Một số phương pháp khai thác kênh hình trong sách giáo khoa địa lí 11 theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT NGUYỄN XUÂN NGHUYÊN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP KHAI THÁC
KÊNH HÌNH TRONG SÁCH GIÁO KHOA ĐỊA LÍ 11
THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH

Người thực hiện: Đỗ Thị Loan
Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Xuân Nguyên
SKKN thuộc lĩnh vực môn: Địa lí

THANH HÓA NĂM 2019
0


MỤC LỤC
Trang
1. MỞ ĐẦU...........................................................................................................2
1.1. Lí do chọn đề tài.............................................................................................2
1.2. Mục đích nghiên cứu......................................................................................2
1.3. Đối tượng nghiên cứu.....................................................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................2
2. NỘI DUNG.......................................................................................................3
2.1. Cơ sở lí luận...................................................................................................3
2.1.1. Kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí........................................................3
2.1.2. Vai trò của kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí.......................................3
2.1.3. Một số yêu cầu khi sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí.......................3

biệt là các bản đồ, ảnh chụp,…) có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc học tập
môn Địa lí lớp 11 của HS.
Tuy nhiên, thực tế giảng dạy ở trường THPT qua nhiều năm cho tôi thấy
hầu hết GV đã có hướng khai thác các kênh hình trong SGK vào dạy học Địa lí,
nhưng hiệu quả nhìn chung chưa cao. GV chưa khai thác hết kiến thức tiềm ẩn
trong các kênh hình đó. Chính vì vậy mà khả năng đạt hiệu quả cao trong một
tiết giảng dạy còn nhiều hạn chế.
Mặt khác, do điều kiện thực tế của Nhà trường còn gặp nhiều khó khăn, cơ
sở vật chất còn thiếu thốn, các phương tiện dạy học như tranh ảnh, bản đồ,…
phục vụ cho dạy học chưa có nhiều. Do đó để nâng cao hiệu quả giảng dạy và
khắc phục những khó khăn của Nhà trường, bản thân tôi là một GV, trong quá
trình công tác tôi luôn nghiên cứu, tìm tòi những phương pháp giảng dạy sao
cho phù hợp với trình độ của từng đối tượng HS để giúp các em nắm vững kiến
thức và luôn hứng thú học tập môn địa lí.
Vì những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Một số phương pháp khai thác kênh
hình trong sách giáo khoa Địa lí 11 theo hướng phát huy tính tích cực của
học sinh” làm đối tượng nghiên cứu nhằm góp một phần nhỏ bé của mình vào
việc “bồi dưỡng cho các em phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng
kiến thức vào thực tiễn” (điều 24 Luật Giáo dục).
1.2. Mục đích nghiên cứu
Góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả giảng dạy và
rèn luyện thêm kiến thức, kĩ năng cho giáo viên.
Góp phần tạo hứng thú môn học, khắc sâu kiến thức, phát huy tính tự giác,
độc lập và sáng tập của học sinh.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Chương trình SGK Địa lí 11 ban cơ bản và giới hạn trong việc tạo kĩ năng
khai thác, sử dụng kiến thức từ các hình vẽ trong SGK của học sinh và giáo viên.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Với sáng kiến kinh nghiệm này, tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thử nghiệm.

kiến thức, tạo điều kiện cần thiết cho học sinh thực hành để rèn luyện các kĩ năng.
Kênh hình giúp đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá
kết quả học tập của học sinh.
Giúp cho giáo viên hướng dẫn học sinh học kiến thức mới, rèn luyện kĩ năng
Ngoài ra còn hỗ trợ GV trong việc nâng cao kiến thức, kĩ năng và thiết kế
bài dạy.
2.1.3. Một số yêu cầu khi sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí
Kênh hình phải được sử dụng có hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu về nội dung
và phương pháp được quy định trong chương trình giáo dục. Tập trung vào việc
sử dụng kênh hình như một nguồn kiến thức, hạn chế dùng theo cách minh họa
kiến thức.
Để có thể sử dụng tốt kênh hình Giáo viên cần: [3]
- Có kế hoạch chuẩn bị trước các kênh hình, nghiên cứu kĩ các kênh hình
để hiểu rõ nội dung, tác dụng của từng loại kênh hình, tránh tình trạng khi lên
lớp mới cùng học sinh tiếp xúc với kênh hình.
- Cần lựa chọn nội dung mang tính thiết thực đối với nội dung bài học,
đồng thời sử dụng tối đa các nội dung đã được thể hiện trên mỗi kênh hình.
- Khi soạn bài cũng như khi lên lớp, Giáo viên cần phải xây dựng hệ thống
câu hỏi, bài tập tương đối chính xác, rõ ràng để học sinh làm việc với các loại
kênh hình nhằm lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng Địa lí.
3


