SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT MAI ANH TUẤN - NGA SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CÁCH ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG
MÔN ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG THPT HIỆN NAY
Họ và tên: Hàn Thanh Hạnh
Chức vụ: Tổ trưởng
SKKN thuộc lĩnh vực: Địa lí
THANH HÓA, NĂM 2017
1
Mục lục
Trang
1. Mở đầu………………………………………………………………………..2
1.1. Lí do chọn đề tài………………………………………………………
2
1.2. Mục đích nghiên cứu……………………………………………… ……….3
1.3. Đối tượng nghiên cứu……………………………………………………….3
1.4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………… 3
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm……………………………….3
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm……………………………………..............4
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm …………………………........... 4
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm……….… …..4
2.3. Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để
giải quyết vấn đề…………………………………………………………………7
giữa thầy và trò, giữa trò với nhau rất sinh động, hấp dẫn và bổ ích, cũng như dạt
kết quả mong đợi.
Trước tình hình đó bộ môn cũng đã tổ chức cải cách giáo dục, cải tiến và
đổi mới phương pháp, tổ chức cho giáo viên dạy Địa lí - học tập chuyên đề, tổ
chức thao giảng dự giờ, góp ý xây dựng để có hiệu quả giảng dạy cao.
Qua giảng dạy thực tế, tôi đã có những kết quả nhất định trong bộ môn.
Vậy tôi chọn nội dung sau đây để nói lên một phần kinh nghiệm mà bản thân đã
thực hiện, cụ thể nội dung cơ bản sau: “ Cách đánh giá năng lực học sinh
trong môn Địa lí ở trường THPT hiện nay”.
1.1. Lí do chọn đề tài.
Trong toàn bộ hệ thống nền giáo dục Việt Nam nói chung, tổ chức của các
trường học nói riêng trong đó có hệ thống trường trung học phổ thông, về cơ
bản là để tổ chức giảng dạy và giáo dục học sinh phát triển năng lực một cách
toàn diện. Vậy để giảng dạy học sinh học một cách tốt nhất, nhà trường phân
công những giáo viên có kinh nghiệm đang giảng dạy bộ môn ngánh trách
nhiệm trọng trách cao hơn đứng mũi chịu sào làm công tác chuyên môn để đồng
nghiệp dạy cùng bộ môn trao đổi, góp ý học tập kinh nghiệm. Như vậy khi nói
đến giáo viên có kinh nghiệm là đề cập đến vị trí, vai trò, chức năng của người
làm công tác chuyên môn, đề cập đến những nhiệm vụ, nội dung công việc mà
người giáo viên phải làm, cần làm và nên làm thật tốt.
Để một tập thể bộ môn vững mạnh là yêu cầu giáo dục bắt buộc của tất cả
các trường nói chung trong hệ thống giáo dục trong đó ở trường trung học phổ
thông nói riêng, đó cũng là nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên . Một tập
thể bộ môn vững mạnh sẽ là động lực thúc đẩy mọi hoạt động phát triển một
cách toàn diện, nhất là hoạt động học tập ở trường. Bên cạnh đó khi giáo viên
làm tốt công tác chuyên môn và có phương pháp, kĩ năng tốt thì sẽ tạo nhiều
3
điều kiện, có thời gian để bồi dưỡng và hoàn thành tốt chuyên môn của mình.
- Có phương pháp và kĩ thuật dạy và học tích cực hơn, tốt hơn đáp ứng
được và phù hợp với đổi mới giáo dục hiện nay.
- Đánh giá được năng lực học sinh một cách chính xác hơn thông qua kết
quả của năm học vừa qua.
- Giáo viên giảng dạy và học sinh học tập say mê, hứng thú, thu hút được
nhiều học sinh yêu quý môn học địa lí.
- Đảm bảo trong việc dạy học và kiểm tra, đáng giá theo định hướng phát
triển năng lực học sinh THPT hiện nay.
- Trình bày và cấu trúc, rõ ràng, đẹp, khoa học và chính xác.
4
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Về cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Đối với hệ thống giáo dục nói chung, giáo dục phổ thông nói riêng,
người giáo viên trực tiếp giảng dạy trên lớp có vai trò quan trọng trong việc giáo
dục học sinh toàn diện. Ngoài việc trực tiếp giảng dạy ở lớp học, giáo viên trước
hết phải là nhà giáo dục, là người tổ chức các hoạt động giáo dục, quan tâm tới
từng học sinh, chăm lo đến việc rèn luyện đạo đức, hành vi, kĩ năng, những biến
động về tâm sinh lí, tư tưởng, nhu cầu, nguyện vọng của các em. Giáo viên
bằng chính nhân cách của mình, là tấm gương sáng tác động tích cực đến việc
hình thành phẩm chất đạo đức, nhân cách của học sinh. Mặt khác, giáo viên còn
là cầu nối giữa tập thể học sinh với các tổ chức xã hội trong và ngoài nhà
trường, là người tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục...
