1. Mở đầu
1.1.Lí do chọn đề tài
Nghị Quyết 29, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, về đổi mới căn bản giáo dục
toàn diện nêu rõ: "Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo
dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học….
Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa
đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề. ... Tập trung vào những giá trị cơ
bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị
cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh."[1]. Có thể
nói phát triển năng lực thẩm mĩ là một yêu cầu quan trọng trong quá trình đổi mới nội dung,
phương pháp dạy học và phương pháp kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
Goroki nói:" Con người về bản chất là một nghệ sĩ, ở đâu con người cũng
mong muốn mang cái đẹp vào cuộc của mình"[2]. Sống và sáng tạo theo quy luật của
cái đẹp, là bản chất của con người. Nhưng cuộc sống vốn đa dạng và phức tạp. Do đó,
cái khó là làm sao hướng dẫn và phát triển đúng đắn con đường đi đến cái đẹp đích
thực, giúp con người có khả năng lựa chọn, đánh giá đặc biệt nhạy cảm trước cái
đẹp, từ đó biết sáng tạo ra cái đẹp muôn màu trong mọi hoạt động sống của mình.
Chính vì vậy việc phát triển năng lực thẩm mĩ cho học sinh trở thành nhiệm vụ quan
trọng trong công tác giáo dục của nhà trường.
Qua các giá trị thẩm mĩ độc đáo, văn học đã làm thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ,
phát triển năng lực và thị hiếu thẩm mĩ của con người. Với học sinh Trung học cơ sở
nhờ tiếp xúc với các tác phẩm văn học, tâm hồn của các em cũng trở nên nhạy cảm
hơn, có khả năng cảm thụ tốt hơn các tác phẩm văn học. Để có thể cảm nhận ra cái
hay, cái đẹp của tác phẩm văn học, biết khám phá ra cái đẹp của thế giới xung quanh,
chính vì vậy mà các em có thể cảm nhận cuộc sống một cách nhạy cảm, tinh tế hơn.
Có thể nói về phương diện này văn học chính là nơi nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ của
con người, nơi giữ gìn và phát triển chất nghệ sĩ vố có trong mỗi tâm hồn.
Với tính chất hai mặt: vừa là môn học vừa là môn nghệ thuật, môn Ngữ văn
chính là cơ hội tốt nhất để phát triển năng lực thẩm mĩ cho học sinh, khi các em được
tiếp xúc với vẻ đẹp của tác phẩm văn chương. Trong năng lực thẩm mĩ có cả yếu tố
cảm xúc (rung động thẩm mĩ) và yếu tố lí trí (nhận xét, đánh giá,…); hai yếu tố này
mà nhà văn muốn gửi gắm cho thế hệ trẻ là tình yêu quê hương đất nước và lòng biết ơn người thầy.
Phải thừa nhận một thực tế là đa số học sinh hiện nay không thích học môn
Ngữ văn, không có hứng thú trong việc tiếp thu kiến thức văn chương. Do tính đặc
thù môn học, là một môn học mang tính cảm xúc, tư duy trừu tượng, chịu chi phối rất
nhiều bởi yếu tố văn hóa, tâm lí, cảm xúc, đòi hỏi người học phải có trí tưởng tượng
phong phú. Đây cũng là môn học mà nội dung không chỉ hiện ra trên dạng câu từ mà
nó còn bao hàm, ẩn chứa nhiều tầng nghĩa sâu xa (đặc biệt phần văn bản), vì thế việc
tiếp nhận môn học này đối với học sinh là rất khó khăn. Mà học sinh nhiều em rất thiếu
lòng quyết tâm học tập, cứ khó khăn là nản, bỏ, không học,… dẫn đến yếu kém rồi chán môn học đó.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi đi sâu tìm hiểu và thực hiện đề tài " Một số
biện pháp nhằm phát huy năng lực thẩm mĩ cho học sinh qua dạy học văn bản
"Hai cây phong" - Ngữ văn 8 tập 1"
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu về: các khái niệm năng lực thẩm mĩ nói chung,
về phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh và việc phát triển
năng lực thẩm mĩ cho học sinh trong dạy học Ngữ văn, qua đề tài này tôi muốn:
- Đưa ra các giải pháp, biện pháp nhằm phát triển năng lực thẩm mĩ cho học
sinh qua dạy học văn bản: "Hai cây phong" - Ngữ văn 8, tập 1.
- Góp phần đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra
đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
- Đúc rút kinh nghiệm dạy học để nâng cao chất lượng bộ môn.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: "Một số biện pháp nhằm phát triển năng
lực thẩm mĩ cho học sinh qua tiết dạy văn bản "Hai cây phong" trích tác phẩm
"Người thầy đầu tiên" của Ai-ma-tôp - Ngữ văn 8, Tập1".