- Giáo viên cần giúp học sinh nắm được trình tự các bước làm việc với từng
loại phương tiện, thiết bị dạy học để tìm kiếm thức, rèn luyện kĩ năng, phát triển
tư duy.
2.2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
2.2.1. Về phía giáo viên
Qua khảo sát thực tế và dự giờ đồng nghiệp khi dạy các bài có kênh hình,
tôi nhận thấy:

- So với chương trình Địa lí 10 thì chương trình Địa lí 11 ít sơ đồ hơn nhiều
chỉ với 7 sơ đồ. Sơ đồ cũng gồm nhiều loại như sơ đồ cấu trúc, sơ đồ lô gic và
sơ đồ địa đồ học.
Ngoài ra SGK Địa lí 11 gồm có nhiều bảng số liệu thống kê và các bảng
kiến thức. Bảng số liệu thống kê, bảng kiến thức bản thân nó vừa là kênh chữ,
vừa là kênh hình chứa nhiều kiến thức Địa lí, đặc biệt là các bảng số liệu thống
kê, nó cũng là một dạng kiến thức tương tự các biểu đồ Địa lí.
4


2.3.2. Cách sử dụng kênh hình SGK trong dạy học Địa lí
Như chúng ta đã biết kênh hình vừa có chức năng minh họa vừa có chức
năng nguồn tri thức, nên trong dạy học Địa lí giáo viên cần phát huy tối đa các
chức năng của kênh hình, giáo viên có thể sử dụng theo hai cách sau:
Thứ nhất, sử dụng kênh hình để minh họa hoặc giảng giải nội dung bài học:
Khi giáo viên dạy bài mới, đến phần nội dung kiến thức cơ bản ngoài phần nội
dung của kênh chữ trình bày, giáo viên xác định trên bản đồ, biểu đồ, tranh
ảnh,..để học sinh thấy rõ sự phân bố của các sự vật, hiện tượng và mối quan hệ
nhân quả địa lí.
Ví dụ: Khi dạy bài 6 Địa lí 11: Hợp chúng quốc Hoa Kì, tiết 1: Tự nhiên và
dân cư, ở mục I- Lãnh thổ và vị trị địa lí: Khi trình bày lãnh thổ rộng lớn gồm 3
bộ phận giáo viên cần khai thác hình 6.1 trang 37 để xác định cho học sinh 3
vùng lãnh thổ đó. Tuy nhiên, hình 6.1 chưa thể hiện rõ do đó chúng ta yêu cầu
học sinh sử dụng thêm bản đồ “Các nước trên thế giới” trang 4 và 5 sẽ thấy rất
rõ 3 bộ phận này, từ đó học sinh rát ra được 3 bộ phận này nằm tách biệt nhau.
Thứ hai, giáo viên sử dụng kênh hình như một cơ sở để học sinh tìm tòi,
khám phá kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Bằng cách đó, giáo viên
hình thành và rẻn luyện cho học sinh phương pháp đọc bản đồ, lược đồ, phân
tích biểu đồ và tranh ảnh.
Ví dụ: Khi dạy bài 3: Một số vấn đề mang tính toàn cầu, ở mục 2- Ô nhiễm

