PHẦN A : ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài
Giáo viên chủ nhiệm(GVCN) lớp là người chịu trách nhiệm thực hiện mọi quyết
định quản lý của hiệu trưởng đối với lớp và các thành viên trong lớp. GVCN lớp
là người vạch kế hoạch, tổ chức cho lớp mình thực hiện các chủ đề theo kế
hoạch và theo dõi, đánh giá việc thực hiện của các học sinh(HS). GVCN lớp
phải biết phối kết hợp với các GV bộ môn, chỉ đạo quản lý học sinh trong lớp
học tập, lao động, và công tác khác. Chủ nhiệm cũng là người phối hợp với các
tổ chức, đoàn thể trong trường ,trong đó quan hệ nhiều ở cấp THPT là đoàn
trường, chi đoàn GV, hội CMHS, để làm tốt công tác dạy- học- giáo dục HS
trong lớp phụ trách.
Làm sao để lớp mình chủ nhiệm đạt những thành tích cao trong học tập, cũng
như tham gia các phong trào thi đua của nhà trường. Đó chính là những trăn trở
của không ít thầy cô chủ nhiệm.Với đội ngũ giáo viên trẻ, tuy được trang bị
những kiến thức khá chuẩn trong công việc dạy học, nhưng khi đứng trước công
tác chủ nhiệm, không ít người cảm thấy bở ngỡ và lúng túng.
Như vậy khi nói đến giáo viên chủ nhiệm là đề cập đến vị trí, vai trò, chức năng
của người làm công tác chủ nhiệm lớp, còn nói đến công tác chủ nhiệm lớp là đề
cập đến những nhiệm vụ, nội dung công việc mà người giáo viên chủ nhiệm
phải làm, cần làm và nên làm.
Để chia sẻ những trăn trở trên,với những gì mình đã tích lũy được suốt một thời
gian dài làm công tác chủ nhiệm, tôi xin được đúc kết những điều kiện cần và đủ
để XÂY DỰNG MỐI QUAN HỆ GẦN GŨI GIỮA THẦY VÀ TRÒ TRONG
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG. Tôi đã rút ra được những bài học
kinh nghiệm và hệ thống nó bằng các bước thực hiện cụ thể.
II . Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
1. Mục tiêu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp
trong mối quan hệ Thầy – Trò với học sinh mà đề ra những giải pháp hợp lý
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh và góp phần hoàn thiện
nhân cách học sinh ở trường THPT.
5.3. Phương pháp điều tra:
+ Tiếp cận trò chuyện, trao đổi với các GVBM, HS, cha mẹ học sinh...
5.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
+ Tham khảo những bản báo cáo , tổng kết hàng năm của nhà trường.
+ Tham chiếu kết quả của các giáo viên chủ nhiệm lớp khác trong trường mình.
5.5. Phương pháp thử nghiệm
+ Thử áp dụng các giải pháp tiếp cận học sinh để giáo dục hành vi học sinh ở
lớp 12 B11 năm học 2015 – 2016 và lớp 12 C12 năm học 2016 – 2017.
6. Thời gian thực hiện.
- Bắt đầu : 05. 09. 2015
- Kết thúc : 31 . 05 . 2017
PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Thực trạng công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông hiện
nay:
Thầy – trò được hiểu đó là Người dạy chữ và người học chữ. Nếu nhìn ở góc độ
hẹp thì có thể xem đây là mối quan hệ một chiều áp đặt của người dạy đến người
học. Mở rộng hơn thì Thầy được coi như người được cha mẹ học sinh ủy nhiệm
thay mặt mình để dạy cho con cái họ.
Thầy dạy chữ là thế, còn thầy chủ nhiệm thì trách nhiệm sẽ nhiều hơn. Thầy
không chỉ là người dạy chữ, mà Thầy còn là cha, là anh chị trong gia đình. Thầy
còn là người chịu trách nhiệm thực hiện mọi quyết định quản lý của hiệu trưởng
đối với lớp và các thành viên trong lớp, là người vạch kế hoạch, tổ chức cho lớp
mình thực hiện các chủ đề theo kế hoạch và theo dõi, đánh giá việc thực hiện
của các học sinh. Nhưng để có được một tập thể lớp vững mạnh, giáo viên chủ
nhiệm không chỉ đơn thuần là người dạy chữ, là người quản lý học sinh mà giáo
viên chủ nhiệm phải thực sự là một nhạc trưởng, là một quản gia đầy quyền lực .