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này tôi sử dụng các phương pháp nghIên cứu sau
đây:
- Phương pháp quan sát, trực quan
- Phương pháp khảo sát, thống kê.
định ở thị hiếu và hoàn chỉnh ở lí tưởng thẩm mĩ.
Thị hiếu thẩm mĩ là một biểu hiện quan trọng của năng lực thẩm mĩ. Thị hiếu
thẩm mĩ giúp con người tiến sâu hơn vào thế giới thẩm mĩ bằng những mẫn cảm đặc
biệt và đạt được thói quen trong thưởng thức sáng tạo, không có thị hiếu thì không có
cuộc sống đẹp, vì vậy thị hiếu thẩm mĩ được coi là một phần tiềm năng sáng tạo của
con người. Một thị hiếu phát triển ở một trình độ nhất định bao giờ cũng thấm nhuần
một lí tưởng thẩm mĩ cụ thể. Lí tưởng thẩm mĩ đóng vai trò quan trọng trong đánh giá
thẩm mĩ theo chuẩn mực xã hội. Thị hiếu thẩm mĩ vừa là biểu hiện của năng lực, tình
cảm vừa là biểu hiện của trình độ trí tuệ.
2.1.2. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. [ 4 ]
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học được xem như một nội
dung giáo dục, phương pháp giáo dục hiện đại trong xu thế đổi mới căn bản và toàn
diện Giáo dục và Đào tạo hiện nay. Điểm khác nhau giữa cách dạy này so với các
phương pháp dạy học trước đây là ở chỗ dạy học phát triển phẩm chất, năng lực
người học có yêu cầu cao hơn, mức độ khó hơn, đòi hỏi người dạy phải có phẩm chất,
năng lực giảng dạy nói chung cao hơn trước đây. Điều quan trọng hơn cả là nếu so
sánh với các quan niệm dạy học trước đây, việc dạy học phát triển phẩm chất, năng
lực sẽ làm cho việc dạy và việc học được tiếp cận gần hơn, sát hơn với mục tiêu.
3
2.1.3. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở môn Ngữ văn.
Môn Ngữ văn được coi là môn học công cụ, nó mang đặc thù riêng của môn
học, do đó các năng lực chuyên biệt: năng lực tiếp nhận văn bản và năng lực tạo lập
văn bản - năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ là những năng lực đóng vai
trò quan trọng hình thành và phát triển nhân cách con người trong việc xác định các
nội dung dạy học của môn học .
Quá trình dạy học Ngữ văn đồng thời giúp học sinh hình thành và phát triển
các năng lực, đáp ứng với các yêu cầu phát triển của xã hội, thông qua việc rèn luyện
giá cái đẹp…Điều này giáo viên có thể làm được thông qua việc dạy trên lớp cũng
như việc hướng dẫn học sinh tự đọc tác phẩm ở nhà.
2.2. Thực trạng.
Thực tế hiện nay môn Ngữ văn đang dần mất đi vị trí quan trọng của nó. Tuy
là một môn học có vai trò quan trọng nhưng rất nhiều người xếp nó sau một số môn
học được coi là thực tế hơn để định hướng nghề nghiệp trong tương lai. Hơn nữa văn
chương lại là một môn học thường phải ghi chép nhiều, khó nhớ. Tâm lí các em hiện
nay có sự thay đổi các em thích nhanh chóng, thuận lợi, nhẹ nhàng. Vì thế có nhiều
4
em ham mờ c truyn tranh, c mt cỏch "ngu nghin", b n, ng, b hc. Mt s
li tỡm n nhng tiu thuyt ngụn tỡnh khụng phu hp vi la tui, mt s lao vo
trũ chi tiờu khin trờn mng, vui u vo trang facebook nhng li quay lng vi
mụn Ng vn. Trong tỡnh hỡnh chung ca vic dy- hc mụn Ng vn nh vy ó
nh hung khụng ớt n vic bi p nng lc thm m cho hc sinh.
Cỏc vn bn nc ngoi núi chung, vn bn: "Hai cõy phong" - Ng vn 8, núi
riờng l vn bn khú dy, khú cm th dn n tõm lớ giỏo viờn e ngi, tõm lớ hc sinh
cng nng n, choỏng ngp khi tip cn tỏc phm. Trc tỡnh hỡnh nh vy, Phũng
giỏo dc huyn nh ó t chc hn mt bui hi tho dy th nghim giỏo viờn b
mụn Ng vn cú mt cỏch tip cn thng nht vi vn bn ny. Tuy nhiờn sau bi
dy, rỳt kinh nghim vn cũn nhiu vn tranh cói cha thng nht c bit l nh
hng tip cn on trớch theo b cc hay mch k.
Trờn tinh thn chung nh vy, tụi tham kho ý kin cỏc ng nghip, c ti
liu liờn quan n cỏc vn bn nhng u cú nhng cõu tr li cha tht s tha ỏng.