Giáo viên là người thay mặt hiệu trưởng, hội đồng nhà trường và cha mẹ
học sinh quản lý toàn diện học sinh trong quá trình học tập trên lớp mình phụ
trách giảng dạy bộ môn. Điều này đòi hỏi giáo viên vừa quản lý tập thể học sinh,
vừa quan tâm đến từng cá nhân, đối tượng trong lớp về mọi phương diện: học
tập, tu dưỡng, lao động và kĩ năng sống thông qua bộ môn.
Giáo viên là người lãnh đạo, tổ chức, điều hành, kiểm tra mọi hoạt động và
em được quan tâm, nuôi dưỡng và chăm sóc ngày càng tốt hơn.
Bên cạnh đó, sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đặc biệt là
công nghệ thông tin đã hỗ trợ nhà trường, hỗ trợ cho giáo viên và phụ huynh
trong việc liên lạc, trao đổi, nắm bắt nhanh, kịp thời những thông tin cần thiết,
thiết thực trong phối hợp giáo dục; đồng thời hỗ trợ tích cực cho hoạt động dạy
và học của giáo viên trong những giờ lên lớp, trong những hoạt động tập thể
khiến học sinh thấy hứng thú, tâm đắc hơn. Sự phối kết hợp giữa các tổ chức
đoàn thể trong và ngoài nhà trường ngày càng trở nên chặt chẽ.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi kể trên, công tác giáo dục còn gặp
không ít những khó khăn, thách thức lớn. Trong thời đại khoa học công nghệ và
kinh tế thị trường hiện nay, ngoài những tiện ích to lớn mà nó mang đến cho
nhân loại thì kèm theo đó là hàng loạt các tác động tiêu cực đến đối tượng học
sinh: xu hướng sống hưởng thụ, đua đòi ăn diện, chưng diện theo trang phục,
mái tóc, bấm lỗ tai, mũi… của các diễn viên, ca sĩ, MC… trong phim ảnh, trên
điện thoại, trong một số chương trình truyền hình… và đặc biệt là game online.
Chính những vấn đề này ảnh hưởng không ít đến việc học tập, việc hình thành
nhân cách, đạo đức của học sinh và gây ra rất nhiều khó khăn cho giáo viên các
môn học trong công tác giáo dục đạo đức, học tập, nối sống, kĩ năng sống toàn
diện cho học sinh.
Nguyên nhân chủ yếu đó là: do nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh chỉ chú ý
đến lợi nhuận trước mắt. Hầu hết các điểm truy cập Internet đều trang bị những
trò chơi bạo lực, trò chơi ăn tiền… rất thu hút và hấp dẫn học sinh cả hai giới
( Nam - Nữ ). Vì thế, hiện tượng trốn tiết, đi học muộn, đến lớp ngủ gà ngủ gật,
giấu tiền, trộm cắp, diết người cướp của, tống tiền… để chơi game là điều không
tránh khỏi
Không những thế, hậu quả do những tác động của những trò chơi nguy
hiểm này dẫn đến các hành vi bạo lực, các tệ nạn xã hội khôn lường gây tổn
thương đến gia đình, nhà trường, thầy cô, bạn bè, người thân và tổn hại tới xã
hội.
Mặt khác, nhiều gia đình do cuộc sống, do quá bận rộn với công việc nên
* Thực trạng:
Như lời mở đầu, chúng ta đã biết Địa lí là bộ môn khoa học xã hội và khoa
học tự nhiên thực nghiệm có nhiều khái niệm tưởng chừng dễ dàng và đơn
giản với học sinh.Nhưng trong thực tế thì học sinh lại rất lúng túng, khó hiểu,
cho là rất trìu tượng. Rất nhiều học sinh không thể nắm chắc được, hoặc hiểu
một cách. Mơ màng các khái niệm cơ bản dẫn đến không vận dụng được kiến
thức vào học tập nhất là kỹ năng làm bài kiểm tra, bài thi trắc nghiệm khách
quan tự luận và bài thực hành, cũng như không có hứng thú, say sưa trong học
tập môn Địa lí.