Bước 2: Giáo viên cần hiểu rõ những kiến thức Địa lí được thể hiện trên
lược đồ, bản đồ như : Tên bản đồ, chú giải, kí hiệu, quy ước, màu sắc,…
Bước 3: Xác định được thời điểm hợp lí để tiến hành khai thác, sử dụng
bản đồ, lược đồ trong tiến trình bài dạy. Chúng ta biết rằng trong SGK Địa lí
không lúc nào kênh chữ và kênh hình cũng khớp nhau nghĩa là có thể phần kênh
chữ ở trang này nhưng bản đồ vì chiếm diện tích lớn nên tác giả lại bố trí ở trang
sau. Hoặc là một bản đồ có thể dùng cho nhiều mục đích khác nhau. Do đó, xác
định được thời điểm để khai thác đóng một vai trò rất quan trọng.
Bước 4: GV yêu cầu HS đọc bản đồ, lược đồ dùng phương pháp đàm thoại
gởi mở để cùng HS khai thác kiến thức, để làm được điều đó GV phải xây dựng
được hệ thống câu hỏi để hướng dẫn HS làm việc với bản đồ, lược đồ đồng thời
cũng chuẩn bị các đáp án để chuẩn kiến thức, sửa các lỗi cho HS.
Để sử dụng hiệu quả bản đồ, lược đồ, giáo viên phải biết phối hợp khai thác
các bản đồ treo tường hoặc tập bản đồ thế giới và các châu lục hoặc phóng to
các hình trong SGK. Do đó, ngoài các bước trên, để đảm bảo tính sư phạm, khi
hướng dẫn học sinh khai thác, sử dụng, giáo viên không nên dùng tay mà phải
dùng que chỉ, tư thế chếch nghiêng, chỉ hệ thống sông từ thượng lưu xuống hạ
lưu, xác định phạm vi một lãnh thổ nào đó thì phải khoanh tròn lại, xác định
đỉnh núi chỉ có một điểm,..Trước khi trình bày bao giờ cũng phải giới thiệu tên
bản bồ, lược đồ. Ngôn ngữ, cử chỉ của giáo viên là hết sức quan trọng. Trong
quá trình khai thác cần chú ý đến đối tượng học sinh và thời gian giờ dạy.
Ví dụ cụ thể
Ví dụ 1: Bài 1: SỰ TƯƠNG PHẢN VỀ TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ- XÃ HỘI CỦA CÁC NHÓM NƯỚC. CUỘC CÁCH MẠNG
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HIỆN ĐẠI
Phần I: Sự phân chia thành các nhóm nước
(SGK- Ban cơ bản- Địa lí 11, trang 6 và 7)
Để giúp học sinh dễ dàng nắm được những trọng tâm kiến thức trong mục
này, giáo viên yêu cầu học sinh quan sát hình 1



Hình 5.2. Hoang mạc Xa-ha-ra
Qua ví dụ này ta thấy, nếu để học sinh quan sát hình 5.1 thì chưa đủ để rút
ra đặc điểm khí hậu, cảnh quan châu Phi vì trên bản đồ không có chú giải về các
đới, các kiểu khí hậu của châu Phi
Tiết 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỦA MĨ LA TINH
Mục I – Một số vấn đề về tự nhiên dân cư và xã hội
(SGK- Địa lí 11, Ban cơ bản, trang 24 và 25)
Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát hình 5.3 đọc bảng chú giải xác định
cảnh quan chính và tài nguyên khoáng sản của Milatinh

Hình 5.3. Các cảnh quan và khoáng sản chính ở Mĩ-la-tinh
Tuy nhiên để học sinh thấy rõ các loại tài nguyên giáo viên cần nêu thêm
các câu hỏi phụ như: Milatinh có đường bờ biển dài, giáp hai đại dương lớn nên
có thuận lợi gì? Biển đã mang lại các nguồn lợi (tài nguyên) gì? Cảnh quan
rừng, thảo nguyên có thuận lợi gì?
8


Tiết 3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỦA KHU VỰC TÂY NAM Á VÀ KHU
VỰC TRUNG Á
Mục I – Đặc điểm tự nhiên khu vực Tây Nam Á và khu vực Trung Á
(SGK- Địa lí 11, Ban cơ bản, trang 28, 29 và 30)
Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát hình 5.5 và hình 5.7 kết hợp bản đồ
treo trường của các nước châu Á yêu cầu học sinh lên bảng xác định tên các
quốc gia thuộc 2 khu vực này. Khi đó học sinh sẽ quan sát các nước trong hình
5.5 và 5.7 thông qua màu sắc để đối chiếu với bản đồ châu Á và lên bảng xác
định được tên cũng như vị trí các quốc gia của 2 khu vực Tây Nam Á và khu
vực Trung Á.