Tụi cng ó tham kho trờn phng tin truyn thụng v nhng sỏng kin kinh
nghim liờn quan nhm nõng cao hiu qu tit dy nhng hu nh khụng thy.
i vi hc sinh tôi đã tiến hành một cuộc điều tra nghiêm túc
về hứng thú đối với tiết học vn bn: "Hai cõy phong" để nắm bắt đợc
khả năng t tip cn, hiu, ỏnh giỏ vn bn của các em học sinh lp 8 trong
8
52
Khi
8
Số HS
52
Mức độ hứng thú của HS đối với tiết học
Không có hứng
Hứng thú
Bình thờng
thú
Số lSố l%
%
Số lợng
%
ợng
ợng
5
9,6
10
19.2
37
71,1
Sau khi dy xong tin hnh iu tra mc nhn thc ca hc sinh tụi nhn
c kt qu nh sau:
Kết quả sau tiết học t nhng nm trc, kt qu iu tra c số học
sinh, khiến tôi rất trăn trở và suy nghĩ phải tìm ra biện pháp để
giúp các em có đợc hứng thú với tiết hc vn bn nc ngoi núi chung vn
bn:"Hai cõy phong" núi riờng t ú nõng cao hiu qu ca tit dy v phỏt trin
nng lc thm m cho hc sinh
2.3. Cỏc gii phỏp ó s dng gii quyt vn
phỏt trin nng lc thm m cho hc sinh qua tit dy hc vn bn: "Hai cõy
phong" trớch: "Ngi thy u tiờn" ca Ai-ma-tp, Ng vn 8 - tp 1, ngoi nhng
gii phỏp c bn, c thu ca mụn dy, bn thõn tụi ó nghiờn cu, ỏp dng mt s
bin phỏp sau:
1. Lm tt khõu chun b bi.
2. Xõy dng h thng cõu hi hng n phỏt trin nng lc thm m cho hc sinh.
3. Thc hin gi dy theo hng m, vn dng cỏc phng phỏp dy hc tớch cc.
4. Thc hin dy hc tớch hp liờn mụn
5. Tng cng ng dng cụng ngh thụng tin.
6. Thc hin tt kim tra ỏnh giỏ theo nh hng phỏt trin nng lc hc sinh.
Vi mi bin phỏp ó nờu, tụi ó xỏc nh rừ c s lớ lun v thc tin ca mi
bin phỏp, t ú, cn c vo mc tiờu ca bi hc a ra cỏc bin phỏp t chc dy
hc cho phu hp vi i tng hc sinh..
2.3. 1. Lm tt khõu chun b bi.
2.3. 1.1. i vi giỏo viờn.
Vi quan im dy hc theo phng phỏp mi hin nay ó nhn mnh: "Thy
ch o, trũ ch ng", "Hc sinh l ch th sỏng to". phỏt huy tớnh tớch cc,
nng lc ca hc sinh, thỡ giỏo viờn phi lm tt vai trũ ca ngi hng dn. i vi
mụn ng vn núi chung, phn vn bn nc ngoi núi riờng v c th khi dy on
trớch: "Hai cõy phong" thỡ theo tụi khõu chun b bi vụ cung quan trng.
Trc khi dy vn bn tụi xỏc nh mc tiờu c thu ca bi hc vn bn vn
hc nc ngoi l giỳp trang b kin thc v trau di t tng, tỡnh cm thỏi
cho hc sinh. Cung cp v m rng hiu bit cho hc sinh v nhng giỏ tr vn húa
c ỏo tiờu biu ca mt s nc tiờn tin trờn th gii, nhng vn gn gi, bc
khi dạy học văn bản theo định hướng phát triển năng lực của học sinh. Vì vậy tôi rất
coi trọng hoạt động hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài sau mỗi tiết học.
Hướng dẫn chuẩn bị bài là hoạt động cuối cùng của một tiết học. Mục đích là
để tổng kết lại nội dung của tiết đang trực tiếp dạy và hướng dẫn học sinh học tập ở
tiết tiếp theo. Để chuẩn bị tốt cho tiết dạy đồng thời hướng đến mục tiêu phát huy
năng lực thẩm mĩ cho học sinh qua tiết dạy bài: "Hai cây phong", ở mục hướng dẫn
chuẩn bị bài của tiết dạy trước đó tôi đã hướng dẫn học sinh chuẩn bị cho tiết dạy này
như sau:
Bước 1: Chia lớp làm 3 nhóm yêu cầu các nhóm chuẩn bị theo nội dung hướng
dẫn. Các nhóm thực hiện chuẩn bị bài học trong thời gian ba ngày. Các nhóm tự thảo
luận, hoàn thành phần chuẩn bị và nộp kết quả cho giáo viên. Ưu tiên các nhóm
chuẩn bị tư liệu viết, tư liệu tranh ảnh ở bản mềm.
