Sử dụng phương pháp kể chuyện lịch sử nhằm nâng cao hiệu quả học tập môn lịch sử lớp 10 ở trường trung học phổ thông - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI
TRƯỜNG
THPT NGUYỄN TRÃI
_____________________________________________
_____________________________________________

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP KỂ CHUYỆN LỊCH SỬ
SỬ DỤNG
CHUYỆN
LỊCH
SỬSỬ
NHẰM
NÂNG PHƯƠNG
CAO HIỆUPHÁP
QUẢ KỂ
HỌC
TẬP MÔN
LỊCH
NHẰM NÂNG
CAO
QUẢ HỌC
TẬP MÔN LỊCH SỬ
LỚP
10 HIỆU
Ở TRƯỜNG

Cũng như các môn học khác, học tập lịch sử cung cấp cho học sinh những
kiến thức khoa học hình thành thế giới quan khoa học, dần hoàn thiện và phát
triển nhân cách lối sống, đạo đức của học sinh, mặt khác học tập lịch sử sẽ góp
phần rất to lớn trong việc giáo dục truyền thống đạo đức, lòng yêu quê hương
đất nước thông qua các bài học về quá trình đấu tranh giành và bảo vệ độc lập
dân tộc của bao thế hệ người Việt Nam ta, học sinh nhận thức đúng đắn các quy
luật vận động và phát triển của lịch sử, các giá trị văn hóa truyền thống của dân
tộc, cũng như tiếp cận với những tri thức tiến bộ của nhân loại…
Mặc dù có vai trò quan trọng như vậy, nhưng trong thực tế hiện nay đa số
học sinh không thích học lịch sử, nếu có thì tiếp thu một cách hời hợt không
thành hệ thống, không hiểu hay không giải thích được các khái niệm lịch sử.
Học sinh chỉ học những gì giáo viên cho ghi chép mà không chịu đào sâu kiến
thức. Một bộ phận nhỏ học sinh có ý thức học thì chỉ học được một số sự kiện,
khái niệm chính, nhưng trong một thời gian không nhắc đến sẽ mau quên, một
số lại không xác định được kiến thức cơ bản, không khái quát được vấn đề.
Sỡ dĩ còn những tồn tại trên là do các nguyên nhân sau:
- Nhiều giáo viên chưa chuyên tâm tìm tòi, đổi mới các phương pháp dạy
học lịch sử cho phù hợp từng bài, từng đối tượng học sinh, nhiều khi còn
nghiêng về cách dạy đọc – chép tóm tắt lại nội dung trong sách giáo khoa, như
thế học sinh không hứng thú trong học tập bộ môn, không phát huy được tư duy
độc lập sáng tạo, không phát triển được tối đa các năng lực nhận thức của học
sinh.
- Đối với học sinh và phụ huynh còn xem nhẹ môn lịch sử, coi đó là môn
phụ, chỉ cần học thuộc lòng bài học thầy cô cho ghi chép ở trên lớp là được. Nên
2


học sinh quên kiến thức rất nhanh, không đọng lại được gì, từ đó kết quả học tập
thi cử của môn lịch sử rất thấp.
Để giúp học sinh lĩnh hội kiến thức lịch sử một cách tốt nhất, hiểu và nhớ