Hình 6.1: Địa hình và khoáng sản của Hoa Kì
Liên bang Nga lãnh thổ rộng lớn địa hình chia thành 2 phần rõ rệt mà ranh
giới là sông Ê-nit-xây

Hình 8.1: Địa hình và khoáng sản của Liên Bnag Nga
10


Trung Quốc cũng chia thành 2 miền đông và tây với ranh giới là kinh tuyến
105 Đ
0

Hình 10.1: Địa hình và khoáng sản của Trung Quốc
Để khai thác có hiệu quả kênh hình trong các nội dung trên giáo viên nên
xây dựng các phiếu học tập (bảng kiến thức trồng) để học sinh so sánh giữa các
vùng, miền về đặc điểm khí hậu, địa hình, các loại tài nguyên khoáng sản, đất,…
Với bản đồ dân cư: chủ yếu trình bày về sự phân bố dân cư của mỗi nước.
Khai thác hiệu quả các bản đồ này theo hướng như sau: cho HS quan sát các
mức phân chia mật độ dân số của các quốc gia, khu vực đó. Sau đó yêu cầu HS
xác định các vùng có mật độ dân số đông, mật độ dân số thưa, vì sao dân số lại
phân bố như vậy? Giáo viên có thể giợi ý dựa vào điều kiện tự nhiên, lịch sử,
điều kiện kinh tế- xã hội để giải thích, từ đó rút ra những thuận lợi và khó khăn
đối với phát triển kinh tế.
Ví dụ: khi dạy đến nội dung phân bố dân cư trong tiết 1 “Tự nhiên, dân cư
và xã hội Trung Quốc- mục III.1 Dân cư, thì GV hướng dẫn HS khai thác theo
các bước sau

Hình 10.4. Phân bố dân cư Trung Quốc (trang 89- SGK Địa lí 11)
11



Hình 10.9. Phân bố sản xuất nông nghiệp của Trung Quốc
Giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi
+ Dựa vào hình 10.8 hãy xác định các trung tâm công nghiệp có quy mô rất
lớn và lớn? Cơ cấu ngành của mỗi trung tâm? Các trung tâm công nghiêp phân
bố chủ yếu ở miền nào? Tại sao có sự phân hóa rõ rệt giữa miền Đông với miền
Tây như vậy?
+ Dựa vào hình 10.9 hãy trình bày các vùng nông nghiệp chính của trung
Quốc? Vì sao có sự khác biệt lớn trong phân bố nông nghiệp giữa miền Đông và
miền Tây?
Như vậy hệ thống bản đồ trong Địa lí 11 có những đặc điểm giống nhau về
cách trình bày về các quốc gia, giáo viên cần khai thác tốt từng bản đồ ở mỗi
bài, đặc biệt là các bản đồ bắt đầu từ các quốc gia đầu tiên như Hoa Kì, LB Nga
từ đó giáo viên sẽ tạo được thói quen và trình tự khai thác bản đồ khi học về các
nước sau. Như Nhật Bản, Trung Quốc, khu vực Đông Nam Á và Ôx- trây-lia
2.3.3.2. Khai thác kiến thức từ biểu đồ
Sách giáo khoa Địa lí 11 chỉ có 10 biểu đồ trong đó nhiều nhất là biểu đồ
cột (cột đơn, cột gộp nhóm, cột thanh ngang dạng tháp tuổi,…) tròn, miền. Đây
là các dạng biểu đồ quen thuộc của chương trình Địa lí THPT, mỗi loại biểu đồ
có khả năng biểu hiện một đặc điểm nào đó của đối tượng như: hình cột có
nhiều ưu điểm trong việc thể hiện sự so sánh, biểu hiện số lượng, tình hình phát
triển của các sự vật hiện tượng; biểu đồ tròn thể hiện rõ về quy mô và cơ cấu;
còn để thể hiện tốt nhất sự chuyển dịch cơ cấu thì biểu đồ miền là dạng tối ưu,…
Dù dưới dạng biểu đồ nào thì GV cũng cần tập trung vào việc giúp HS rút ra
đươc những kiến thức chứa đụng trong biểu đồ. Từ đóp hình thành và rèn luyện
cho HS kĩ năng sử dụng biểu đồ cũng như cách xây dựng các biểu đồ đó.
Để khai thác tốt kiến thức từ biểu đồ, giáo viên cần hướng dẫn học sinh
thực hiện theo các bước sau:
- Nhận xét biểu đồ từ cái tổng quát đến cụ thể.
- Nhận xét phải có số liệu chúng minh (kèm theo năm)

