SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT CHU VĂN AN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI:
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY ĐỂ PHÁT HUY TÍNH CHỦ ĐỘNG,
TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ BÀI 1
( CHƯƠNG TRÌNH LỊCH SỬ LỚP 12,THPT)
Người thực hiện: Lê Thị Hường
Chức vụ:
Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Lịch sử
THANH HOÁ NĂM 2019
ĐỀ TÀI
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY ĐỂ PHÁT HUY TÍNH CHỦ ĐỘNG, TÍCH CỰC
CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC BÀI 1
( CHƯƠNG TRÌNH LỊCH SỬ LỚP 12 THPT)
MỤC LỤC
DANH MỤC
TRANG
PHẦN I: MỞ ĐẦU
2
3.2.Biện pháp thực hiện
13
3.3.Tổ chức thực hiên
20
3.4. Thực nghiệm sư phạm
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
PHẦN I:
21
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
- Giáo dục là nền tảng của xã hội, là cơ sở tiền đề để quyết định sự phồn vinh của
đất nước. Giáo dục cung cấp những hiểu biết về kho tàng tri thức của nhân loại cho
biết bao thế hệ, giúp cho các em những hiểu biết cơ bản cần thiết về khoa học và
cuộc sống. Mặt khác giáo dục còn góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách tốt
đẹp cho học sinh . Trong nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo xác định “ Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các
yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất,
năng lực của người học”. Để giáo dục có hiệu quả và đạt chất lượng cao, trong quá
trình giảng dạy chúng ta cần thiết phải đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học,
trong đó đổi mới phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh là vấn đề
quan trọng.
- Trong thực tế hiện nay, có nhiều học sinh học tập một cách thụ động, chỉ đơn
thuần là nhớ kiến thức máy móc mà chưa rèn luyện kĩ năng tư duy, ý thức tự học.
- Nghiên cứu thực trạng của việc sử dụng sơ đồ tư duy và nguyên nhân của những
hạn chế trong việc dạy học lịch sử.
- Đề ra các định hướng chung và các giải pháp cụ thể cho việc sử dụng sơ đồ tư
duy trong dạy học phần lịch sử lớp 12 ở trường THPT.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Cơ sở phương pháp luận của đề tài là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng về vấn đề giáo dục nói chung, giáo
dục lịch sử nói riêng, lí luận về phương pháp dạy học bộ môn.
Ngoài việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung như: phân tích, tổng
hợp, đối chiếu, so sánh, nghiên cứu tài liệu về: phương pháp dạy học nói chung và
dạy học bằng sơ đồ tư duy nói riêng, nghiên cứu sách giáo khoa, sách giáo viên,
chuẩn kiến thức kĩ năng lịch sử lớp 12, đề tài sử dụng hai phương pháp cơ bản là
nghiên cứu thực tiễn (thao giảng, dự giờ, trao đổi rút kinh nghiệm, tìm hiểu thực
tiễn dạy - học lịch sử lớp 12 ở trường THPT Chu Văn An) và phương pháp thực
nghiệm sư phạm, thực hành lập sơ đồ tư duy để hệ thống kiến thức bài học.
PHẦN II: NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận:
Bộ môn Lịch sử cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản của khoa học
Lịch sử, nên đòi hỏi học sinh không chỉ biết, ghi nhớ sự kiện, nhân vật lịch sử mà
còn phải hiểu, đánh giá và vận dụng kiến thức vào cuộc sống. Lịch sử cũng như
những môn học khác nó giúp học sinh phát triển tư duy độc lập sáng tạo. Tuy
nhiên, hiện nay có quan niệm cho rằng học Lịch sử học sinh chỉ cần học thuộc lòng
3
hoặc là ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng lịch sử là được, không cần phải động não
suy nghĩ hay tư duy, không cần có bài tập thực hành. Đó là quan niệm sai lầm trong
dạy và học lịch sử, gây tâm lí chán, ngại học lịch sử dẫn đến chất lượng bộ môn
thấp.Như vậy, muốn thay đổi nhận thức của người học, nâng cao chất lượng bộ
môn thì đòi hỏi cấp thiết phải đổi mới phương pháp dạy và học tập bộ môn Lịch sử.
