Một số biện pháp chỉ đạo thực hiện đổi mới dạy học môn toán ở tiểu học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh - Pdf 43

A. LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phương pháp dạy học có vai trò rất quan trọng trong việc dạy học ở Tiểu học.
Vấn đề này được các nhà giáo dục và xã hội đặc biệt quan tâm, đòi hỏi các nhà
quản lý và giáo viên các trường Tiểu học phải có biện pháp quản lý giảng dạy phù
hợp, không ngừng đổi mới phương pháp dạy học, nhằm hướng cho học sinh vào
hoạt động học tập một cách tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo. Vì thế phương
pháp dạy học trẻ đúng và phù hợp với đặc điểm tâm lý của trẻ đó là: “ Phát huy
tính tích cực, tự giác chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực
tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”[1]. Hay nói cách khác đổi mới
phương pháp dạy học (PPDH) là sự kết hợp nhuần nhuyễn, sáng tạo giữa kinh
nghiệm của giáo viên với những yếu tố mới của PPDH hiện đại. Đổi mới PPDH là
sự kết hợp đồng bộ của các khâu: Bồi dưỡng giáo viên, thiết bị dạy học, đánh giá
học sinh và quản lý chỉ đạo. Với cách nhìn từ phương pháp mới giáo viên có thể
thực hiện việc cải tiến PPDH bằng nhiều cách khác nhau. Nhiều tiết dạy đạt loại
giỏi ở hội thi giáo viện dạy giỏi, đôi khi chỉ cần một sự sáng tạo nhỏ trong sử dụng
đồ dùng dạy học, khai thác triệt để một khía cạnh trong nội dung sách học, xử lý
tinh tế, nhanh nhạy một tình huống sư phạm…
Trong thực tế, thời gian gần đây nhiều giáo viên đã chú ý đến việc đổi mới
PPDH nhưng cũng còn có một số giáo viên chưa thật sự chú ý hoặc có đổi mới thì
cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ hết sức khiêm tốn và có phần hạn chế [2]. Trước
mục tiêu giáo dục và yêu cầu của việc dạy học hiện nay, việc thực hiện đổi mới
PPDH của giáo viên rất cần thiết. Vậy làm thế nào để công tác chỉ đạo đổi mới
PPDH môn Toán ở Tiểu học đạt hiệu quả.
Là người trực tiếp làm công tác quản lý chỉ đạo chuyên môn trong nhà trường
tiểu học, bản thân không khỏi băn khoăn, trăn trở trước vần đề đặt ra. Để góp phần
nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường nói chung, nâng cao hiệu quả việc
đổi mới phương pháp dạy học nói riêng. Tôi đã nghiên cứu và áp dụng xin được
đưa ra trao đổi cùng đồng nghiệp “ Một số biện pháp chỉ đạo thực hiện đổi mới
PPDH môn Toán ở Tiểu học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh”.
2. Mục đích nghiên cứu

mình. Do vậy, bàn về phương pháp dạy học chúng ta phải bàn đến cả phương pháp
dạy của thầy và phương pháp học của trò. Sự phù hợp của hai phương pháp này sẽ
cho chúng ta hiệu quả thực sự của việc dạy học. SKKN này tập trung vào phương
pháp của thầy - một trong hai chủ thể của quá trình dạy học tích cực.
2. Cơ sở thực tiễn
Sự khác nhau căn bản của 2 quan điểm dạy học dẫn đến sự khác nhau trong
việc xác định các phương pháp cụ thể cho từng môn học, bài học, từng phần, từng
đối tượng học sinh….
Thực hiện chương trình dạy học theo quan điểm dạy học lấy người học làm
trung tâm thì hoạt động của thầy và trò tương ứng như sau:
- Người học khai phá tri thức, tự nghiên cứu - Thầy chỉ hướng dẫn và cung
cấp thông tin.
- Người học tự trả lời các thắc mắc do chính mình đặt ra, tự kiểm tra mình Thầy là trọng tài.
- Người học tự hành động, tự kiểm tra, tự điều chỉnh - Thầy làm cố vấn.
Để thực hiện được quá trình dạy học theo quan điểm lấy người học làm trung tâm
người thầy giáo phải làm gì?
- Vai trò người thầy trong quá trình dạy học theo quan điểm lấy người học là
trung tâm không thể bị mờ nhạt mà trái lại còn rõ nét hơn, người thầy vẫn là “linh
hồn” của giờ học sinh động và sáng tạo. Bởi vì, để có thể làm người hướng dẫn,
cung cấp thông tin, trọng tài, cố vấn… người thầy phải hiểu biết sâu sắc những kiến
thức cơ bản của môn học mình đảm nhiệm, đồng thời phải tự bổ sung vốn kiến thức
của mình thường xuyên và có định hướng rõ ràng qua tài liệu, sách báo…