+ Tính lượng dầu thô chênh lệch giữa khai thác và tiêu dùng của từng khu vực.
+ Nhận xét khả năng cung cấp dầu mỏ cho thế giới của khu vực Tây Nam Á.
Đối với biểu đồ hình 5.8, giáo viên cho học sinh nhận xét về các khu vực
khai thác dầu thô nhiều, các khu vực tiêu dùng dầu thô lớn; Đồng thời hướng
dẫn học sinh tính: sự chênh lệch giữa dầu thô khai thác và tiêu dùng = lượng dầu
thô khai thác- lượng dầu thô tiêu dùng. Giáo viên có thể thành lập bảng sau
Sản lượng dầu thô khai thác, sản lượng dầu thô tiêu dùng và chênh
lệch giữa khai thác và tiêu dùng một số khu vực trên thế giới năm 2003
(nghìn thùng/ ngày)
Khu vực
Lượng dầu thô
khai thác
Lượng dầu thô
tiêu dùng
Chênh lệch giữa
khai thác và tiêu
dùng

Đông Á

Đông
Nam Á

Trung
Á

Tây
Nam Á

3414,8


4573,9 6882,2 22226,8

15239,4 3839,3

-6721

-14240

Sau khi HS tính được chênh lệch giữa lượng dầu thô khai thác và tiêu dùng
của mỗi khu vực, GV cho HS nhận xét các nước có chênh lệch lớn, từ đó nhận
xét được khả năng cung cấp dầu mỏ cho thế giới của khu vực Tây Nam Á.
Ví dụ 3:Hình 10.3: Nhận xét sự thay đổi tổng số dân, số dân thành thị, số
dân nông thôn của Trung Quốc

Hình 10.3. Dân số Trung quốc giai đoạn 1949- 2005
Đây là biểu đồ miền chồng liên tiếp có giá trị tuyệt đối, giáo viên hướng
dẫn học sinh tính số dân Trung Quốc từi 1949 đến 2005 tăng từ bao nhiêu lên
bao nhiêu, dân số thành thị, dân số nông thôn có tốc độ tăng như thế nào?
Từ đó học sinh sẽ tính được dân số Trung Quốc năm 1949 chỉ khoảng hơn
500 triệu người thì đến năm 2005 đã tăng lên 2,5 lần và đạt 1203,7 triệu người.
Như vậy, trong hơn 50 năm cuối thế kỉ XX, dân số Trung Quốc tăng nhanh và là
nước có quy mô dân số lớn nhất thế giới.

15


Về cơ cấu dân số theo thành thị và nông thôn: số dân thành thị có tốc độ
tăng nhanh hơn dân số nông thôn do đó tỉ lệ dân thành thị tăng, tỉ lệ dân nông
thôn giảm

Ví dụ cụ thể
Ví dụ 1: Hình 5.9. nạn nhân của xung đột bạo lực ở Tây Nam Á

16


Nhìn vào bức ảnh chúng ta thấy chủ thể một bức tranh đơn thuần chỉ là một
người phụ nữ đang cùng hai người con ngồi trên một phiến đá. GV nêu câu hỏi:
Phía sau người phụ nữ quang cảnh như thế nào? Tại sao không chụp cả gia đình
của người phụ nữ mà chỉ có 3 mẹ con. Nạn xung đột bạo lực đã đẻ lại những hậu
quả gì?
Từ những câu hỏi đó, có thể không yêu cầu HS trả lời hết tất cả mà đó chỉ
là sự gợi ý, HS sẽ tò mò tìm hiểu vì sao lại như vậy. Từ đó HS có thể liên tưởng
được những cuộc xung đột bạo lực để lại đống nhà cửa đổ nát, gia đình bị chia
cắt, người phụ nữ mất chồng, những đứa con mồ côi cha,…
Ví dụ 2: Hình 6.5