2
Trong giai đoạn những năm gần đây, trước sự phát triển không ngừng của khoa
phát triển mạnh, các em ngày càng có nhiều nhu cầu hiểu biết, thích tìm tòi,
thích bắt chước, thích giao lưu, thích đua đòi, thích sự khẳng định mình..., trong
khi kiến thức về xã hội, gia đình, sự hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, nên
chiều hướng học sinh hư, lười học, hiện tượng bỏ giờ, vi phạm pháp luật, vi
phạm đạo đức ngày càng nhiều. Đó là những khó khăn về mặt khách quan gây
cản trở cho những người làm công tác chủ nhiệm lớp.
Ngoài ra , cũng phải nhìn nhận những thiếu sót về phía đội ngũ giáo viên chủ
nhiệm. Một bộ phận giáo viên chưa thật nhiệt tình, một phần do công việc giảng
dạy chiếm nhiều thời gian, hiệu quả công tác chủ nhiệm ít nhiều bị ảnh hưởng.
Một thiếu sót khác là nhiều giáo viên chủ nhiệm tiến hành công việc khá cảm
tính, chưa có phương pháp chủ nhiệm sáng tạo thích hợp. Có người quá nghiêm
khắc, có người quá dễ dãi. Người nghiêm khắc gò ép học sinh theo khuôn khổ
3
một cách máy móc. Và như thế, về mặt tâm lí, cả giáo viên và học sinh đều như
bị áp lực. Người dễ dãi thì lại buông lỏng công tác quản lí, thiếu quan tâm đến
học sinh.
2. Một số giải pháp thực hiện trong công tác chủ nhiệm lớp
2.1. Tố chất để làm nên một GVCN lớp tốt.
Chúng ta phải tách rạch ròi cách nhìn nhận đó là một giáo viên dạy giỏi chưa
hẳn là một giáo viên chủ nhiệm giỏi. Tuy nhiên nếu không có được sự yêu nghề
và tâm huyết với nghề thì sẽ không có một giáo viên chủ nhiệm giỏi.
Một giáo viên khi làm tốt công việc dạy học, có đầu tư cho công tác chuyên
môn , gần gũi học sinh để nâng cao nghiệp vụ , thực hiện đầy đủ, có chất lượng
các phương pháp giáo dục thì chắc chắn sẽ đảm bảo thực hiện tốt chức năng,
nhiệm vụ của công tác chủ nhiệm lớp. Giáo viên chủ nhiệm còn phải có “Nghệ
thuật giáo dục”, nhất là trong cách ứng xử với học sinh, quí trọng học sinh, sẵn
sàng dành mọi điều kiện có thể để đầu tư cho công tác chủ nhiệm.Chính vì lẻ đó,
giáo viên chủ nhiệm phải mất rất nhiều thời gian để có được một nội dung công
cô giáo trẻ phải tiếp cận nhiều hơn những vốn sống từ sách vỡ, tap chí…đủ để
tạo một ấn tượng đẹp khi lần đầu tiếp xúc với lớp chủ nhiệm
Trong lớp học, GVCN là người để các em noi theo. Cách hành động, suy nghĩ,
cư xử của GV sẽ ảnh hưởng rất nhiều về quan niệm của học sinh và phụ huynh
về GV. Bản thân tôi vừa là GVCN đồng thời là GVBM Tiếng Anh. Chính vì vậy,
khi đến trường hoặc lên lớp, tôi đều có những tác phong làm gương cho học
sinh.
Phải chuẩn bị bài vỡ và những kiến thức liên quan trước khi đến lớp. Theo tôi,
một tiết dạy có hồn thì thầy cô mới truyền cảm hứng sang học sinh. Với đặc thù
của môn Tiếng Anh , tôi cần phải chuẩn bị đầy đủ tài liệu, đồ dùng dạy học, phải
nghiên cứu nội dung bài học , chuẩn bị tình huống cho học sinh luyện tập, giao
tiếp với bạn một cách cẩn thận , tạo không khí học tập cho học sinh tiếp cận
ngôn ngữ. Chính vì thế,tôi không thể “ dạy chay ”hoặc "tùy cơ ứng biến".