- Đọc kĩ văn bản. Tìm đọc toàn bộ tác phẩm: "Người thầy đầu tiên". Đọc chú
thích trong sách giáo khoa, chú ý đến phần tóm tắt tác phẩm.
- Trả lời các câu hỏi theo phần đọc- hiểu văn bản trong sách giáo khoa.
- Sưu tầm, tìm hiểu một số tư liệu, tranh ảnh về tác giả Ai- ma- tốp. Đất nước
Cộng hoà Cư-rơ-gư-xtan
- Sưu tầm, tham khảo, đọc các nguồn tài liệu, các ý kiến đánh giá liên quan
đến văn bản: "Hai cây phong".
- Kể tên những tác phẩm văn học nước ngoài mà em đã học thể hiện vẻ đẹp
của quê hương đất nước, vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của tình cảm thầy trò.
Bước 2: Định hướng cho học sinh một số nguồn cung cấp tài liệu tham khảo
hữu ích như:
- Các bài báo, bài giới thiệu về tác giả, tác phẩm.
- Sách tham khảo Ngữ văn 8 thư viện nhà trường.
- Các địa chỉ Website như: http://www.tailieu.vn, http://hocmai.vn,...
Bước 4: Thu sản phẩm của các nhóm, kiểm tra, đánh giá chọn lọc tư liệu hữu
ích để trình bày tại tiết học văn bản.
Bước 5: Trình bày sản phẩm của các nhóm, dành khoảng 5 phút trong tiết dạy
để các nhóm tự nhận xét, giáo viên kết luận, ghi điểm cho các nhóm.
thành một phần không thể thiếu trong ký ức làng quê của biết bao thế hệ dân làng
Ku-ku-rêu.
( Nguồn: học sinh sưu tầm)
Các em nhớ đến một số tác phẩm có cùng chủ đề đã học như văn bản: "Buổi
học cuối cùng" của An-phông-xơ Đô- đê Ngữ văn 6 - Tập 1, văn bản: "Bức thư của
thủ lĩnh da đỏ" của Xi-át-tơn, Ngữ văn 6- Tập 1, chùm thơ Đường ở Ngữ văn 7…
Việc chuẩn bị tốt bài ở nhà giúp các em có thói quen tốt trong học tập, hạn chế
tham gia những trò chơi vô bổ, giải thoát cho các em tâm lí năng nề trước khi đến lớp,
các em hứng thú phấn khởi với tiết học mới hơn, tiết học hiệu quả hơn
Qua phần hướng dẫn chuẩn bị bài cho học sinh tôi đã giúp các em tự khẳng
định vẻ đẹp của thiên nhiên, của quê hương, vẻ đẹp tình cảm thầy trò …là nội dung,
là đề tài chủ yếu của tác phẩm văn chương nói chung, trong các tác phẩm của nhà
văn Ai-ma-tốp nói riêng và vẻ đẹp này được thể hiện rất rõ trong văn bản: "Hai cây
phong". Từ đó, tạo một tâm thế, một cái nhìn khái quát cho học sinh về giá trị thẩm
mĩ của những tác phẩm văn học nói chung và văn bản: "Hai cây phong" nói riêng.
Học sinh qua phần này cũng bước đầu phát hiện, cảm thụ được những giá trị thẩm mĩ
qua tác phẩm văn học.
8
2.3.2. Xõy dng h thng cõu hi.
Trong chơng trình vn hc nc ngoi, cú nhiều các tác phẩm,
đoạn trích thể hiện v p ca thiờn nhiờn, ca lng quờ, v p tỡnh cm thy
trũ, th hin rung cm sõu sc, tinh t ca nh vn. oạn trích "Hai cây
phong" trớch tác phẩm "Ngời thầy đầu tiên" của nhà văn nổi tiếng
Ai-ma- tốp đã thể hiện thật sâu lắng nhng v p ú ng thi bc l
nhng rung cm vụ cung tinh t, ca nhõn vt tr tỡnh. Làm thế nào để khi
dy trong tõm hn các em những cảm xỳc sâu lắng ấy? Làm thế nào
để cỏc em tip cn ti bc thụng ip ca tỏc gi trong vn bn ri qua ú
hng cỏc em n giỏ tr chõn - thin - m ca cuc sng theo tụi mt phần quan
nh c ý tng, ni dung quan trng; kt ni cỏc mi liờn h trong vn bn
nhn xột v giỏ tr ni dung, ngh thut ca vn bn, ý tng sỏng tỏc ca tỏc gi, cỏc
thụng ip c gi gm.
Vớ d
- Trong hai mch k chuyn trờn thỡ mch k no quan trng hn?
9
- Văn bản có thể chia bố cục làm mấy phần? Xác định nội dung của từng
phần?
- Qua đó em có cảm nhận gì về tình cảm của: "tôi", dành cho hai cây
phong?