2


- Người thầy phải nắm vững bản chất và các quy luật của quá trình dạy học
để có thể tìm ra hoặc ứng dụng những phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng
của mình nhất.
Một vấn đề quan trọng là, nhiều giáo viên nhận thức được sự cần thiết phải

Trình độ giáo viên 100% đạt chuẩn và trên chuẩn, đây là điều kiện thuận lợi
cho việc tiếp thu việc đổi mới PPDH các môn học Tiểu học nói chung, môn Toán
nói riêng.
Giáo viên được tập huấn chương trình dạy học của trường học mới Việt Nam,
được trang bị về mục tiêu, nội dung chương trình và PPDH các môn học nói chung
và môn Toán Tiểu học nói riêng.
Tuy nhiên việc tiếp cận chương trình và mô hình mới chưa thực sự chủ động
và sáng tạo nên một số giáo viên và học sinh còn gặp khó khăn trong dạy - học.
3


Giáo viên mới sử dụng phương pháp, tổ chức cho học sinh hình thành khái niệm
mà chưa rèn được kỹ năng (hầu hết trong quá trình làm các bài tập học sinh đều
gặp khó khăn nên hiệu quả học tập chưa cao).
Trong quá trình học tập, một số học sinh còn dè dặt chưa hợp tác, chưa mạnh
dạn trong việc thể hiện cá nhân trong nhóm lớp, còn chờ đợi ý kiến của một số bạn
đưa ra mới thống nhất…
Học sinh chưa nắm chắc kiến thức về mạch kiến thức học ở lớp dưới hoặc
còn nắm bắt kiến thức một cách mơ hồ.
Thụ động, lười suy nghĩ, áp dụng máy móc, kém linh hoạt. .
Kỹ năng thao tác vận dụng toán học còn hạn chế.
3. Kết quả của thực trạng:
3.1. Kết quả khảo sát: Trong lần khảo sát chất lượng định kỳ cuối năm học
2015-2016 do nhà trường tự ra đề và đánh giá cho thấy chất lượng học sinh trường
Tiểu học Thị Trấn Hà Trung chưa cao cần phải được quan tâm chỉ đạo đổi mới
phương pháp dạy học môn Toán để đưa chất lượng trường giữ vững chuẩn quốc gia
mức độ 2.
Thống kê kết quả kiểm tra môn Toán kỳ II năm học 2015-2016.
Năm học
2015-2016

số giáo viên giỏi, phụ trách ở một số lớp.
- Công tác kiểm tra đánh giá việc bồi dưỡng PPDH chưa được thường xuyên
và liên tục, còn mang tính hình thức.
- Chất lượng dạy học chưa thật sự được nâng cao, chưa đồng nhất ở tất cả các
môn học.
3.3. Vấn đề cấp thiết đặt ra: Vấn đề đặt ra là làm thế nào để các em có kết
quả học tập môn Toán tốt nhất ở cấp Tiểu học, làm nền tảng cho HS học Toán các
cấp học sau này?
Từ thực trạng trên, để hoạt động dạy học trong nhà trường đạt hiệu quả tốt
hơn, tôi đã mạnh dạn đưa ra “Một số biện pháp chỉ đạo thực hiện đổi mới
phương pháp dạy học môn Toán theo hướng phát huy tính tích cực của học
sinh”, áp dụng công tác chỉ đạo thực hiện chuyên môn trong nhà trường năm học
4