3


2. Nội dung
2.1. Cơ sở lý luận
Lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ, không thể diễn ra nữa và
cũng không thể tái hiện được. Vì vậy, học tập tốt môn lịch sử là rất khó khăn,
đòi hỏi phải có sự nỗ lực, phấn đấu say mê của cả giáo viên và học sinh. Thế
nên, trong dạy học lịch sử giáo viên sử dụng phương pháp kể chuyện lịch sử để
cung cấp kiến thức lịch sử cho học sinh là một việc làm có ý nghĩa rất to lớn
giúp học sinh hiểu nhanh, hiểu sâu và nhớ lâu kiến thức. từ đó hình thành khái
niệm, rút ra quy luật và bài học lịch sử rồi vận dụng vào thực tiễn.
Muốn tái hiện bức tranh quá khứ một cách sinh động chúng ta phải dựa
trên cơ sở tài liệu tham khảo trong đó có những câu chuyện, những giai thoại
lịch sử. Thông qua việc kể các câu chuyện, các giai thoại lịch sử trong bài dạy,
học sinh có thêm cơ sở để nắm vững bản chất sự kiện và hứng thú hơn với môn
học. Ngoài ra, còn giúp phát triển tư duy trí tưởng tượng của học sinh.
Từ những ý nghĩa trên sử dụng phương pháp kể chuyện lịch sử trong một
số bài dạy ở lớp 10 góp phần rất lớn vào việc nâng cao chất lượng bộ môn, giúp
học sinh nhớ, hiểu và biết lịch sử.
2.2. Thực trạng của vấn đề.
Như trên đã nói dạy học lịch sử là dạy, học những gì diễn ra trong quá
khứ. Mỗi mục, mỗi bài, mỗi chương đều có rất nhiều các sự kiện, hiện tượng,
nhân vật lịch sử nhưng học sinh buộc phải nhớ, phải hiểu.
Cũng do đặc thù trên nên học sinh rất ngại học lịch sử, không hứng thú
với bộ môn, hầu như học sinh học bài nào biết bài ấy, không biết tư duy, khái
quát liên kết các vấn đề, các sự kiện, hiện tượng lịch sử.. dẫn tới học sinh nắm
kiến thức một cách rời rạc, qua loa nên nhanh quên kiến thức. Như vậy rõ ràng
học sinh chưa tìm ra được phương pháp học tập thích hợp.
Đối với chương trình sách giáo khoa lịch sử lớp 10 hiện nay mặc dù Bộ

chất sự kiện.
Từ thực trạng kết quả trên, để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn tôi
mạnh dạn sử dụng phương pháp lồng ghép kể chuyện lịch sử ở một số bài lịch
sử lớp 10, nhằm nâng cao hiệu quả học tập môn lịch sử ở trường Trung học phổ
thông (chương trình cơ bản) nhằm nâng cao, khắc sâu kiến thức lịch sử cho học
sinh
2.3. Các giải pháp thực hiện
2.3.1. Các giải pháp
Để phần nào khắc phục được hạn chế kết quả thực trạng trên, việc đầu tiên
đối với giáo viên cần phải thực hiện là đầu tư, tìm tòi, nghiên cứu, tham khảo
trên nhiều “kênh” khác nhau: tài liệu, báo, ti vi, internet ...thích hợp cho từng
mục, từng bài, từng chương. Giúp học sinh hứng thú trong học tập, hệ thống hóa
được kiến thức, học sinh dễ dàng tiếp thu bài giảng.

5


a. Qua thực tế giảng dạy và qua nghiên cứu, thực hiện tôi đã sử dụng các
phương pháp lồng ghép kể chuyện lịch sử sau:
* Thứ nhất: sử dụng kể chuyện lịch sử để tạo biểu tượng về nhân vật, sự
kiện, hiện tượng lịch sử .
Đi cùng với các sự kiện lịch sử thường gắn với 1 nhân vật lịch sử cụ thể.
Những anh hùng dân tộc như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường
Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ, Lê Lợi,... và đặc biệt là Nguyễn Ái Quốc –
Hồ Chí Minh. Những nhân vật này có vai trò rất lớn với lịch sử dân tộc do vậy
trong dạy học giáo viên không thể lướt qua, bỏ qua mà phải khắc họa, tạo biểu
tượng về các nhân vật đó, sử dụng phương pháp kể chuyện có tác dụng tạo biểu
tượng về nhân vật lịch sử một cách sinh động, đậm nét từ đó giáo dục học sinh
kính trọng, noi gương các anh hùng dân tộc, biết phát huy các truyền thống tốt
đẹp sẵn có của dân tộc.