- Có điều gì đặc sắc trong cách miêu tả ấy? Nó chứng tỏ điều gì trong tâm
hồn tác giả?
- Kí ức tuổi thơ Việt Nam thường gắn với loại cây nào?
- Qua chi tiết đó, cho biết lũ trẻ chúng tôi đã cảm nhận hình ảnh hai cây
phong như thế nào ?
- Khi kể về điều này nhân vật tôi kể bằng giọng điệu gì? Kể bằng giọng điệu
đó nhân vật tôi muốn bộc lộ tình cảm gì?
Để trả lời được các câu hỏi này học sinh không chỉ đọc kĩ mà phải hiểu, cảm
nhận một cách sâu sắc các chi tiết, hình ảnh trong văn bản. Các câu hỏi này tôi chủ
yếu hướng tới học sinh trung bình khá.
Cấp độ vận dụng thấp
Cấp độ vận dụng thấp, yêu cầu học sinh vận dụng thông tin vào tình huống giả
định tương tự. Cụ thể như sử dụng thông tin trong và ngoài văn bản, thông tin từ các
nguồn khác và kinh nghiệm bản thân để giải quyết các tình huống/vấn đề tương tự
những tình huống/vấn đề đã học.
Ví dụ .
- Em cảm nhận được tình cảm gì của tác giả đối với làng mình?
- Tình yêu đó gợi cho em tình cảm gì đối với thiên nhiên, quê hương, xóm
- Từ tình cảm, cảm nhận được ở văn bản "Hai cây phong", em hãy viết một
đoạn văn từ 4 đến 6 câu trình bày tình cảm của mình đối với thầy giáo hoặc cô
giáo để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng em?
- Dựa vào truyện, tập sáng tạo một bức tranh, câu truyện ngắn, bài thơ viết
về tuổi thơ gắn với một hình ảnh thân thuộc nào đó. (cánh đồng, dòng sông...)
Ở cấp độ này đòi hỏi học sinh phải có năng lực liên tưởng, tưởng tượng phong
phú, kiến thức nhất định về các bộ môn khác. Có sự trải nghiệm trong cảm xúc của
bản thân. Phải có quan điểm, thái độ rõ ràng trước các vấn đề/ tình huống đặt ra trong
văn bản hoặc trong đời sống. Kết hợp với các kĩ năng lập luận, trình bày một cách
thuyết phục
2.3.2.2. Câu hỏi đặc thù nhằm phát triển năng lực thẩm mĩ học sinh trong
môn Ngữ văn.
Câu hỏi cảm xúc
Là những câu hỏi nhằm khơi dậy sự rung động thẩm mĩ và những cảm xúc,
tình cảm của học sinh trong việc tiếp nhận hình tượng văn học. Thực chất của loại câu
hỏi này là kiểm tra thái độ, tình cảm của học sinh đối với hình tượng văn học đó.
Những câu hỏi này yêu cầu học sinh phải diễn tả lại bằng lời nói hoặc những ấn
tượng xúc cảm, những suy nghĩ thiên về cảm tính của học sinh, về một bộ phận, một
phương diện, một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn chương
Ví dụ :
Sau khi học sinh phát hiện vẻ đẹp của làng Ku-ku- rêu qua ngòi bút miêu tả của
tác giả tôi hỏi:
Em cảm nhận được tình cảm gì của tác giả đối với làng quê của mình?
Sau khi cho học sinh đọc đoạn: “ Đã bao lần...say sưa, ngây ngất” tôi hỏi
Em cảm nhận được tình cảm của người họa sĩ- người kể chuyện đối với hai
cây phong thế nào?
Hay khi cho học sinh thấy được những vẻ đẹp của thế giới mà từ trên ngọn hai cây
phong bọn trẻ nhìn thấy, tôi hỏi:
Em cảm nhận như thế nào về vẻ đẹp của cảnh vật trọng đoạn văn này?
Áp dụng hình thức hỏi khơi gơi sự rung động thẩm mĩ và những xúc cảm, tình
Bức tranh làng Ku-ku-rêu hiện lên thật thơ mộng, trữ tình. Bức tranh về hai
cây phong thật đẹp, thật sinh động. Em hãy vẽ một bức tranh với chủ đề quê
hương thể hiện những vẻ đẹp đó?
Hay
Khi cảm nhận về vẻ đẹp của hai cây phong tác giả không chỉ vẻ bằng ngòi bút
đậm chất hội họa của người nghệ sĩ mà còn thể hiện bằng giọng văn thấm đẫm
chất trữ tình. Khi hiểu được tấm lòng của người thầy "tôi" đã vô cùng xúc động.
Em hãy thể hiện những cảm xúc của mình trước vẻ đẹp của phong cảnh quê
hương, trước tình cảm về thầy cô bằng một đoạn văn hoặc đoạn thơ ngắn?