2016-2017. Với mong muốn, công tác dạy và học trong nhà trường nói chung, công
tác dạy và học môn Toán nói riêng đạt hiệu qủa tốt hơn. Góp phần nâng cao chất
lượng dạy và học trong các nhà trường.
III. Các giải pháp và tổ chức thực hiện nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Toán.
Qua quá trình quản lý chỉ đạo chuyên môn trong nhà trường, tôi nhận thấy
rằng để công tác đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học đạt hiệu quả
tôi đã chỉ đạo giáo viên tập trung áp dụng các biện pháp cụ thể sau:
1. Biện pháp 1: Biết phối hợp các phương pháp dạy học và hình thức tổ
chức dạy học.
1.1. Dạy học đảm bảo sự thống nhất hợp lý các yêu cầu: Cá nhân- NhómLớp [3].
Như chúng ta đã biết, ở cùng một lứa tuổi, học sinh có đặc điểm chung về
tâm lý và học cùng một lớp. Nội dung kiến thức cơ bản trong từng bài học ở
chương trình mới môn Toán đáp ứng nhu cầu tiếp thu của tất cả học sinh. Mỗi tiết
dạy sách học hoặc giáo viên phải thiết kế một quy trình dạy học cho học sinh cả lớp
hoạt động học: từ cá nhân-nhóm-lớp phù hợp với quỹ thời gian quy định cho một

khó, cẩn thận chu đáo khi làm việc, phát triển óc độc lập suy nghĩ, sáng tạo ...
Ví dụ: a. Khi dạy Toán cho học sinh lớp 1
* Khi dạy bài 5 (trang 132 -SGK Toán 1): Điền dấu +, - vào chỗ ….
50 … 10 = 40
30 … 20 = 50
40… 0 = 40
Sau khi học sinh cả lớp thực hiện được yêu cầu của bài tập: điền dấu – vào
chỗ … thứ nhất , dấu + vào chỗ … thứ 2 và dấu + hoặc dấu – vào chỗ … thứ 3 để
có các phép tính đúng: 50- 10 = 40; 30+ 20 = 50; 40 – 0 = 40 hoặc 40 + 0 = 40.
Giáo viên nên có những câu hỏi: vì sao em lại điền dấu – vào chỗ … thứ nhất
mà không phải là dấu +?, tương tự như thế giáo viên đặt câu hỏi với các tình huống
còn lại để học sinh suy nghĩ và trả lời. Hoặc giáo viên có thể lật lại vấn đề bằng câu
hỏi vì sao chỗ … thứ 3 lại điền được cả hai dấu + hoặc -? Các chỗ … còn lại không
điền được cả hai dấu như thế?
* Dạy bài 2 ( trang 172 – Toán 1) Viết số thích hợp vào ô trống:
+3
-5
6
9
+2
8

+2

+3

4

Với bài tập này học sinh chỉ cần điền số thích hợp vào ô trống
+3

8 + 2 + 4=
8+5=
8+6 =
9+1+3=
9+1+5=
9+4=
9+6=
Học sinh dễ dàng điền được kết quả phép tính
8 + 2 + 3 = 13
8 + 2 + 4= 14
8 + 5 = 13
8 + 6 = 14
9 + 1 + 3 = 13
9 + 1 + 5 = 15
9 + 4 = 13
9 + 6 = 15
Giáo viên tổ chức cho học sinh nhận xét kết quả của 2 phép tính theo cột dọc
và yêu cầu học sinh phát hiện: vì sao 2 phép tính lại có kết quả bằng nhau?
* Khi dạy bài 64. Số bị chia- số chia- thương ( bài 3. tính nhẩm trang 45
– HDH Toán 2 tập 2A) :
2x 4=
2 x 10 =
2x8=
9x2=
8:2=
20 : 2 =
16 : 2 =
18 : 2 =
Học sinh dựa vào bảng nhân, bảng chia 2 để tìm kết quả ghi vào phép tính
sau đó giáo viên cho học sinh nhận xét từng cột để củng cố mối quan hệ giữa phép