Giáo viên vẫn chủ yếu lệ thuộc vào tiến trình các bài học được trình bày
trong sách giáo khoa, chưa “ dám” chủ động trong việc thiết kế tiến trình xây
dựng kiến thức phù hợp với các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực. [ 1 ]
* Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên: Vào năm học 2014 - 2015 bản
thân đã giảng dạy và kiểm tra, đánh giá, khảo sát chất lượng của các lớp khối 10,
khối 11 và khối 12, trong đó có 3 lớp đại diện của ba khối đạt kết quả như sau:
Lớp
Sĩ số
Giỏi
Khá
Trung bình Yếu, kém
12E
45
5%
35%
56%
4%
11E
45
4%
26%
Một loại nghiên cứu, sưu tầm những sự vật và hiện tượng, những quy luật
chính làm cơ sở cho phần nội dung, hình thức thực hiện triển khai có hiệu quả
trực tiếp đối với một khoảng thời gian ngắn kiểm tra kiến thức và hiểu biết,
hứng thú, yêu thích về môn địa lí.
Một loại xét đến cách phối hợp các hình thức tổ chức suy nghĩ phản xạ
nhanh cho toàn lớp như: suy nghĩ, nghiên cứu theo cá nhân, hay tổ nhóm, cặp
trong thời gian ngắn.
Để thực hiện tốt các yêu cầu trên, thực tế giáo viên phải có nhiều kinh
nghiệm, có xét đến tính quy luật, phải sưu tầm, nghiên cứu nhiều tài liệu, mất
nhiều thời gian và công sức đọc và phân loại các câu hỏi và đưa ra đáp án chính
xác. Và hình dung được mục đích sau khi thực hiện để thiết kế nội dung, hình
thức phù hợp như đã định ra và đảm bảo với các dấu hiệu sau:
Có mối liên hệ với nội dung giảng dạy với cuộc sống, sản xuất thực tiễn
xây dựng XHCN và phương hướng chính trị, tư tưởng.
Có sự tham gia tích cực của học sinh, tạo điều kiện phát triển tư duy lôgic
cho học sinh và sáng tạo độc lập.
Trong dạy học cá nhân, GV tổ chức cho mỗi HS được làm việc thực sự với
các đối tượng học tập ( tranh ảnh, sơ đồ, lược đồ, bản đồ, bảng thống kê, bài
viết, sách giáo khoa..) để thu thập kiến thức, hoặc trả lời các câu hỏi, thực hiện
bài tập do GV đề ra. [ 2 ]
Học sinh khi ra ngoài lớp, trường, ngoài đường về nhà tiếp tục động não
tìm đáp án đúng. Nhờ đó mà học sinh tình trạng lười học, nói tục, xích mích, va
chạm, vi phạm nội quy kỷ luật trong trường, ngoài đường đã giảm bớt khá
nhiều. Các em chăm chỉ, say sưu học tập, khát khao hiểu biết yêu mến, thích
môn học Địa lí hơn. Đánh giá kết quả trả lời của học sinh ngay sau buổi học .
Để đánh giá được năng lực học sinh trong môn Địa lí trong thời gian nhất
định, có hiệu quả cao, ta cũng cần có một số biện pháp và phương pháp cụ thể
sau:
* Bước vào buổi học và buổi sinh hoạt:
- Điều cần thiết đầu tiên trước những vấn đề mới, trước sự ngơ ngác, sự im
theo tỉ lệ qua lần thăm dò qua và ra tiếp câu hỏi về nhà và nhắc học sinh về nhà
suy nghĩ tiếp, nhưng cũng không được quên nhiệm vụ chính là học bài cũ và đọc
bài mới của chương trình học chính khoá môn học Địa lí.
Trên đây là những phần cần thiết cho một buổi trắc nghiệm, thăm dò mà
trong giảng dạy, học tập tôi đã phát hiện ra và hiện nay đang được áp dụng để
giảng dạy, thực hiện và sau khi triển khai học bài học Địa lí chính khoá với
những phần thực hiện sau đây.
* Áp dụng:
Để đánh giá, phân loại được học sinh trước và sau giờ học Địa lí - trong
trường THPT hiện nay.
Qua giảng dạy các năm và nghiên cứu, học hỏi tôi nhận thấy để tổ chức
hoạt động này được tốt cần phải đảm bảo các bước sau:
- Ngoài các bước lên lớp kiểm tra bài học cũ chính khoá thì bước chuẩn bị
cho hoạt động này rất quan trọng. Vì đây là hình thức hoạt động ngoài giờ,
nhưng có liên quan đến kiến thức, đến quá trình học tập Địa lí của học sinh,
nhưng thời gian hạn hẹp trước và sau tiết học, buổi học chính khoá, cần phải
đảm bảo các bước lồng ghép sau:
+ Bước chuẩn bị một hệ thống các câu hỏi khó, dễ, trung bình, vừa vừa là
rất quan trọng. Vì nó liên quan đến kiến thức, liên quan gắn liền cả quá trình học
tập, sự yêu thích, khả năng, sở trường, sở đoản của học sing trong từng đối
tượng học chương trình Địa lí trong trường THPT hiện nay. Vì vậy học sinh cần
được phân loại, để được trang bị khắc sâu kiến thức hiểu biết kiến thức môn Địa.