Khi lên lớp, theo tôi GV cần có lời nói gọn, rõ ràng, dứt khoát. Khi nói nhìn
thẳng vào học sinh, nói thẳng với các em , không nên nói bâng quơ, nói bóng gió
Nên dùng từ, câu dễ hiểu , hợp với trình độ học sinh. Biết lắng nghe học sinh
nói. Mỗi khi các em phát biểu ý kiến hay nói một điều gì, thầy cô dù bận rộn
cũng nên lắng nghe các em nói. Có như vậy khi thầy cô nói các em mới chú ý
nghe .
Bên cạnh đó, GVCN phải biết thông cảm và chia sẻ những khó khăn của các em.
Trả lời những câu hỏi của các em một cách thấu đáo (nếu chưa có câu trả lời,
hứa sẽ tìm câu trả lời chính xác). Cho các em biết là các em có thể điện thoại
cho thầy cô để nói chuyện hay hỏi bài vở (cách làm bài, giải thích chữ khó, cách
trả lời ...). Hỏi các em về những khó khăn trong đời sống, những khó khăn ở
trường,... giúp các em giải quyết những khó khăn này. Trong lớp học hay ngoài
lớp học, thầy cô còn phải đóng vai người anh, người chị mà các em có thể tin
tưởng, nhờ cậy được. Qua đó, các em sẽ biết sống nhẫn nại, kiên trì và giàu lòng
nhân ái.
- Phối hợp với Ban giám hiệu nhà trường: Giáo viên chủ nhiệm là cầu nối giữa
khả năng trình độ của học sinh, nắm vững hoàn cảnh sống, những tác động của
gia đình, mối quan hệ xã hội, bạn bè của học sinh. Cụ thể như sau:
- Tìm hiểu học sinh qua các tài liệu liên quan: Xem học bạ, sơ yếu lí lịch, bản tự
nhận xét của học sinh, nhận xét của GVCN cấp THCS ( nếu là học sinh lớp 10 )
hoặc của GVCN cũ. Đây là tài liệu đáng tin cậy ban đầu giúp tôi nhận biết và
phân loại học sinh.
- Tìm hiểu học sinh thông qua quan sát trực tiếp: Quan sát trực tiếp học sinh
hằng ngày trong các hoạt động trên lớp, ngoài lớp để biết hành vi thái độ học
sinh. Qua đó giáo viên cố gắng tìm ra những nét cá tính nhất của từng em. Quá
trình quan sát thường xuyên cả trong giờ học; giờ chơi để nắm cặn kẽ từng đối
tượng học sinh.
- Tiến hành những thử nghiệm tìm hiểu thái độ học sinh qua các tình huống. Đây
là cách làm giúp cho người giáo viên chủ nhiệm có thể thu được thông tin về
một hay nhiều vấn đề cần làm sáng tỏ. Ví dụ như yêu cầu học sinh tiến hành
nhặt rác trong phòng;vệ sinh bảng ; hoặc cho học sinh trả lời nhanh vào phiếu in
sẵn một số câu hỏi về vấn đề định tìm hiểu... Những thử nghiệm nhỏ này có thể
áp dụng linh hoạt sao cho phù hợp với học sinh ở từng vùng dân cư. Kết quả thử
nghiệm sẽ giúp giáo viên chủ nhiệm lớp có thể nắm bắt được thêm những thông
tin mới, bổ sung cho những nhận định của mình về học sinh.
Khi đã nắm được đặc tính của lớp , giáo viên chủ nhiệm cần cụ thể hóa công
việc chủ nhiệm thông qua việc xây dựng kế hoạch chủ nhiệm. Đây là chiến lược
và chiến thuật mà ta sẽ thực hiện trong suốt năm học.
Kế hoạch chủ nhiệm phải có nội dung công tác phong phú, đa dạng, phức tạp,
toàn diện liên quan đến tất cả các mặt hoạt động của học sinh trong lớp. Vì vậy
muốn đạt kết quả cao cần phải quan sát đúng, phù hợp.
Kế hoạch chủ nhiệm phải bám sát mục tiêu, nhiệm vụ của nhà trường trong năm
học, đặc điểm tình hình lớp, địa phương, cơ sở vật chất của nhà trường, phải xác
định rõ ràng mục đích, chỉ tiêu phấn đấu và các biện pháp chính. Đặc biệt chú
trọng chiến lược phối hợp giữa các lực lượng giáo dục để đạt mục đích đề ra,
cần có phương hướng phát triển lớp, sự thực hiện tuần tự hợp lí nhằm đi đến
sinh cá biệt. Do đó tìm hiểu nắm vững từng đối tượng học sinh sẽ giúp GVCN
sử dụng vũ khí tâm lí để giáo dục học sinh có hiệu quả.