2. Thực trạng của vấn đề:
2.1. Xuất phát điểm của vấn đề.
2.1.1. Mục tiêu, nhiệm vụ của môn lich sử ở trường phổ thông:
Mục tiêu của bộ môn lịch sử trường phổ thông nhằm giúp học sinh có được những
kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, góp phần hình thành ở
4
học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, truyền thống
dân tộc, cách mạng, bồi dưỡng năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn
trong đời sống xã hội.
Mục tiêu của việc dạy học lịch sử ở trường THPT thể hiện qua ba nhiệm vụ cơ bản:
giáo dưỡng, giáo dục và phát triển.
2.1.2. Đặc trưng của bộ môn lịch sử
Đặc trưng của việc học tập lịch sử ở trường phổ thông là những sự kiện, hiện tượng
mang tính quá khứ. Nội dung kiến thức lịch sử rất phong phú và mang tính toàn diện.
Điều này đòi hỏi giáo viên lịch sử phải có kiến thức sâu rộng để cung cấp cho học sinh
những tri thức lịch sử mang tính hệ thống và hoàn chỉnh.
2.1.3. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT
Có rất nhiều phương pháp dạy học, tuy nhiên không có phương pháp nào là vạn
năng.Mỗi phương pháp đều có mặt tích cực và hạn chế.Vì vậy, yêu cầu đổi mới
phương pháp dạy học là phải kết hợp các phương pháp dạy học truyền thống và hiện
đại, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh.Đặc biệt, đổi mới phương pháp dạy
học phải phát huy được tính tích cực của học sinh.
2.2.Thực trạng dạy - học lịch sử ở trường phổ thông
2.2.1. Thuận lợi:
Giáo viên được tập huấn về việc đổi mới phương pháp dạy học, trong đó có
phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử, đồng thời cũng có nhiều
tài liệu về sơ đồ tư duy.
Trong bộ môn Lịch sử các giáo viên đều giảng dạy nhiệt tình, vận dụng khá linh
chưa biết chọn lọc kiến thức.Học sinh chỉ có thể trả lời những câu hỏi dễ, đơn giản
còn những câu hỏi tính vận dụng thì rất lúng túng.
Từ những thuận lợi và khó khăn trong thực tiễn dạy học nói trên, tôi quyết định
dùng sơ đồ tư duy để nâng cao kĩ năng dạy học của bản thân và giúp các em học
sinh có được một phương pháp học tập, ôn tập lịch sử hiệu quả.
3. Giải pháp và tổ chức thực hiện:
3.1. Giải pháp:
3.1.1. Khái niệm sơ đồ tư duy.
Sơ đồ tư duy còn gọi là Bản đồ tư duy hay lược đồ tư duy…, là hình thức ghi
chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một
nội dung, hệ thống hóa một chủ đề…, bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, từ
ngữ, đường nét, màu sắc kích thích hoạt động của não bộ.
Sơ đồ tư duy là công cụ ghi chép ưu việt, thể hiện dễ dàng với các quan hệ logic
thứ bậc, thông qua việc chọn lọc từ ngữ và hình ảnh ấn tượng có tính độc đáo.
Sơ đồ tư duy là bản vẽ phản ánh được bản chất của hiện tượng, sự vật theo nhận
thức của con người. Là hình thức ghi chép theo mạch tư duy của mỗi người bằng
việc kết hợp nét vẽ, màu sắc và chữ viết. Đặc biệt đây là sơ đồ mở, việc thiết kế sơ
đồ tư duy theo mạch tư duy của mỗi người không yêu cầu tỷ lệ, chi tiết khắt khe, có
thể vẽ hoặc thêm bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc,
hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một nội dung nhưng mỗi người có
thể “thể hiện” nó theo một cách riêng. Do đó, việc lập sơ đồ tư duy phát huy được
tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người.