chuyện lịch sử
- Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức.
Nội dung câu chuyện đưa vào dạy học phải phù hợp với tâm lý lứa tuổi,
hoàn cảnh và trình độ nhận thức của học sinh. Ngôn ngữ phải trong sáng, dễ
hiểu, biểu cảm. Dung lượng ngắn gọn tránh lan man,dài dòng.
- Nguyên tắc phát huy tính tích cực của học sinh.
Giáo viên cần phải lựa chọn các câu chuyện lịch sử cho phù hợp với
những kiến thức sự kiện lịch sử cơ bản, phục vụ cho bài học để từ đó học sinh
hiểu sâu sắc bài học, kích thích sự ham học, thích học. Giáo viên sử dụng
phương pháp kể chuyện không đơn thuần là để minh hoạ mà còn để cụ thể hoá
kiến thức, tái hiện nội dung kiến thức để tạo biểu tượng lịch sử, rút ra bài học
lịch sử.
2.3.2. Tổ chức thực hiện
a. Đối với phương pháp sử dụng kể chuyện lịch sử để tạo biểu tượng về
nhân vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử.
Ví dụ 1: Khi dạy bài 16: Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành
độc lập dân tộc (Từ thế kỉ II TCN đến đầu thế kỉ X), khi học sinh tìm hiểu mục 2:
Một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu, đến phần d: Ngô Quyền và chiến thắng Bạch
Đằng năm 938 giáo viên tạo biểu tượng về Ngô Quyền.
Ngô Quyền là người Đường Lâm (Vùng Sơn tây- Hà Nội ngày nay) vốn
là tướng của Dương Đình Nghệ vừa là con rể của ông, Ngô Quyền từng tham
gia cuộc kháng chiến chống Nam Hán của Dương Đình Nghệ, lập công lớn và
rất được cha vợ quý mến, cho ở lại giữ đất Ái Châu. Nhân việc Dương Đình
Nghệ bị ám hại, vua Nam Hán lại cất quân sang đánh nước ta, Ngô Quyền đem
7


quân từ Ái Châu ra, tiêu diệt tên phản bội và tổ chức trận Bạch Đằng lịch sử.
Chiến thắng vĩ đại trên sông Bạch Đằng năm 938 đã vĩnh viễn đè bẹp ý chí xâm
lược của nhà Nam Hán, kết thúc 1000 năm xâm lược của phong kiến phương


8


cuộc khởi nghĩa gian khổ hào hùng, mưu trí tài tình nhưng cũng rất khoan dung
độ lượng của cha ông trong thời kì đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, cũng
như trong thời kì xây dựng và phát triển đất nước.
Ví dụ 3: Trong khi dạy bài 25: Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa dưới
triều Nguyễn (Nửa đầu thế kỉ XIX), mục 2: tình hình kinh tế và chính sách của
nhà Nguyễn, ở ý thủ công nghiệp dân gian xuất hiện nghề mới : in tranh dân
gian. Giáo viên hỏi: Em biết gì về tranh dân gian? Sau khi học sinh trả lời giáo
viên kể: Tranh Đông Hồ tên đầy đủ là: tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ, xuất xứ
từ làng Đông Hồ (xã Song Hồ, Thuận Thành, Bắc Ninh), được công nhận là di
sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.
Trước kia tranh chủ yếu bán ra để phục vụ tết nguyên đán, người dân
nông thôn mua tranh về dán trên tường, hết năm lại lột bỏ, dùng tranh mới.
Đây là dòng tranh gắn bó và thể hiện sinh động xã hội người Việt cổ
truyền, cuộc sống lao động của người nông dân bình dị chất phác, phong tục tập
quán sinh hoạt của người dân Việt. Với những hình ảnh quen thuộc: đám cưới
chuột, đàn lợn, đàn gà, những cô thiếu nữ hứng dừa hoặc đánh ghen của đôi vợ
chồng trẻ... nó phản ánh chân thực, sinh động cuộc sống mộc mạc, giản dị của
người Việt. Tranh độc đáo ở giấy in và màu sắc.
Với giấy in là giấy điệp, người ta nghiền nát con điệp – một loại sò vỏ
mỏng ở biển, trộn với hồ - được nấu từ bột (gạo tẻ, gạo nếp hoặc từ sắn) rồi
dùng chổi lá thông quét lên mặt giấy dó. Chổi lá thông tạo nên những gạch chạy
theo đường quét và vỏ điệp tự nhiên cho màu trắng với những ánh lấp lánh của
những mảng điệp nhỏ dưới ánh sáng, có thể pha thêm màu khác vào hồ trong
quá trình làm giấy điệp
Với màu sắc: tranh được in từ màu tự nhiên từ cây cỏ như màu đen (than
xoan hay than lá tre), xanh (gỉ đồng, lá chàm), vàng (hoa hòe), đỏ (sỏi son, gỗ

lửa của người nguyên thủy là một phát minh quan trọng, được xem như là cuộc
cánh mạng lần thứ nhất của con người. Giáo viên kể câu chuyện:
Người nguyên thủy đã biết dùng lửa từ rất lâu. Họ đã lấy lửa từ đám rừng cháy
hay núi lửa. Nhưng mãi hàng ngàn năm sau, con người mới phát minh ra lửa và
chế ngự được nó. Cách lấy lửa phổ biến rộng rãi nhất là rùi và mài. Cách dùi gỗ
lấy lửa đơn giản nhất là dùng 2 bàn tay xoay trục gỗ, tiến bộ hơn họ dùng dây da
làm xoay trục gỗ thay tay, hoàn thiện hơn thì dùng dây cung đặc biệt để xoay
trục lấy lửa, tuy vậy cũng phải có kĩ xảo đặc biệt không phải ai cũng bắt trước
được.
_______________________________________