Đối với những học sinh ngoan, có ý thức thì chỉ cần nhắc nhở chung. Nhưng đối
với những học sinh nghịch ,phá rối và cá biệt, thì lại phải vừa nghiêm khắc khi
xử lý những sai phạm của các em, vừa phải tình cảm, động viên, thậm chí phải
dỗ dành. Giáo dục những học sinh cá biệt điều quan trọng là phải tạo được mối
quan hệ gần gũi, cảm thông giữa thầy và trò. Muốn vậy GVCN không chỉ đứng
ở cương vị người thầy mà phải biết nhập vai, biết lắng nghe các em nói, tìm hiểu
tâm tư của các em, tạo cho các em có cảm giác mình được chia sẻ, cảm thông,
được giúp đỡ thì các em sẽ tự giác sửa chữa khuyết điểm, tự giác phấn đấu hơn.
Có những học sinh khi mắc khuyết điểm đã nói với bạn bè rằng: không sợ bị kỷ
luật, bị phạt mà chỉ sợ làm ảnh hưởng đến thành tích thi đua của lớp, sợ làm thầy
cô buồn…
Qua những trường hợp cụ thể vừa nêu, tôi thấy việc sắp xếp thời gian đến thăm
gia đình học sinh (đặc biệt là những học sinh cá biệt) cũng đem lại nhiều hiệu
quả trong công tác chủ nhiệm.
7
2.3. Thực hiện nghiêm túc các giờ sinh hoạt lớp
Thông qua các tiết sinh hoạt lớp giáo viên chủ nhiệm cần tổ chức các tổ tự quản
để báo cáo các hoạt động trong tuần. Giáo viên chủ nhiệm thiết kế biểu mẫu
định lượng , định chất để học sinh tự đánh giá mức độ thực hiện của mình.Các
giờ sinh hoạt trên lớp cũng nên linh hoạt. Giờ sinh hoạt lớp không nên chỉ kiểm
điểm học sinh, hoặc có kiểm điểm thì cũng không nên máy móc. Đôi khi có thể
biến giờ sinh hoạt thành những hội thảo nhỏ với những chủ đề phù hợp với học
đường như: chọn nghề cho tương lai, sự lạc quan trong cuộc sống, những mơ
ước tuổi trẻ, làm thế nào để sống đẹp mỗi ngày, văn minh trong cách tặng quà,...
Có thể thay những lời phê bình gay gắt bằng một câu chuyện nào đó. Như vậy
không kiểm điểm mà lại hoá ra kiểm điểm nhưng giờ sinh hoạt rõ ràng đỡ căng
pháp giáo dục cá biệt là sự tác động tới từng cá nhân một cách chuyên biệt để
đảm bảo tính phù hợp với đối tượng. Ví dụ: cùng một biểu hiện hư như nhau,
8
nhưng có em phải phê bình nghiêm khắc, có em thì nhắc nhẹ, có khi chỉ nhắc
chung hoặc có khi phải trực tiếp, có khi thông qua bạn bè, gia đình tập thể…
Bằng uy tín và vị thế của giáo viên chủ nhiệm, phương pháp tác động trực tiếp
đem lại hiệu quả giáo dục tức thời. Giáo viên không nên la mắng quát tháo học
sinh, hay giữ thành kiến đối với những học sinh vi phạm. Thầy cô phải bao
dung và rộng lượng; dừng quá cố chấp trước những vi phạm của các em, giáo
viên chủ nhiệm nên thường xuyên quan tâm; động viên và phát huy những điểm
tiến bộ của các em. Đối với trường hợp những học sinh cá biệt có những hoàn
cảnh éo le,giáo viên chủ nhiệm cần phải thường xuyên thăm hỏi, cần chú ý đến
gia đình nghèo, kiến nghị lên hội cha mẹ học sinh hổ trợ các khoản đóng góp,
vận động các nhà hảo tâm, chính quyền hỗ trợ như: áo quần, tập vở , sách giáo
khoa….
3 .Bài học thực tiễn.
3.1 Lớp 12B11 ( năm hoc 2015 – 2016 )
- Đặc điểm tình hình :
+ Sỉ số 38 ( Nam : 26, Nữ :12 ). 10 % là học sinh khá , 70 % là học sinh TB.