6
Cha đẻ của sơ đồ tư duy là Tony Buzan (1942), người Anh. Ông là người đã
sáng tạo ra phương pháp tư duy MindMap(Bản đồ tư duy). Ông nghiên cứu chuyên
sâu về bộ não, trí nhớ, tìm ra quy luật khi xây dựng sơ đồ tư duy gồm nhiều nhánh,
7
- Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử một phương pháp dạy học tích cực.
9
Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy, đây là một phương pháp dễ nhất
để chuyển tải thông tin vào bộ não của học sinh rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não.
Sơ đồ tư duy là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng
nghĩa là “sắp xếp” ý nghĩ của học sinh.
Dựa vào nguyên tắc dạy học và tác dụng của sơ đồ tư duy, chúng ta có thể áp
dụng được ở nhiều dạng như: Kiểm tra bài cũ, dạy bài mới; Củng cố kiến thức sau
bài học; Ôn tập, hệ thống chương hoặc một giai đoạn lịch sử…
10
Trên thực tế trong quá trình dạy học và ôn tập môn lịch sử, tôi nhận thấy nhiều
học sinh không biết cách đọc và lưu giữ thông tin (nghe giảng thì không ghi được,
ghi thì không nghe được, sắp xếp ý lộn xộn, ghi xong quên ngay…). Vì vậy, sơ đồ
tư duy giúp học sinh có phương pháp học tập tích cực, tăng tính độc lập, chủ động,
sáng tạo và phát triển tư duy.
Khi thực giảng dạy, giáo viên hướng dẫn học sinh mô phỏng kiến thức bài học
bằng cách vẽ sơ đồ tư duy, giúp học sinh tư duy, sáng tạo, tận dụng khả năng ghi
nhớ và hồi tưởng những kiến thức đã ghi nhớ. Học sinh có thể thể hiện nội dung bài
học theo cách của mình qua các từ khóa, từ chủ đề trung tâm đến các ý lớn đến các
ý nhỏ, qua đó phát triển năng lực tri thức, khả năng hệ thống hóa kiến thức, khả
năng sáng tạo, khả năng liên hệ và vận dụng tri thức vào cuộc sống. Khác với cách
ghi chép thông thường sơ đồ tư duy giúp chúng ta tự do suy nghĩ và phát huy tiềm
năng sáng tạo của bộ não. Học sinh không còn thụ động ngồi nghe giáo viên giảng
bài rồi ghi bài một cách máy móc mà trái lại các em sáng tạo ra “tác phẩm” của
Về phía giáo viên:
*. Thứ nhất: Giáo viên phải có sự chuẩn bị thật kĩ lưỡng như: nghiên cứu các tài
liệu về phương pháp, kĩ năng sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử; tải và sử
dụng thành thạo phần mềm ImindMap để thiết kế sơ đồ tư duy; luyện tập vẽ thủ
công sơ đồ tư duy trên giấy, bảng; lựa chọn nội dung bài học phù hợp để sử dụng sơ
đồ tư duy; soạn bài và thiết kế bài giảng theo sơ đồ tư duy; lập kế hoạch hướng dẫn
học sinh các bước vẽ sơ đồ tư duy hoặc cách ghi chép bài bằng sơ đồ tư duy, cách
đọc sơ đồ tư duy.
*. Thứ hai:Giáo viên phải hướng dẫn học sinh cách lập sơ đồ tư duy lịch sử
- Các bước lập sơ đồ tư duy:
Kiến thức lịch sử vô cùng lớn, bởi vậy tùy vào mức độ tư duy của từng học sinh
sẽ có một cách lập sơ đồ khác nhau. Có thể vẽ sơ đồ theo nhiều dạng khác nhau
như hình cây, hình tòa tháp…. Học sinh sử dụng những đường vẽ, màu sắc, mũi
tên, kí hiệu, nhánh rẽ ….để thể hiện sự kết nối các ý tưởng trong sơ đồ tư duy. Bằng
cách cá nhân hóa sơ đồ tư duy với những thiết kế riêng của mỗi học sinh, học sinh
sẽ xây dựng được những mối liên hệ trực quan giữa những ý tưởng giúp học sinh
nhớ và hiểu kiến thức lâu hơn.