Hình 6.5. Sử dụng phương tiện hiện đại trong sản xuất nông nghiệp ở Hoa Kì
Chủ thể của hình ảnh này là một chiếc máy bay, tiền cảnh là một cánh đồng
xanh tốt…GV yêu cầu HS quan sát và nêu câu hỏi: Máy bay đang làm nhiệm vụ
gì? Em có nhận xét gì về nền nông nghiệp của Hoa Kì (GV gợi ý HS quan sát kĩ
phần màu trắng đục như mây dưới máy bay). Từ đó HS có thể trả lời và rút ra
kết luận Hoa Kì có một nền nông nghiệp tiên tiến, hiện đại.
2.3.3.4. Khai thác kiến thức từ sơ đồ
Trong SGK Địa lí 11 có 7 sơ đồ, để dạy học hiệu quả, phát huy tính tích
cực của HS góp phần đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao hiệu quả dạy
học, chúng ta cần xây dựng thêm các sơ đồ để giảng dạy. Ở nội dung đề tài này
tôi không đề cập đến vấn đề xây sơ đồ mới mà chỉ nêu cách sử dụng hiệu quả
các sơ đồ trong SGK
Sơ sồ Địa lí là hình vẽ sơ lược biểu hiện vị trí, cấu trúc, sự phân bố hoặc các

thống kênh hình trong SGK Địa lí góp phần quan trọng để nâng cao hiệu quả
nếu biết khai thác tốt những kênh hình đó. Tuy nhiên để nâng cao hiệu quả khai
thác kênh hình trong SGK Địa lí , giáo viên có thể phóng to các hình trên máy
chiếu hoặc ti vi. Ngoài ra cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, GV có
thể sưu tầm thêm các tư liệu kênh hình cho bài giảng sinh động hơn, hoặc GV
yêu cầu HS sưu tầm các tư liệu kênh hình có liên quan kiến thức các bài học
giúp các em hiểu sâu hơn kiến thức và rèn luyện kĩ năng học tập cần thiết.
18


Như vậy việc sử dụng kênh hình phải được GV sử dụng tối đa, triệt để, để
khai thác kiến thức. Muốn vậy thì công việc chuẩn bị bài của GV ở nhà là rất
quan trọng, đòi hỏi tính khoa học cao, câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu, gãy gọn, kích
thích sự tìm tòi, hứng thú học tập của HS. Hơn nữa người GV không chỉ đơn
thuần dạy bằng những đồ dùng có sẵn mà còn phải sáng tạo ra những hình vẽ
đơn giản, sưu tầm tranh ảnh, minh họa tổ chức hoạt động có hiệu quả, phù hợp
với đối tượng HS.Đồng thời khi người GV dạy học cần triệt để tận dụng việc
khai thác kiến thức kết hợp kiểm tra kiến thức và rèn luyện kĩ năng cho học sinh.
2.4. Hiệu quả
Tôi đã thực hiện việc áp dụng phương pháp này trong nhiều năm với những
mức độ khác nhau giữa các lớp, hoặc trong một lớp nhưng ở những thời điểm
khác nhau và cũng đã quan sát, tìm hiểu, tham khảo cách làm này ở nhiều giáo
viên qua các tiết dự giờ thao giảng, qua việc trao đổi học tập kinh nghiệm trong
các buổi sinh hoạt chuyên môn. Tôi nhận thấy rằng:
* Đối với giáo viên
- Khi khai thác kiến thức từ kênh hình Địa lí cần:
+ Chuẩn bị các câu hỏi phát hiện để gợi ý cho HS nhìn và quan sát trên
kênh hình có sẵn trong SGK để trả lời.
+ Có thể phân tích hình trước rồi quy nạp lại kiến thức hoặc nêu và phát
hiện kiến thức, kênh hình có tích chất dẫn kiến thức.