Còn lại lại là học sinh yếu kém.
+ Thái độ không hợp tác, tiếp thu chậm, nhiều phụ huynh phó thác việc học và
rèn luyện đạo đức cho nhà trường, nhiều học sinh đén tù các xã khó khăn
( Hoằng Thanh, Hoằng Hải..) .
- Biện pháp thực hiện
+ Tiếp cận khai thác thế mạnh của BCS lớp, đội ngũ Đoàn viên và học sinh khá.
+ Thường xuyên thăm lớp và đến thăm gia đình các em học sinh.
+ Xây dựng kế hoạch thi đua giữa các tổ, khuyến khích thi đua giữa các thành
viên lớp với nhau.
+ Mở tài khoản facebook của lớp và động viên các em đăng ký thành viên. Qua
tài khoản facebook giáo viên chủ nhiệm thường xuyên nhắn tin động viên, nhắc
nhở các em học tập, phục vụ tốt cho kì thi cuối cùng. Hơn nữa giáo viên chủ
nhiệm cũng là giáo viên của một bộ môn quan trọng trong kì thi nên thường
xuyên đăng bài theo giờ đã qui định, yêu cầu các em cùng làm bài và tìm cách
giải quyết khi gặp dạng khó.
- Kết quả :
+ Trong kì thi HSG cấp trường lớp chủ nhiệm đã có: 2 Hs đạt giải môn Tiếng
Anh, 4 Hs môn Ngữ Văn, 5 Hs môn Địa, 4 HS môn Lịch Sử, 5 Hs môn GDCD,
và 1 Hs môn Toán .
+ Trong kì thi HSG cấp tỉnh: Môn Lịch Sử và môn Quốc Phòng
+ 97,4% học sinh đậu tốt nghiệp THPTQG
+ Đậu Đại học : NV1 08 học sinh ( 20,5 % )
PHẦN C. KẾT LUẬN
I. Bài học kinh nghiệm
Sáng kiến kinh nghiệm(SKKN) này, qua trải nghiệm thực tế, tôi nhận thấy rằng
việc xây dựng mối quan hệ giữa giáo viên chủ nhiệm với học sinh thành công
hay thất bại còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa. Chúng ta không nên áp
dụng rập khuôn máy móc bất kỳ một phương pháp giáo dục tiên tiến nào, mà
nên “ Dĩ bất biến,ứng vạn biến ” đó là bản lĩnh của người thầy và đối tượng tiếp
nhận là “con người”.
Để đạt được mục đích giáo dục, ta cần phải biết chọn điểm xuất phát thích hợp
với đặc điểm riêng của từng trường, từng lớp, từng HS,…
Muốn duy trì tốt thành quả giáo dục cần có sự phối hợp chặt chẽ với các phong
trào khác, những hoạt động khác, và đặc biệt cần phối hợp chặt chẽ giữa nhà
trường với Chi Hội CMHS, được sự quan tâm lãnh đạo của cấp uỷ, chính quyền,
các đoàn thể và nhân dân địa phương để tạo sức mạnh đồng bộ, toàn xã hội cùng
giáo dục thế hệ trẻ đồng thời giữ vững được hướng đi đúng .
Sự thành công trong công tác chủ nhiệm lớp, một nhân tố quan trọng mà chúng
ta nên thận trọng cân nhắc khi quyết định lựa chọn, đó chính là BCS Lớp.
sao chép của bất cứ ai. Nếu sai tôi chịu
hoàn toàn trách nhiệm.
GV viết SKKN
Bùi Thị Hòa
11
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật GD 2005 - Bộ GD & ĐT.
2. Pháp lệnh cán bộ công chức - Bộ GD & ĐT.1. Wedsite :
3. Điều lệ trường trung học - Bộ GD & ĐT.
4. Tâm lí học đại cương - Hà Nội 1995 - PGS. Nguyễn Quang Uẩn(chủ biên).
5. Thông tư 23/29 v/v hướng dẫn đánh giá, xếp loại học sinh THPT - Bộ GD &
ĐT.
6. Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục - Hà Nội 1996 - PTS. Phạm Viết
Vượng.
7. Giáo dục học đại cương II - Hà Nội 1996 - GS. Đặng Vũ Hoạt.
12
MỤC LỤC
NỘI DUNG
PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ
13
TRANG