Có nhiều cách thiết lập sơ đồ tư duy, nhưng về cơ bản giáo viên nên định hướng
cho học sinh theo những bước cơ bản như sau:
Bước 1: Viết “từ khóa và hình ảnh ở trung tâm” (gọi gốc hoặc cây). Hình ảnh ở
trung tâm sẽ giúp học sinh tập trung được vào chủ đề, tạo ra hưng phấn
Bước 2: Vẽ các “nhánh chính nối với hình ảnh (từ khóa) ở trung tâm”. Với các
nhánh học sinh luôn phải sử dụng màu sắc để kích thích bộ não. Màu sắc còn giúp
học sinh phân biệt được các vấn đề một cách rõ ràng. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý
học sinh không được lạm dụng quá nhiều màu sắc sẽ khiến học sinh bị rối mắt.
Trong một sơ đồ chỉ nên sử dụng từ 2 đến 3 màu phân theo bậc cụ thể, không nên
vẽ màu tùy hứng sẽ ảnh hưởng đến việc hệ thống lại chuỗi kiến thức
Bước 3: Viết “từ khóa” cho từng nhánh chính. Trên sơ đồ tư duy chỉ nên viết từ
khóa hoặc cụm từ khóa quan trọng, không nên viết quá dài dòng, nhìn sẽ bị rối mắt
và tạo ra cảm giác ngại đọc lại.Việc chỉ ghi những từ khóa chính giúp học sinh có
chính đến nhánh con, hết nhánh chính này mới sang nhánh chính kia. Dùng các từ
khóa trên nhánh chính đề thuyết trình, gợi mở những kiến thức khác của bài học.
*. Thứ tư: Giáo viên phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi với nhiều cấp độ khác
nhau. Khi gọi học sinh trình bày sơ đồ phải chú ý đặt câu hỏi căn cứ theo nội dung
sơ đồ tư duy của học sinh. Khi sắp xếp vẽ sơ đồ theo nhóm thì trong nhóm đó phải
có học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu để học sinh hỗ trợ lẫn nhau.
*.Thứ năm: Giáo viên căn cứ vào tình hình thực tiễn: năng lực học sinh đặc biệt
là nội dung của bài học để vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học bài học lịch sử. Giáo
viên không nên cứng nhắc trong việc sử dụng phương pháp dạy học, nên vận dụng
đa dạng các phương pháp kết hợp với sơ đồ tư duy.
Trong quá trình thực hành vẽ sơ đồ hệ thống hóa kiến thức giáo viên nên động
viên, khích lệ học sinh tự vẽ để học sinh phát huy tốt nhất các năng lực tư duy của
mình.
Về phía học sinh:
*. Thứ nhất: Học sinh phải đọc sách giáo khoa và chuẩn bị bài trước ở nhà thật kĩ,
nắm những nội dung cơ bản của bài học ( tên bài, chủ đề, các mục lớn, các tiểu mục
nhỏ, các kiến thức cơ bản trong bài, các từ khóa hoặc cụm từ khóa…), thực hiện
các yêu cầu của giáo viên khi được giao bài tập chuẩn bị sơ đồ hóa kiến thức cho
bài học.
*. Thứ hai: Học sinh phải nắm được các yêu cầu để lập sơ đồ tư duy, có các dụng
cụ để thực hiện vẽ sơ đồ tư duy như: giấy, bút chì, hộp bút màu,..
13
*. Thứ ba: Học sinh phải biết vận dụng trí tưởng tượng, phải biết chọn lọc từ khóa,
hình ảnh trung tâm, tự vẽ các nhánh theo tưởng tượng, sử dụng các cụm từ ngắn, từ
viết tắt để vẽ sơ đồ tư duy theo ý của riêng mình, sao cho dễ học, dễ nhớ nhất.