Để giúp các em phát huy tính sáng tạo của mình, trong giờ đọc - hiểu tác phẩm,
giáo viên nên xây dựng, sử dụng hệ thống câu hỏi sáng tạo. Đây là loại câu hỏi yêu
cầu học sinh phải vận dụng suy nghĩ độc lập, kết hợp với khả năng tư duy chặt chẽ,
trên nền tảng kiến thức đã có để tìm tòi, phát hiện ra cái mới. Loại câu hỏi này mang
đặc trưng của một giờ hướng dẫn học sinh cảm thụ tác phẩm văn chương. Nó đáp ứng
đúng đặc thù của bộ môn và phân môn, tạo cảm hứng cho cả người dạy lẫn người học
đồng thời phát triển tốt năng lực thẩm mĩ cho học sinh.
Tuy nhiên câu hỏi này cần có thời gian để học sinh thực hiện nên cần đưa vào
phần kiểm tra, đánh giá và có thể yêu cầu học sinh thực hiện ở nhà.
Khi đặt câu hỏi cũng cần chú ý vận dụng quy tắc đặt câu hỏi. Để phát triển
năng lực thẩm mĩ của học sinh qua tiết dạy văn bản: "Hai cây phong", tôi chú ý đến
cách ra và sử dụng câu hỏi đó là: Không độc tôn một loại câu hỏi, coi trọng câu hỏi
khơi dậy trí tưởng tượng, nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ, kích thích sự sáng tạo thẩm
mĩ, cho các em. Các câu hỏi phải chính xác, tinh tế, bám vào văn bản, mục tiêu bài
học. Câu hỏi phải vừa sức, không quá vụn vặt, không quá trừu tượng.
2.3.3. Thực hiện giờ dạy theo hướng mở, vận dụng linh hoạt các phương
pháp dạy học tích cực.
Như đã nói các tác phẩm văn chương là sản phẩm tinh thần độc đáo của nghệ
sĩ. Bởi vậy đòi hỏi người giáo viên phải biết khéo léo, vận dụng linh hoạt các phương
pháp dạy học tích cực để truyền tải kiến thức đến với học sinh bằng con đường ngắn
12
những chi tiết nào?( Hai cây phong nằm ở đâu? Với những người đi xa trở về làng
nó có vai trò gì?)
Học sinh trả lời:
Vị trí: Phía trên làng, giữa một ngọn đồi.
Vai trò Chúng luôn hiện ra trước mắt chúng tôi như những ngọn hải đăng
Việc áp dụng phương pháp vấn đáp vào trong dạy học bộ môn Ngữ Văn
có tác dụng rất lớn trong việc phát triển trí tuệ, tâm hồn của HS, rèn luyện kỹ
năng, phát huy sáng tạo của HS, phát huy hướng tìm tòi, phát hiện trong quá
trình học của HS.
2.3.3.3. Phương pháp thảo luận nhóm.
Thảo luận nhóm là một phương pháp dạy học hiện đại, lấy người học làm trung
tâm.Với phương pháp này, người học được làm việc cùng nhau theo các nhóm nhỏ và
mỗi một thành viên trong nhóm đều có cơ hội tham gia vào giải quyết các nhiệm vụ
học tập trong một khoảng thời gian nhất định dưới sự hướng dẫn, lãnh đạo của giáo
viên.
Ví dụ :
13
Khi muốn học sinh bày tỏ tình cảm, sự gắn bó của mình với quê hương đất
nước, với thiên nhiên tôi đặt câu hỏi: Tình yêu đó gợi cho em tình cảm gì đối với
thiên nhiên, quê hương, xóm làng?
Trong một thời gian ngắn, để học sinh bộ lộ được suy nghĩ của mình tôi cho
các em thảo luận nhóm theo 2 bàn, trong 3 phút. Sau đó đại diện học sinh sẽ trả lời.
Từ đó sẽ tìm ra định hướng trả lời chung .
Mục đích chính của thảo luận nhóm là thông qua cộng tác học tập, nhằm: Phát
huy tính tích cực, chủ động, tự lực của học sinh: trong thảo luân nhóm, học sinh phải
tự giải quyết nhiệm vụ học tập, đòi hỏi sự tham gia tích cực của các thành viên; đồng
thời, các thành viên cũng có trách nhiệm về kết quả làm việc của mình. Giúp cho học
bản phương pháp này được hiểu cụ thể ở việc giáo viên và học sinh sử dụng các hình
ảnh cụ thể, sinh động nhằm tạo ra tri giác trực tiếp cho học sinh.
Ví dụ.
Trong giờ dạy tôi sử dụng các hình ảnh: chân dung tác giả, hình ảnh những tác
phẩm chính của nhà văn Ai-ma-tốp; những bức tranh, hình ảnh về đất nước Cư-grư-xtan
xinh đẹp.