9
+ Chuyển giao nhiệm vụ học tập: nhiệm vụ học tập rõ ràng và phù hợp với
khả năng của HS, thể hiện ở yêu cầu về sản phẩm mà HS phải hoàn thành khi
thực hiện nhiệm vụ; hình thức giao nhiệm vụ sinh động, hấp dẫn, kích thích
được hứng thú nhận thức của HS; đảm bảo cho tất cả HS tiếp nhận và sẵn sàng
thực hiện nhiệm vụ. [ 2 ]
Vì sao làm bài kiểm tra làm những câu hỏi Địa lí
tự nhiên lại khó không đạt được điểm tối đa?
Nguyên nhân.
Thầy, cô cần phải dạy và truyền đạt như thế nào
thì các em dễ hiểu, có hứng thú trong học tập về
Địa lí tự nhiên? Em hãy chia xẻ.
Kết quả tổng
hợp của giáo
viên ( % )
Học sinh trả lời
67%
30%
65%
15%
76%
78%
85%
* Câu hỏi về các lĩnh vực kinh tế - xã hội, văn hóa
Học sinh trả lời
Em rất thích, thích, thích vừa vừa, lưỡng lự hay
65%
không thích chương này, bài này, phần này, tiết
Câu 1:
học này hoặc vấn đề nào đó… trong lĩnh vực Địa
lí Kinh tế, xã hội, văn hóa?
Vấn đề Địa lí kinh tế, xã hội, văn hóa nào em khó
55%
Câu2:
75%
85%
65%
95%
45%
- Giáo viên kết luận đưa ra kết quả tính theo tỉ lệ % đối với những câu hỏi
mà học sinh đó trả lời, còn những câu hỏi học sinh chưa trả lời được, thì giáo
viên tiếp tục cho học sinh suy nghĩ trả lời sau và giáo viên tiếp tục tổng hợp để
có kết luận cuối cùng. Từ đó giáo viên sẽ điều chỉnh, thiết kế bài dạy phù hợp
cũng như giáo viên phân loại được đối tượng học sinh để dạy phù hợp, phát huy
thế mạnh của từng học sinh, tạo cảm hứng, thích thú và yêu thích môn Địa lí.
Sau mỗi lần như vậy thì Giáo viên không quên dặn dò học sinh cả lớp về
nhà không được quên học bài cũ chính khoá và đọc sang bài học mới để tiết sau
tiếp tục học.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với các hoạt động giáo
dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường:
- Kết quả nghiên cứu:
Qua quá trình giảng dạy bộ môn từ năm 1997 đến nay nhất là những năm
gần đây tôi đã chú trọng ngoài giảng dạy chính khoá, tôi còn suy nghĩ tìm tòi để
giảng dạy có hiệu quả cao, học sinh yêu mến môn học Địa lí. Tôi đã mạnh dạn
thực hiện hoạt động “ Cách đánh giá năng lực học sinh trong môn Địa lí - ở
trường THPT hiện nay ” với tinh thần (Học và vui, vui và học ). [3] đã đạt
được kết quả nhất định qua các kỳ thi và tổng kết cuối năm cụ thể với đối chứng
sau:
Đối chứng:
* Năm học 2014 – 2015:
Tôi được phân công dạy 3 khối lớp: khối 10, khối 11 và khối 12. Lúc này
đã cải cách giáo dục, bộ môn cũng tiến hành đồng thời cải cách. Tôi cũng vận
dụng theo chỉ đạo của chuyên môn và thu được kết quả theo bảng số liệu sau:
7%
Với kết quả trên tôi nhận thấy kết quả giảng dạy chưa cao, học sinh đạt
điểm giỏi, khá còn quá thấp và yếu kém, trung bình còn nhiều, nhất là nhiều học
sinh không hứng thú, không yêu thích và không thích học môn Địa lí.
Vì vậy để dạy và học tốt bộ môn Địa lí, học sinh yêu thích ham học môn
Địa lí cần phải làm gì? Tôi tự đặt câu hỏi và tự tìm hướng giải quyết kể cả tham
khảo ở các đồng nghiệp giàu kinh nghiệm, nhằm thu hút học sinh ưa thích môn
Địa lí và bản thân nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn.