- Bảng 1: Hứng thú của học sinh khi giáo viên khai thác tốt kênh hình,
giảm viết bảng
Hứng thú của học sinh
Lớp
Số HS
Thích
Không ý kiến
Không thích
SL
Tỉ lệ %
SL
Tỉ lệ %
SL
Tỉ lệ %
11 C1
43
41
95,3
2
4,7
0
0
11 C2
47
43
91,5
4
8,5
0
0

47
6
12,8
23
48,9
18
38,3
0
0
Tổng
87
11
12,2
48
53,5
31
34,3
0
0
* Lớp đối chứng
Mức độ nắm kiến thức của học sinh
Số
>8 điểm
6,5- 8 điểm
5- > 6,5 điểm Dưới 5 điểm
Lớp
HS
Tỉ lệ
SL Tỉ lệ % SL
SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ %

15,5
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện tôi thấy còn gặp phải một số khó khăn
vướng mắc như nhiều bài dung lượng kiến thức còn dài nên việc khai thác kênh
hình còn hạn chế, tài liệu tham khảo hướng dẫn còn ít, điều kiện hoạt động ngoại
khóa, về cơ sở vật chất còn khó khăn, sĩ số học sinh đông nên việc rèn luyện cho
các em chưa nhiều, ý thức học tập bộ môn của học sinh chưa cao…
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Khai thác hiệu quả kênh hình trong dạy học Địa lí nói chung và trong dạy
học Địa lí 11 nói riêng có ý nghĩa to lớn trong dạy học. Nó không những mang
lại cảm hứng cho HS, kích thích HS làm việc mà còn góp phần quan trọng vào
việc đổi mới phương pháp dạy học của GV, làm cho HS yêu thích môn Địa lí
hơn. Ngoài ra, HS có thể rèn luyện khả năng tự học, HS sẽ khắc sâu kiến thức
hơn, giúp cho HS có kiến thức và kĩ năng. Trong dạy học Địa lí, GV cần khai
thác tốt các kênh hình có ở SGK và cũng cần biết tăng cường phối hợp các
phương pháp và phương tiện dạy học để tăng cao hiệu quả dạy học Địa lí. Bên
20


cạnh đó, GV cũng phải phối hợp tốt với các kênh hình ngoài SGK như hệ thống
sơ đồ, hình vẽ về tự nhiên, con người,…. Mặt khác, để đảm bảo tính trực quan,
tính sư phạm chúng ta cần phối hợp với các phương tiện hỗ trợ như máy chiếu
Projeter để chiếu các kênh hình này được rõ rằng hơn.
Qua nhiều năm giảng dạy, bản thân tôi đã chú ý đến việc khai thác tốt hệ
thống kênh hình trong SGK và năm học này tôi đã nghiên cứu và thử nghiệm để
viết nên đề tài này. Tôi cũng mong muốn rằng đễ tài của tôi sẽ được nhiều giáo
viên quan tâm, ứng dụng tốt vào giảng dạy Địa lí 11 và mở rộng ra các khối lớp
ở THPT.
3.2. Kiến nghị
Việc sử dụng kênh hình có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi môn học nói

viết, không sao chép nội dung của người khác
Người viết SKKN

Đỗ Thị Loan
21


TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa địa lí 11. NXB
Giáo Dục, năm 2007. Lâm Quang Dốc, Nguyễn Quang Vinh.
[2]. Lí luận dạy học Địa lí. NXB Đại học sư phạm Hà Nội, 2004. Nguyễn
Dược, Nguyễn Trọng Phúc.
[3]. Phương pháp dạy học địa lí theo hướng tích cực. NXB ĐHSP, năm
2004. Đặng Văn Đức, Nguyễn Thu Hằng.
[4]. Chuẩn kiễn thức, kĩ năng địa lí 11. NXB GD năm 2009. Phạm Thị Sen,
Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Đức Vũ.
[5]. SGK, SGV Địa lí 11 cơ bản và nâng cao NXB GD năm 2010. Lê Thông,
Trần Trọng Hà, Nguyễn Minh Tuệ.

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status