20 4
24 4
16 4
2
3
5
3
(Nghĩa là: ở phép chia thứ nhất 17:5 = 3, dư 2 chưa không thể 17:5 = 2, dư 7)
7


Bài tập 4: (trang 54 – HDH Toán 3, tập 1A): Trong các phép chia có dư với
số chia là 3, số dư lớn nhất của các phép chia đó là:
A. 3
B. 2
C. 1
D. 0
Sau khi học sinh tìm được kết quả phép chia còn dư (bài tập 1) và số dư lớn
nhất (bài 4), giáo viên khai thác thêm: Phải thêm vào số bị chia mấy đơn vị để phép
chia thành phép chia hết? lúc này thương thay đổi thế nào?
Bài 2: (trang 20 – HDH Toán 3 tập 1B) Nêu bài toán rồi giải theo tóm tắt
sau:
9 quả táo

Con:
Mẹ:

?quả táo

Với bài này ngoài yêu cầu của bài tập giáo viên nên tạo cơ hội phát triển tư


Tôi hướng dẫn giáo viên có thể gợi ý, định hướng, khuyến khích cho học
sinh giải bằng nhiều cách khác nhau ( đối với đối tượng học sinh khá giỏi); tùy theo
mỗi dạng bài, mỗi bài cụ thể mà chọn cách so sánh hợp lý:
* Dùng “sơ đồ đoạn thẳng” để so sánh 2 phân số:
Ví dụ 1: So sánh 2 phân số

3
2

4
3

Ta có sơ đồ:
3
4
2
3

- Từ sơ đồ ta thấy

Ví dụ 2: So sánh 2 phân số:

3
2
>
4
3

5

4
So sánh thương với 1:

Dù tìm kết quả bằng cách nào thì kết quả cuối cùng vẫn là 14 que tính và học
sinh điền kết quả vào phép tính: 9 + 5 = 14. Tuy nhiên để chuẩn bị cơ sở cho việc
thực hiện phép cộng có nhớ ( qua 10) sau này, giáo viên nên giúp học sinh tự nhận
biết (Thông qua các thao tác với que tính)
9+5=9+1+4
hoặc 9 + 5
= 10 + 4
= 14
1
4
* Dạy dạng bài: Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó ( Trang 47HDH Toán 4, tập 1A)
10


Giáo viên dùng bảng phụ xuất hiện bài toán: “ Tổng của 2 số là 70. Hiệu của
2 số đó là 10. Tìm 2 số đó”
Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận theo nhóm: học sinh phân tích kỹ
bài toán, nêu tóm tắt, vẽ sơ đồ và suy nghĩ tìm ra cách giải.
Tóm tắt bài toán: Số lớn:
10
70
Số bé:
Để tìm ra cách giải, giáo viên gợi ý học sinh như sau:
? Có mấy cách để 2 đoạn thẳng biểu thị số lớn và số bé bằng nhau?
? Và lúc này tổng này thay đổi như thế nào?
Cách 1: Cắt đoạn thẳng biểu thị phần hơn của số lớn so với số bé, lúc này
tổng giảm đi 10 đơn vị.
Số lớn:
10
70

Số bé là: 70 : 2 – 5 = 30
Số lớn là: 70 – 30 = 40
Hoặc: Số lớn là: 30 + 10 = 40
11


Cách 4:

Nửa hiệu 2 số là: 10 : 2 = 5
Số lớn là: 70 : 2 + 5 = 40
Số bé là:
70 – 40 = 30
Hoặc: Số bé là:
40 - 10 = 30
Từ 4 cách giải trên giáo viên cho học sinh nhận xét cách giải nào đơn giản.
(Học sinh lựa chọn cách 1 và 2). Từ 2 cách giải đó giáo viên khái quát cho học sinh
phương pháp giải dạng toán này bằng công thức:
Cách 1: Tìm số bé trước
Số bé = ( tổng - hiệu) : 2
Số lớn = Tổng - số bé

Cách 2: Tìm số lớn trước
Số lớn = ( tổng + hiệu) : 2
Số bé = Tổng – số lớn

Với cách tổ chức cho học sinh tự phát hiện như trên, tuy cách 3 và cách 4
không phục vụ cho việc khái quát công thức, nhưng giúp học sinh chủ động trong
việc nắm kiến thức góp phần làm cho các em tự tin và kích thích học sinh tự khám
phá trong những bài học tiếp theo.
b. Dạy luyện tập ( Em ôn lại những gì đã học)

được
; ; ;
.
27 18 27 27
27 6 9 27
5
15
Như vậy phân số bằng phân số
nên phải khoanh vào C.
9
27
10 15 15 20
Phương án 2: Trong các phân số
; ;
;
có 3 phân số có mẫu số bằng 27,
27 18 27 27
5
15
viết thành phân số có mẫu số là 27 được
. Vậy “khoanh vào C”
9
27

Phương án 1: Rút gọn các phân số

(vì chỉ có 1 kết quả đúng)
5
10
10

M
C
8 cm

P
20 cm
N
Học sinh dễ dàng tìm được diện tích hình H chính là tổng diện tích của 2
hình chữ nhật ABCD và hình chữ nhật DMNP. Khi học sinh chữa bài, giáo viên cho
học sinh thảo luận nhóm để tìm ra cách giải khác nhau.
Một số cách giải học sinh có thể đưa ra như sau:
Cách 1: Cắt hình đã cho thành 3 mảnh và ghép lại như sau:
4 cm
8 cm
20 cm

Diện tích hình H chính là diện tích hình chữ nhật có chiều dài 20m, chiều
rộng là 4+ 8 = 12 cm.
Cách 2: Cắt hình đã cho thành 3 mảnh và ghép lại như sau:
8 cm

8 cm

8 cm
10 cm

Diện tích hình H chính là diện tích hình chữ nhật có chiều dài 8x 3 = 24 cm
và chiều rộng là 10 cm.
Cách 3: Cắt hình đã cho thành 2 mảnh và ghép lại như sau:
10 cm

dượt giải quyết nhiệm vụ học tập, đưa ra sản phẩm cụ thể thông qua thao tác trực
quan nên tạo hứng thú học tập.
Tôi đã yêu cầu giáo viên dạy phải bám sát vào gợi ý định hướng đồ dùng dạy
học cho từng bài học trong sách hướng dẫn học, nhưng phải biết vận dụng để sử
dụng cho hợp lý và có hiệu quả.
Mỗi đồ dùng dạy học có thể mang nhiều tính năng, tác dụng và nhiều cách sử
dụng để tiết học có hiệu quả hơn, do vậy giáo viên phải nghiên cứu bài học, nghiên
cứu sử dụng đồ dùng dạy học phù hợp với từng bài để mang lại hiệu quả nhất.
Phải sử dụng ĐDDH đúng thời điểm thích hợp, phản ánh rõ nét sâu sắc nội
dung kiến thức bài học, kích thích học sinh hứng thú học tập và tiếp thu bài học nhẹ
nhàng, tự nhiên.
Giáo viên phải biết tạo ra sự giao thoa giữa nội dung kiến thức bài học, tính
năng tác dụng của ĐDDH và năng lực tiếp thu của học sinh.
Trong từng lớp học, tất cả học sinh phải có đầy đủ đồ dùng học tập để mỗi
học sinh đều được thực hành luyện tập.
Ví dụ: Khi dạy đối tượng hình học, giáo viên phải chuẩn bị đồ dùng trực
quan để khi học, học sinh có biểu tượng về đối tượng hình học đó, sau đó theo lệnh
của giáo viên, học sinh thực hành lấy (tìm) đối tượng hình học mới trong bộ đồ
dùng để giáo viên kiểm tra (dạy bài: Hình vuông, hình tròn, hình tam giác – Toán 1;
Hình bình hành, hình thoi – Toán 4 v.v…).
Nhưng khi dạy các phép tính ở lớp 1 và lớp 2; xây dựng công thức tính diện
tích các hình ở lớp 4, lớp 5 thì học sinh lại xuất hiện đồ dùng trực quan theo lệnh
của giáo viên, thông qua đồ dùng trực quan đó tìm ra kết quả của phép tính, xây
dựng công thức tính diện tích các hình ( lớp 4, lớp 5) việc xuất hiện đồ dùng trực
quan lúc này chỉ có tác dụng mô tả ( kiểm nghiệm) lại việc làm của học sinh.
Hay khi sử dụng bảng nhóm: nhiều giáo viên quan niệm bảng nhóm chỉ được
sử dụng khi học sinh hoạt động theo nhóm. Việc quan niệm đó đúng nhưng chưa
14



- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc ra đề kiểm tra theo ma trận và tổ chức
kiểm tra theo đề chung của trường; nộp đề, đáp án và ma trận đề cho Phó hiệu
trưởng CM trước khi kiểm tra.
- Nâng cao chất lượng đề kiểm tra thông qua việc thiết lập ma trận đề, bám sát
chuẩn kiến thức, kỹ năng. Đề kiểm tra phải ở bốn cấp độ “Biết- Hiểu- Vận dụng
trực tiếp- Vận dụng sáng tạo”. Đối với bài kiểm tra học kỳ phải dành tối thiểu 50%
kiến thức cho các nội dung “Biết” và “Hiểu” ; 50% cho nội dung vận dụng trực tiếp
và vận dụng sáng tạo [4]. Từ đó triển khai dạy học sát đối tượng, khuyến khích tư
duy độc lập, sáng tạo của học sinh, hướng dẫn học sinh biết tự đánh giá năng lực
của bản thân và đánh giá lẫn nhau.

15


- Kết hợp một cách hợp lý giữa tự luận và trắc nghiệm giữa kiểm tra lý thuyết
và kiểm tra thực hành trong mỗi đề kiểm tra; tăng cường rèn luyện kỹ năng thực
hành, thử nghiệm cho học sinh.
- Thực hiện việc chấm bài, trả bài nghiêm túc. Chấm bài không bỏ sót lỗi, có
lời phê cụ thể, có nhận xét, động viên sự cố gắng tiến bộ của học sinh; trả bài phải
giúp học sinh thấy được nguyên nhân sai sót, kết hợp giữa đánh giá kết quả bài làm
với theo dõi sự tiến bộ của học sinh.
- Các giáo viên phải xác định được mục tiêu cần đạt của mỗi tiết học hay chủ
đề, khối lớp sau khi giảng dạy nhằm tiến hành KTĐG đúng thực chất.
- Việc kiểm tra, đánh giá không chỉ là việc xem học sinh học được cái gì mà
quan trọng hơn là biết học sinh học như thế nào, có biết vận dụng không.
3.3. Công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động đổi mới PPDH-KTĐG:
- Ngoài công tác thanh tra của Sở, Phòng GD&ĐT, nhà trường thường xuyên
tiến hành kiểm tra việc thực hiện công tác đổi mới 2 lần/học kỳ thông qua kiểm tra
hồ sơ CM, thanh kiểm tra hoạt động sư phạm, kiểm tra đột xuất các tiết dạy, kiểm
tra chất lượng học sinh, kết quả kiểm tra và so sánh kết quả kiểm tra giữa các lớp.