14
Phần chú thích tôi sử dụng các hình ảnh minh họa:
Chú thích (1) Cao nguyên: vùng đất bằng phẳng, rộng lớn và cao, xung quanh
có sườn dốc rõ rệt.
Chú thích (7) Thủy triều: Hiện tượng chuyển động lên xuống có chu kì của
nước biển do chịu ảnh hưởng sức hút của mặt trăng và mặt trời.
Cao nguyên
Thủy triều
Phương pháp trực quan có vai trò rất lớn trong việc giúp học sinh nhớ kĩ, hiểu
sâu những hình ảnh, những kiến thức lịch sử. Hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững
chắc trong trí nhớ là hình ảnh chúng ta thu nhận được bằng trực quan. Vì vậy, cùng
với việc phân tích, bình giảng những hình ảnh trực quan còn phát triển khả năng quan
sát, trí tưởng tượng, sáng tạo tư duy và ngôn ngữ của học sinh .
2.3.4. Thực hiện dạy học tích hợp liên môn.
Dạy học tích hợp là tổ chức nội dung dạy học của giáo viên sao cho học sinh có
thể huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải
quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó hình thành kiến thức, kĩ năng, từ đó phát
triển được các năng lực cần thiết. Có thể tích hợp ba phân môn hoặc tích hợp môn
Ngữ văn với các môn học khác như Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân, Ngoài giờ lên
ảnh về làng quê…
Một số thông tin về tác giả tác phẩm.
Các tranh ảnh, thông tin thu được sẽ lưu lại vào USB, máy tính để trình chiếu,
thuyết trình trong giờ dạy.
Tiến hành thiết kế bài giảng điện tử. Tôi sử dụng phần mềm Powerpoint để thiết
kế bài giảng. Đây là phần mềm đơn giản, dễ thiết kế trình chiếu và có tác dụng tích
cực, rõ nét nhất. Khi giới thiệu, trình bày và khái quát nội dung bài học, mỗi slide
được coi là một bộ phận cũng là một hệ thống con trong hệ thống các nội dung mà
bài học cần thể hiện. Ở mỗi slide, có thể chọn hiệu ứng, đưa các tư liệu (ảnh, nhạc,
bài đọc tác phẩm …) làm cho bài giảng sinh động lôi cuốn hơn.
Khi thiết kế bài giảng cần: Xác định rõ mục tiêu bài dạy. Xác định kiến thức cơ
bản, nội dung trọng tâm. Lựa chọn tư liệu và những thông tin cần thiết phục vụ bài
dạy. Lựa chọn cách trình bày, các hiệu ứng phù hợp… xây dựng tiến trình dạy học
thông qua các hoạt động dạy học
Việc soạn bài giảng điện tử giúp giáo viên trình bày bài giảng sinh động hơn,
thích nghi với sự thay đổi của khoa học hiện đại. Song khi sử dụng bài giảng điện tử
cũng cần chú ý đây chỉ là phương tiện hỗ trợ cho giáo viên trong việc thực hiện các
phương pháp dạy học theo hướng đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong tiết dạy cũng phải đúng lúc, đúng chỗ, bảo
đảm đặc trưng bộ môn nhằm tạo hiệu quả cao cho giờ học, không được quá lạm dụng
mà làm mất chất Văn thật sự của một giờ Ngữ văn.
2.3.6. Thực hiện kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
Kiểm tra, đánh giá là khâu then chốt cuối cùng của quá trình dạy học, là "lực
nắn" hữu hiệu cách dạy cách học. Theo tinh thần đổi mới, việc kiểm tra, đánh giá cần
đa dạng hoá về hình thức, cách thức ra đề theo hướng vừa kiểm tra được kiến thức cơ
bản, vừa tạo điều kiện cho người học bày tỏ được cảm xúc, suy nghĩ, ý kiến, quan
điểm riêng của mình trước vấn đề đặt ra.
Với cách dạy cũ, khi dự giờ của đồng nghiệp, cuối tiết học giáo viên thường có
câu hỏi:
Đoạn trích có giá trị gì về mặt nội dung và nghệ thuật ? hay Nêu giá trị nội
HS suy nghĩ, trả lời cá nhân, vào phiếu giáo viên đã chuẩn bị trong thời gian 5 phút.
GV thu bài của học sinh về nhà chấm.
GV chiếu đáp án lên ti vi để củng cố bài học.
Câu 1: Phương thức biểu đạt: tự sự, kết hợp với miêu tả và biểu cảm.
Câu 2: Nội dung của đoạn văn: Cảm nhận của nhân vật tôi về hai cây phong.
Câu 3: Biện pháp tu từ: Nhân hóa, so sánh.
Câu 4: Học sinh trả lời theo cảm nhận riêng nhưng phải lí giải được tập trung
vào hai tình cảm chính.
Luôn biết yêu quý, gần gũi với thiên nhiên, yêu quý là gắn bó với làng xóm, quê hương.