Trong trang này, tác giả sử dụng tài liệu tham khảo số 5

10


Mỗi khi có lễ hội đặc biệt quan trọng, người ta phải dùng phương pháp
nguyên thủy, như cọ xát để lấy lửa châm lên đèn thờ.Họ tin tưởng đó mới là thứ
lửa thiêng liêng, sáng tạo ra kì tích. Trên bàn thờ của người Hi Lạp, La Mã ngọn
lửa được chong sáng quanh năm. Chỉ những người con gái còn trinh tiết thuộc
các gia đình quý tộc mới được giao chăm sóc ngọn lửa. Nếu không may để tắt
lửa hoặc không giữ được tấm lòng trinh tiết nữa họ phải chịu tử hình. Trong các
cuộc thi đấu thể thao ở Ôlympi (Hi Lạp cổ đại) các thiếu nữ Hi Lạp tha thướt
trong các bộ quần áo dài trắng leo lên đỉnh núi Ôlympo lấy lửa. Ngọn lửa đặt
trong bình được mang đến Đại hội thể thao Ôlympic và được giữ cho cháy sáng
liên tục trong suốt thời gian đại hội. Ngày nay, ở đại hội thể thao các Châu lục
vẫn còn giữ tục lệ này.
Từ khi có lửa, con người thoát khỏi cảnh “ăn tươi nuốt sống”, cải thiện
căn bản đời sống của mình. Ngoài ra, lửa còn giúp con người sưởi ấm, thắp
sáng, đuổi thú giữ... với ý nghĩa to lớn đó, đây xứng đáng là cuộc cánh mạng

c. Đối với phương pháp sử dụng kể chuyện lịch sử để giới thiệu, dẫn dắt vào bài
mới.
Ví dụ 1: Khi dạy bài 11: Tây Âu thời hậu kì trung đại (tiết 2) mục 3: phong trào
văn hóa phục hưng, trước khi học bài giáo viên kể câu chuyện sau:
Năm 1963, để mượn được bức tranh này về triển lãm, Hoa Kỳ đã phải đóng
cả một tàu thủy đủ điều kiện ánh sáng, môi trường khí hậu như ở Bảo tàng để
đưa “Nàng” sang thăm Hợp chủng quốc Mĩ. Từ Lu-vrơ xuống tàu, chuyến xe
đặc biệt chở “Nàng” giễu hành giữa hàng ngàn xe cảnh sát lễ phục chỉnh tề,
súng ống sẵn sàng bảo vệ, long trọng như tiễn đưa một nguyên thủ cao
cấp....Ông Man-rô, Bộ trưởng bộ Văn hóa Pháp – người tổ chức mượn bức tranh
này, được ghi vào từ điển Mĩ thuật của Pháp vì đã có công truyền bá văn hóa...
Năm 1974, Nhật lại mượn bức tranh này trong vòng 2 tháng. Tính ra đã có
tới hơn 2 triệu người Nhật hăm hở đến Tô-ki-ô chầu chực để được lướt qua
chiêm ngưỡng “Nàng” hơn 1 phút. Nhân dịp này, Nhật còn tổ chức thi hoa hậu
chọn người Nhật giống “Nàng” nhất. Trên đường về Pháp, thể theo yêu cầu của
Liên Xô “Nàng” lại dừng chân tại Mat-xcơ-va một tuần lễ và hơn 1 triệu người
Xô viết lại hân hạnh lướt qua 1 phút chiêm ngưỡng “Nàng”... Kể tới đây giáo
viên dừng lại hỏi: câu chuyện trên kể về bức tranh nào? Do ai sáng tác?.
Sau khi học sinh trả lời, giáo viên kết luận như sau: Đây là một trong
những thành tựu vĩ đại của thời đại Văn hóa phục hưng, bức họa “La Giô-công”
của Lê-ô-na đơ Vanh-xi. Từ khi ra đời cho tới nay nó được coi là kiệt tác nghệ
thuật, biểu hiện ở nụ cười “bí hiểm” của Nàng Mô-na Li-sa, được ghi lại bằng
đôi má lúm đồng tiền, và đôi mắt đưa ngang vừa nhìn, vừa cười, vừa suy nghĩ,
đôi mắt mọng kéo dài của con người thông minh và đa tình. Được vẽ nên bởi
Lê-ô-na đơ Vanh-xi, một họa sĩ , nhà điêu khắc, kiến trúc sư, nhạc sĩ, bác sĩ, kỹ
sư, nhà giải phẫu, nhà sáng tạo và triết học tự nhiên. Ông được coi là nhà thiên
tài toàn năng người Ý.