* Năm học 2016 – 2017:
Tôi tiếp tục giảng dạy bộ môn ở 3 khối lớp, trong đó bản thân trực tiếp dạy
3 lớp đại diện cho ba khối đó là: Lớp 12B, lớp 11M và lớp 10A. Với kiến thức
sẵn có, với sự học hỏi đúc kết kinh nghiệm qua cải tiến, ngoài phương pháp
giảng dạy, tôi còn cải tiến cách hoạt động. Tôi nhận thấy để đạt được kết quả cao
trong công tác giảng dạy cần phải đổi mới phương pháp, cách dạy học và cách
đánh giá thăm dò tôn trọng ý kiến, sở trường và sở đoản, nguyện vọng của học
sinh như đã trình bày ở phần 2.3. Tôi đã thử nghiệm dạy ở 3 lớp 12B, 11M và
10A có kết quả cao hơn so với cách làm cũ là:
Qua kiểm tra học tập tổng kết năm học như sau:
Lớp
12B
11M
10A
Sĩ số
45
45
45
chương trình học, nhưng vẫn đảm bảo thời gian, giờ giấc cho chương trình học,
tiết học chính khoá. Với những cố gắng hướng học sinh học theo kinh nghiệm
của bản thân. Cuối năm học, nhiều học sinh đã đạt kết quả cao trong tổng kết
năm học tại trường và có nhiều học sinh giỏi cấp trường, cấp tỉnh và đỗ cao
Đẳng, Đại học:
Tiêu biểu là các em:
1. Em : Nguyễn Thị Hương: Giải khuyết khích Tỉnh - Lớp 12B
2. Em : Trần Thị Tuyết: Giải ba cấp Tỉnh - Lớp 11M
3. Em: Nguyễn Thị Nga : Giải ba cấp Tinht - Lớp 11M
4. Em Nguyễn Thị Thùy Linh: Giải khuyến khích cấp Tỉnh - Lớp 11M
12
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Vấn đề dạy và học là vấn đề cơ bản để đạt kết qủa trong giảng dạy, tổ chức
học tập tốt, phân loại được học sinh theo năng lực cũng như biết cách để dạy và
động viên học sinh ngày càng thêm yêu thích, đam mê học tập môn Địa lí và
đảm bảo cho các em có kết quả cao trong học tập.
Qua thực tế tôi đã cố gắng trong việc chuẩn bị các hoạt động đánh giá học
sinh về năng lực với từng đối tượng học sinh. Nên tôi đã mạnh dạn trình bày
trước các đồng nghiệp.
Tuy nhiên trong nội dung trình bày, sự sắp xếp cách trình bày có nhiều
thiếu sót, có những ý chưa nổi bật hoặc còn khó hiểu.
Vậy tôi rất mong sự góp ý - phê bình của đồng nghiệp và các bậc cha
- anh -chị, em, trong ngành và trong đồng môn.
Tôi xin cam đoan sáng kiến kinh nghiệm này là của tôi, nếu không phải tôi
xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
T«i xin ch©n thµnh c¶m ¬n !
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
14
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ XẾP
LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI
TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Hàn Thanh Hạnh
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo Viên – Trường THPT Mai Anh Tuấn – Nga
Sơn – Thanh Hóa
Cấp
Năm
Kết quả
đánh giá
học
đánh giá
xếp loại
đánh
TT
Tên đề tài SKKN
xếp loại
(Phòng,
giá
(A, B,
Sở,
xếp
hoặc C)
Tỉnh...)
loại
dạy Địa lí ở trường THPT hiện nay
6
Sở
C
2005
2006
Sở
C
2006
2007
Sở
C
2007
2008
Sở
B
2009
1
1. Mở đầu………………………………………………………………………..2
1.1. Lí do chọn đề tài………………………………………………………
2
1.2. Mục đích nghiên cứu……………………………………………… ……….3
1.3. Đối tượng nghiên cứu……………………………………………………….3
1.4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………… 3
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm……………………………….3
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm……………………………………..............4
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm …………………………........... 4
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm……….… …..4
- Giới hạn của đề tài
6
- Thực trạng
6
- Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên
6
2.3. Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để
giải quyết vấn đề…………………………………………………………………7
- Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
8
- Áp dụng
8
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường………………………………………
10
3. Kết luận, kiến nghị…………………………………………………………..12
- kết luận
- Kiến nghị
Tài liệu tham khảo…………………………………………………………….13