Sau khi chấm bài, kết quả tôi thu được là có 49/51 học sinh trả lời được câu 1,
có 51/51 học sinh trả lời được câu 2, có 40/51 học sinh trả lời tốt câu 3, có 45/51 học
sinh trả lời được câu 4 có sức thuyết phục.
Qua phần này tôi đã củng cố được một phần bài học, đánh giá được năng lực
cảm thụ và năng lực thẩm mĩ của học sinh.
Trong phần hướng dẫn học sinh học ở nhà tôi yêu cầu học sinh thực hiện 2 bài tập nhỏ .
Bài 1. Chọn một đoạn văn mà em thích nhất đọc diễn cảm.
Bài 2:
a.Từ tình cảm, cảm nhận được ở văn bản: "Hai cây phong", em hãy viết một
đoạn văn từ 4 đến 6 câu trình bày tình cảm của mình đối với quê hương đất nước.
17
b.Từ tình cảm, cảm nhận được ở văn bản: "Hai cây phong", em hãy viết một
đoạn văn từ 4 đến 6 câu trình bày tình cảm của mình đối với thầy giáo hoặc cô
giáo để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng em?
c. Dựa vào truyện, tập sáng tạo một bức tranh, câu chuyện ngắn, bài thơ viết
về tuổi thơ gắn với một hình ảnh thân thuộc nào đó.( cánh đồng, dòng sông...)
Bài 1: Học sinh thực hiện cả lớp.
Bài 2: Tôi chia lớp làm 3 nhóm yêu câu mỗi nhóm thực hiện 1 câu hỏi ( nhóm 1: câu
a; nhóm 2 câu b; nhóm 3 câu c)
%
lượng
lượng
8
51
39
76,5
8
15,7
4
7,8
Kết quả tiết học
Khối
Số HS
Học sinh nắm vững nội Học sinh chưa nắm vững
dung bài học, biết vận nội dung bài học
dụng liên hệ.
Số lượng
%
Số lượng
%
8
52
46
tiết học để từ đó thiết kế bài giảng phù hợp. Đặc biệt giáo viên phải chuẩn bị tâm lí, cảm xúc trong tiết
dạy, chuẩn bị hệ thống câu hỏi để làm sao học sinh vừa nắm bắt được nội dung bài học, vừa có tình cảm
thẩm mĩ, nhu cầu thẩm mĩ, thị hiếu thẩm mĩ. Để rồi thông qua những điều đó giúp các em nhận ra
vẻ đẹp riêng của hai cây phong là khúc dạo đầu cho một bài ca khá dài về tình yêu quê hương và con
người, là nỗi buồn nhớ không nguôi về quê hương trong xa cách. Hai cây phong đặc biệt gắn liền với
một câu chuyện xúc động về người thầy đầu tiên đem ánh sáng văn hóa khai sáng cho lũ trẻ làng Kuku-rêu trong những năm 20 của thế kỉ XX, câu chuyện về tình thầy trò cảm động. Hai cây phong nhắc
chúng ta đừng bao giờ quên quá khứ tuổi thơ, đừng bao giờ quên công ơn và tình cảm của người thầy
giáo của cuộc đời mình. Đó là chỗ dựa vững vàng nhất, tin cậy nhất để mỗi con người luôn vững bước
trên mọi nẻo đường đời.
Sau khi nghiên cứu, thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này vào tiết học, bản thân
tôi và học sinh đã cảm nhận rất rõ về vẻ đẹp của hai cây phong, của làng quê, của
thiên nhiên, về vẻ đẹp của tình thầy trò để từ đó có những nhận thức đầy đủ hơn về
tình yêu quê hương đất nước và lòng biết ơn người thầy, trong văn bản nói riêng cũng
như trong văn học nói chung. Đặc biệt trong thời buổi kinh tế thị trường thì việc bồi đắp
cho mỗi người tình yêu quê hương, dân tộc, lòng biết ơn kính trọng người thầy là thật sự cần thiết.
3.2. Kiến nghị
- Các cấp lãnh đạo cần có sự ủng hộ, quan tâm giúp đỡ, sự đóng góp ý kiến rút
kinh nghiệm của các bạn đồng nghiệp trong và ngoài trường.
- Tổ chức hội thảo chuyên đề cho giáo viên trong từng năm để giáo viên có dịp trao
đổi kinh nghiệm, bàn luận tìm ra biện pháp tối ưu, tích cực nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn.
Đây là những ý kiến của cá nhân chắc chắn trong khi viết tôi không tránh khỏi
thiếu sót. Vậy kính mong các đồng chí trong Hội đồng khoa học cấp trên góp ý kiến
để tôi có thể hoàn thiện hơn nữa kinh nghiệm này.
19
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thọ Xuân, ngày 25 tháng 5 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không
sao chép nội dung của người khác.