_______________________________________


gây ra những đám cháy rất lớn thiêu đốt thuyền địch từ khi chúng còn ở cách
một tầm tên bắn...”
Như vậy, không chỉ được biết tới qua các câu chuyện Ơrêca – tìm ra rồi,
nguyên lý đòn bẩy..., Acsimet còn được nhớ tới là một nhà khoa học yêu nước,
bằng sức lao động và tài năng của bản thân, ông đã sát cánh cùng với nhân dân
thành phố quê hương đứng lên bảo vệ đất nước mình.
_______________________________________

Trong trang này, tác giả sử dụng tài liệu tham khảo số 5

13


Ví dụ 3: Dạy bài 34: Các nước tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ
nghĩa. Học sinh tìm hiểu mục 1: các thành tựu khoa học – kỹ thuật cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỉ XX. Giáo viên đọc bài thơ:
“ .... Tia Rơnghen
Chuyện ma quái gì vậy
Cả thành phố sục sôi bốc lửa
Cả tôi nữa cũng thất kinh
Khi nói đến tia vô hình
Có thể xuyên qua cả quần áo và tâm hồn mình nữa...”
Và một công ty nhân dịp này lại tung ra quảng cáo cho những món hàng độc đáo
để kiếm lời. Công ty may mặc đã chào hàng 1 loại quần áo lót có thể chống
được sự “xâm nhập” của những tia Rơnghen khủng khiếp, một của hàng mũ đã
quảng cáo: loại mũ này che kín chán không cho ai có thể dùng tia Rơnghen đọc
được ý nghĩ của bạn...
Giáo viên hỏi: Tia Rơnghen là gì? Tại sao lại có những ý nghĩ khủng
khiếp như thế? Khi ra đời nó được ứng dụng vào nghành nào? Sau khi học sinh
trả lời, giáo viên tổng kết như sau:

Như vậy, thông qua câu chuyện về nhà bác học Rơnghen, học sinh thấy
được tài năng sáng tạo và sự lao động miệt mài của các nhà bác học. Với phát
minh của mình, ông đã cống hiến cho y học nhiều hơn bất cứ nhà vật lý nào
khác. Năm 1901, ông là nhà khoa học đầu tiên được nhận giải Nôben về vật lý.
Trên đây, tôi đã trình bày một số ví dụ nhằm minh họa cho việc sử dụng
phương pháp lồng ghép kể chuyện lịch sử trong dạy học lịch sử nhằm tạo hứng
thú cho học sinh, nâng cao hiệu quả bài học, truyền đạt kiến thức mới.
Phương pháp này, còn có thể áp dụng vào nhiều bài khác nữa, và cũng có
thể thực hiện đối với Lịch sử lớp 11, lớp 12…Trong quá trình vận dụng đòi hỏi
giáo viên phải có sự sáng tạo, linh hoạt trên cơ sở khoa học và điều kiện cụ thể
của từng lớp học, tiết học
Ngoài các phương pháp kể chuyện lịch sử đã nêu ở trên, nhà trường, tổ bộ
môn, giáo viên có thể tổ chức buổi ngoại khóa môn lịch sử: cemina – thảo luận
một vấn đề lịch sử đã có sự tìm hiểu, chuẩn bị từ trước, tham quan học tập ở bảo
tàng lịch sử, hoặc trong khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ... Đây là một
hình thức ngoại khóa hấp dẫn, dễ làm và có hiệu quả giáo dục cao. Tuy nhiên
trong khuôn khổ của đề tài và do thời gian có hạn tôi chỉ xin nêu lên vấn đề ở
đây và sẽ cố gắng thực hiện trong một đề tài khác...
_______________________________________