Nâng cao nhận thức của đội ngũ giáo viên trong việc làm đồ dùng học tập cho học
sinh học.
- Tiếp tục cải tiến đổi mới cách quản lý chỉ đạo giáo dục, để thực sự tạo cơ
hội cho giáo viên đổi mới phương pháp dạy học.
- Tạo điều kiện cho giáo viên đi tham quan mô hình dạy học có hiệu quả ở
các trường bạn, học hỏi, đánh giá, rút kinh nghiệm về vận dụng vào dạy học cho
bản thân. Thực sự tạo cơ hội cho giáo viên đổi mới phương pháp dạy học trong thời
gian cụ thể.
- Kiểm tra đánh giá việc đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên trong
tiết dạy và hiệu quả của việc đổi mới đó qua chất lượng học sinh học.
- Tiến hành hướng dẫn giáo viên thực hiện PPDH và KTĐG phát triển năng
lực học sinh theo chuẩn kiến thức, kỹ năng; thực hiện đánh giá tiết dạy của giáo
viên, hướng dẫn ra đề kiểm tra có hiệu quả, đảm bảo kiểm tra khách quan năng lực
học sinh.
- Tham mưu cho hiệu trưởng các biện pháp đổi mới PPDH và KTĐG nhằm
nâng cao chất lượng giảng dạy chung toàn trường.
- Thường xuyên chỉ đạo đổi mới PPDH thông qua công tác bồi dưỡng và dự
giờ thăm lớp, tổ chức rút kinh nghiệm giảng dạy ở tổ chuyên môn; phát động trong
giáo viên phong trào tự làm đồ dùng dạy học và sử dụng triệt để thiết bị hiện có.
Tạo điều kiện về tài liệu, sách học, sách tham khảo, trang thiết bị dạy học cho giáo
viên giảng dạy.
IV. Kiểm nghiệm
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, giáo viên
và học sinh trong trường
1. Về nhận thức:
Đã nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và các lực
lượng khác tham gia giáo dục về đổi mới phương pháp dạy học.
Họ đều nhận thức được rằng: đổi mới phương pháp là sự kết hợp nhuần
nhuyễn sáng tạo giữa kinh nghiệm của giáo viên với những yếu tố mới của phương
pháp dạy học hiện đại. Hay nói cách khác: “Đổi mới phương pháp dạy học được

giỏi, Ban giám hiệu dự giờ có báo trước và không có báo trước…, những giáo viên
bắt thăm giờ Toán, kết quả giảng dạy đạt loại giỏi cũng đạt cao hơn so với năm học
trước.
Bảng so sánh kết quả giảng dạy môn Toán trong 2 năm học:
Năm học
2015-2016
2016-2017

Số tiết Toán
được dự
45
34

Đánh giá- Xếp loại
Giờ giỏi
Giờ khá
Giờ T.Bình
SL
%
SL
%
SL
%
26
57,8 19
42,2 0
27
79,4 7
20,6 0


%
246 53,4 150 32,6 49
10,7 15
3,3
372 78,3 82
17,3 16
3,4 5
1,0
18


Kết thúc vấn đề nghiên cứu trước khi có kết luận chắc chắn, tôi tiếp tục trực
tiếp dự giờ Toán của cô giáo Hoàng Thị Cường dạy lớp 3A; cô giáo Nguyễn Thị
Như Hoa dạy lớp 4B và cô Lê Thị Liên dạy lớp 5B, sau đó khảo sát chất lượng các
môn học ở các lớp này vào tuần học thứ 23. Đem so sánh chất lượng môn toán các
lớp tương ứng trong năm học trước đó do 3 cô giáo này dạy, theo bảng thống kê
sau:
Bảng thống kê chất lượng khảo sát môn Toán:
Mức điểm đạt
Lớp 3A: 32 em
Lớp 4B: 24 em
Lớp 5B: 22 em
SL
%
SL
%
SL
%
Điểm 9,10
12

