
tăng 18,9%
9D
38
29
76,3%
38
100%
Tăng23,7%
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

- Đánh giá, xếp loại giáo viên đúng năng lực, trình độ và đề xuất khen
thưởng kịp thời những giáo viên tích cực trong đổi mới PPDH.
-Tổ chức các tiết thao giảng thực hiện đổi mới PPDH để đồng nghiệp học
hỏi, trau dồi thêm kinh nghiệm dạy học, nâng cao hiệu quả dạy-học.
*. Với giáo viên:
- Nhiệt tình, say mê với nghề, tận tuỵ với học sinh.
- Luôn tạo hứng thú trong giờ học ( đặc biệt là các tiết tập ôn tập, tổng kết
luôn luôn bị coi là khó và nhiều kiến thức) bằng các hình thức như: thi giữa các
nhóm, tổ, tổ chức các trò chơi, …để học sinh có hứng thú và yêu thích môn học
hơn.

18


- Cần có sự linh hoạt khi ứng dụng SĐTD vào việc soạn, giảng, kiểm tra
đánh giá, tổ chức hoạt động cho học sinh, tránh lạm dụng; nhất là đối với bộ
môn Ngữ văn.
Trên đây là những kinh nghiệm của bản thân tôi vận dụng SĐTD ở các tiết
ôn tập, tổng kết trong dạy học bộ môn Ngữ văn tại trường THCS Nhữ Bá sỹ -TT
Bút Sơn. Trong quá trình triển khai sang kiến kinh nghiệm, bản thân tôi không
tránh khỏi những hạn chế. Vì vậy, tôi rất mong được sự góp ý chân thành của
lãnh đạo cấp trên và các bạn đồng nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm của tôi được
đầy đủ và hoàn thiện, mang tính khả thi hơn.
Xin chân thành cảm ơn!

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Hoằng Hóa, ngày 7 tháng 05 năm 2018
CAM KẾT KHÔNG COPY

Kết quả
Năm học
giá xếp loại
đánh giá
TT
Tên đề tài SKKN
đánh giá xếp
(Phòng, Sở, xếp loại (A,
loại
Tỉnh...)
B, hoặc C)
1
Thực trạng dạy học văn ở
Sở GD&ĐT Loại C
Năm học
THCS và một số giải pháp
Thanh Hóa
2007-2008
nâng cao hiệu quả dạy học.
2
Nâng cao chất lượng đọc
Phòng
Loại A
Năm học
văn bản trong dạy và học
GD&ĐT
2009 – 2010
môn Ngữ văn THCS.
Hoằng Hóa
3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status