Trong trang này, tác giả sử dụng tài liệu tham khảo số 4

15


2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Với việc sử dụng phương pháp lồng ghép kể chuyện lịch sử trong việc
giảng dạy, tôi thấy nó đem lại rất nhiều tiện ích cho học sinh. Học sinh nắm
vững kiến thức cơ bản, không bị nhầm lẫn kiến thức, qua các câu chuyện, các
giai thoại lịch sử sẽ mở rộng vốn kiến thức, sự hiểu biết về lịch sử từ đó học sinh


6

%
33,3
3
38,2
9

Trung bình

Yếu

Kém

SL
20

%
45,5

SL
5

%
11,11

SL
2


+ Học sinh tiếp thu kiến thức một cách máy móc, thụ động
- Với phương pháp dạy học sử dụng kể chuyện:
+ Giờ học sôi nổi, học sinh hứng khởi, chủ động khi tiếp cận kiến thức

16


+ Học sinh xác định được kiến thức cơ bản, biết hệ thống, khái quát các
sự kiện hiện tượng lịch sử qua từng tiết học. Học sinh dễ dàng thuộc bài ngay
trên lớp.
3.2. Kiến nghị
Đổi mới phương pháp dạy học nói chung và trong dạy học lịch sử nói
riêng là điều vô cùng quan trọng trong tình hình thực tế hiện nay. Để có thể phát
huy được tính tích cực, chủ động, độc lập của học sinh, phát triển được các năng
lực của học sinh, đòi hỏi giáo viên thực sự tận tâm với nghề, luôn trăn trở đầu tư
công sức để tạo ra những bài dạy hay, phù hợp cho từng đối tượng học sinh. Tuy
vậy, cũng không thể xóa bỏ hoàn toàn các phương pháp dạy học truyền thống đã
sử dụng bấy lâu nay vì thế tôi thấy rằng phương pháp kể chuyện lịch sử này có
thể áp dụng để thu hút, tạo hứng thú và nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử, tránh
được sự nhàm chán trong tiết học. Đây là phương pháp không mới, không đặc
biệt nhưng nếu được áp dụng một cách phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ thì hiệu quả
đem lại không phải là nhỏ. Ngoài ra giáo viên còn có thể kết hợp với các phương
pháp dạy học khác để bài học đạt hiệu quả cao nhất.
Qua đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Sử dụng phương pháp kể chuyện
lịch sử nhằm nâng cao hiệu quả học tập môn lịch sử lớp 10 ở trường Trung
học phổ thông” tôi thấy rằng: Sử dụng phương pháp kể chuyện lịch sử trong
dạy học lịch sử là điều thực sự cần thiết, có ý nghĩa lớn giúp học sinh dễ nhớ
kiến thức của bài học, lại tạo ra không khí học tập sôi nổi, lý thú, góp phần nhỏ
vào giáo dục nhân cách, lối sống, đạo đức cho học sinh. Thông qua đây, tôi xin
đề xuất một số ý kiến sau:

Chương, Phan Ngọc Huyền – NXB Hà Nội.

2. Sách giáo viên Lịch sử lớp 10 - tác giả Phan Ngọc Liên (Tổng chủ biên),
Lương Ninh, Trương Hữu Quýnh (chủ biên),Đinh Ngọc Bảo, Nguyễn Hồng
Liên, Nguyễn Cảnh Minh, Nghiêm Đình Vì - NXB Giáo dục

3. Chuẩn kiến thức kỹ năng môn Lịch sử lớp 10 - tác giả Trịnh Đình Tùng (chủ
biên), Nguyễn Thị Thế Bình, Bùi Đức Dũng – NXB Đại Học Sư Phạm

4. Truyện kể về các nhà bác học vật lý - tác giả Đào Văn Phúc (chủ biên), Thế
Trường, Vũ Thanh Khiết - NXB Giáo dục

5. Những mẩu chuyện lịch sử thế giới – tác giả Đặng Đức An (chủ biên) – NXB
Giáo dục.

6. Sổ tay kiến thức lịch sử (phần lịch sử Việt Nam) – tác giả Trương Hữu Quýnh
(chủ biên) – NXB Giáo dục

19


20


21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status