học được thay đổi.
C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
I. Kết luận
Hầu hết, trong quá trình dạy học giáo viên đã chú ý đến đổi mới phương pháp
dạy học, điều đó được thể hiện rõ nét ở các tiết thao giảng, thi giáo viên giỏi cấp
trường, cấp huyện, cấp tỉnh giáo viên trường áp dụng đổi mới phương pháp dạy học
đều được đánh giá và ghi nhận giờ dạy giỏi các cấp.
Việc đổi mới phương pháp dạy học đã được giáo viên, phụ huynh học sinh coi
trọng. công tác kiểm tra đánh giá việc bồi dưỡng phương pháp dạy học môn Toán
được nhà trường duy trì thường xuyên, liên tục, hiệu quả.
Học sinh hoàn toàn chủ động, tự giác học tập, phát huy được tính tích cực, hợp
tác trong giờ học. Các em được rèn luyện kỹ năng thực hành, phối hợp với kỹ năng
giao tiếp, tinh thần hợp tác thể hiện rõ nét trong khi các em hoạt động nhóm, nhiều
em có các ý tưởng hay khác nhau phù hợp với cảm nhận riêng của mình.
Do phối hợp và lựa chọ PPDH khác nhau, thay đổi hình thức dạy học một cách
hợp lý, giờ học đã diễn ra tự nhiên nên đã tạo được hứng thú và sự thi đua trong
học tập của học sinh.
Ở các tiết luyện tập, thực hành, các em được tự ý thể hiện những sáng tạo của
riêng mình, sự hiểu biết đa dạng, phong phú của các em cũng được thể hiện rõ nét.
19


II. Kiến nghị, đề xuất:
1. Đối với giáo viên:
Hiểu biết đúng đắn về nội dung và hình thức đổi mới phương pháp dạy học.
Biết cách phối hợp trong việc tích cực vận động phụ huynh học sinh mua đầy
đủ đồ dùng học tập phục vụ cho môn học.
Cố gắng học hỏi trau dồi kiến thức thì mới đáp ứng được “cách học” của học
sinh hiện nay và mới đạt được mục tiêu của việc dạy học môn Toán trong trường
Tiểu học.

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Hà Trung, ngày 16 tháng 3 năm 2017
CAM KẾT KHÔNG COPY.
20


Mục lục
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13

Mục
A
1
2
3
4
5

Lý do chọn đề tài
1
Mục đích nghiên cứu
1
Đối tượng nghiên cứu
1
Phương pháp nghiên cứu
1
Những điểm mới của sáng kiến
1
Nội dung
2
Cơ sở lý luận của sáng kiến
2
Thực trạng của vấn đề
3
Thực trạng chung
3
Thực trạng của trường Tiểu học Thị Trấn
3
Kết quả của thực trạng trên
4
Các giải pháp và tổ chức thực hiện hiện nhằm nâng cao 5
chất lượng dạy học môn Toán
Biện pháp 1
5
Biện pháp 2
14
Biện pháp 3
15


TT

Tên đề tài SKKN

1.

Một số biện pháp chỉ đạo bồi
dưỡng học sinh giỏi Tiểu học
Chỉ đạo công tác thi đua trong
trường tiểu học Thị Trấn Hà Trung
Chỉ đạo công tác thi đua trong
trường tiểu học Thị Trấn Hà Trung
Công tác xã hội hoá giáo dục ở
tiểu học Thị Trấn
Một số biện pháp chỉ đạo bồi
dưỡng học sinh giỏi ở
trường Tiểu học Thị Trấn Hà
Trung.
Một số biện pháp chỉ đạo bồi
dưỡng học sinh giỏi ở
trường Tiểu học Thị Trấn Hà
Trung.
Một số biên pháp
nâng cao chất lượng PCGD TH
ĐĐT mức độ 2 ở trường tiểu học
Thị Trấn Hà
Trung”
Một số biên pháp
nâng cao chất lượng PCGD TH

A

2007-2008

Sở

C

2007-2008

Phòng

B

2008- 2009

Phòng

A

2010-2011

Sở

B

2010-2011

Phòng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status