3.3. Tổ chức thực hiện:
Vận dụng phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy vào thiết kế bài học lịch sử lớp
12, tiết 1- bài 1: Sự hình thành trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ
Thế giới được phân chia thành những khu vực ảnh hưởng khác nhau là do chi
phối bởi sự kiện lịch sử nào?
Hãy cho biết những hiểu biết của mình về những sự kiện đó?
Em biết gì về tổ chức Liên hợp quốc, nêu một số cơ quan của Liên hợp quốc
đang hoạt động ở Việt Nam và những đóng góp của nó?
Để trả lời được những câu hỏi trên , chúng ta cùng tìm hiểu nội dung
Bài 1- tiết 1: Sự hình thành trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới
thứ hai(1945-1949).
B. Hoạt động hình thành kiến thức:
Mục tiêu và phương thức hoạt động
Hoạt động 1: Cả lớp và cá nhân.
Tìm hiểu về hoàn cảnh, nội dung và ý
nghĩa của hội nghị Ianta.Sự thành lập
Liên hợp quốc.
- Giáo viên yêu cầu 1 học sinh nêu
các nội dung chính của bài học.
- Học sinh nêu, giáo viên chốt nội
dung và ghi tên các nội dung lớn của
bài lên bảng:
Hoạt động 2: Chia nhóm
Gv: phát phiếu học tập để học sinh
hoàn thiện và giao nhiệm vụ cho từng
nhóm chịu trách nhiệm vẽ nội dung
Gợi ý sản phẩm
I. Hội nghị Ianta (2-1945) và những
thoả thuận của ba cường quốc
*. Hoàn cảnh triệu tập
- Đầu năm 1945, CTTG II sắp kết thúc,
nhiều vấn đề bức thiết đặt ra:
-Ý nghĩa của hội nghị?
Như vậy, qua câu hỏi gợi ý của
giáo viên học sinh sẽ nắm được nội
dung của nhánh thứ nhất sẽ gồm có 3
nhánh là: Hoàn cảnh, nội dung( quyết
định quan trọng) và ý nghĩa( hệ quả)
của hội nghị Ianta.
Học sinh theo dõi SGK, trả lời các
câu hỏi để hoàn thiện vào nội dung
của các nhánh con.
các nước thắng trận.
=> từ ngày 4-11/2/1945, một hội nghị
quốc tế được triệu tập tại Ianta (LX) với
sự tham sự của nguyên thủ ba cường
quốc:Liên Xô, Mĩ, Anh.
Mục 2: Sự thành lập Liên hợp quốc
Để học sinh nhóm 3 xác định đúng
các nhánh con trong sơ đồ tư duy của
mình giáo viên cũng gợi ý thông qua
các câu hỏi:
- Sự thành lập tổ chức Liên hợp
quốc?
- Mục đích hoạt động?
*. Sự thành lập
từ 25/4 - 26/6/1945, hội nghị quốc tế
gồm đại biểu của 50 nước họp tại Xan
Phranxixcô (Mĩ) đã thông qua Hiến
- Nguyên tắc hoạt động?
- Vai trò của Liên hợp quốc?
Học sinh căn cứ vào SGK, trả lời
các câu hỏi để hoàn thiện vào nội
dung của các nhánh con.
Hoạt động 3. Cả lớp và cá nhân
Sau khi HS hoàn thiện sơ đồ của
nhóm mình, Giáo viên gọi đại diện
nhóm lên trình bày nội dung theo sơ
đồ tư duy đã vẽ, nhóm khác bổ sung.
Sau đó GV nhận xét và chốt ý bằng sơ
đồ đã chuẩn bị sẵn để HS đối chiếu.
(sơ đồ trang 17,18,19).
- phát triển các mối quan hệ quốc tế giữa
các nước trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc
bình đẳng và quyền tự quyết của các dân
tộc.
*. Nguyên tắc hoạt động
- Bình đẳng chủ quyền giữa các quốc
gia và quyền tự quyết của các dân tộc.
- Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập
chính trị của các nước
- Không can thiệp vào công việc nội bộ
của bất kì nước nào
- Giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng
biện pháp hòa bình
- Chung sống hòa bình và sự nhất trí
giữa 5 nước lớn (Liên Xô, Mĩ, Anh,
Pháp, và TQ) (nguyên tắc này có ý
.
19
20
3.4. Thực nghiệm sư phạm
3.4.1. Tiến trình thực nghiệm:
Để thử nghiệm phương pháp dạy học nêu trên, tôi đã vận dụng thực nghiệm ở
hai lớp 12D2, 12D3 trường THPT Chu Văn An( đây là hai lớp ôn tổ hợp KHXH,
trình độ của hai lớp như nhau).
Lớp 12D3 là lớp thực nghiệm dạy theo sơ đồ tư duy như đã trình bày ở trên.
Lớp 12D2 là lớp đối chứng dạy theo phương pháp truyền thống, giáo viên giảng,
củng cố kiến thức, học sinh nghe và ghi chép không sử dụng sơ đồ tư duy trong
giảng dạy.
. Sau 2 tiết dạy tôi kiểm tra chất lượng dạy học bằng cách cho học sinh cả lớp đối
chứng và lớp thực nghiệm làm bài kiểm tra trắc nghiệm , đánh giá trong thời gian
15 phút sau tiết học.
3.4.2. Kết quả thực nghiệm
Sau khi chấm bài kiểm tra đúng theo thang điểm đã quy định, xếp loại học lực theo
các mức: giỏi, khá, trung bình, yếu – kém, tôi thu được kết quả thực nghiệm như sau:
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Chất lượng dạy học ở lớp thực nghiệm cao hơn lớp đối chứng, học sinh ở lớp
thực nghiệm nắm vững kiến thức hơn lớp đối chứng.
Ở lớp thực nghiệm không khí học tập rất sôi nổi, hứng thú, tiếp thu bài nhanh và
hiểu bài sâu sắc.Ngược lại với lớp thực nghiệm, ở lớp đối chứng, các em chăm chú
nghe giảng và ghi chép.Các em tham gia xây dựng bài một cách chiếu lệ, không khí
lớp học buồn tẻ, nặng nề dẫn tới hiệu quả giờ học không cao.Qua thực tế cho thấy,
việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử để gây hứng thú học tập cho học
sinh ở trường phổ thông là điều cần thiết bởi nó mang lại hiệu quả cao trong dạy
học.
21
PHẦN III
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
1.Kết luận:
Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học nói chung, trong dạy học lịch sử nói riêng
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối việc hình thành kiến thức lịch sử,qua đó giáo
dục tư tưởng, tình cảm và phát triển toàn diện học sinh. Đặc trưng của môn lịch sử
là dạy những điều đã qua không tái diễn trở lại.Vì vậy sử dụng sơ đồ tư duy trong
dạy học lịch sử là cần thiết.
Chương trình sách giáo khoa phổ thông hiện nay đổi mới về nội dung, phương
pháp biên soạn để giúp học sinh học tập lịch sử dễ dàng, sinh động và hấp dẫn hơn.
Song bản thân sách giáo khoa còn nhiều nội dung trùng lặp giữa các môn học. Do
vậy trong quá trình dạy học, giáo viên phải nắm chắc nội dung kĩ năng và vận dụng
những biện pháp sử dụng để gây hứng thú học tập lịch sử cho học sinh thì sẽ góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn. Sử dụng sơ đồ tư duy có hiệu quả
không chỉ giúp học sinh nắm kiến thức sâu sắc, mà còn phát triển kĩ năng học tập.
Học lịch sử bằng sơ đồ tư duy là phương pháp học tập đạt hiệu quả cao, vì sơ
đồ tư duy đơn giản hóa nội dung bài học, giải quyết được vấn đề quá tải kiến thức.
Người viết sáng kiến
Lê Thị Hường
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Sách giáo khoa Lịch sử lớp 12- Phan Ngọc Liên( Tổng chủ biên)- NXB Giáo
dục.
2. Sách giáo viên Lịch sử lớp 12- Phan Ngọc Liên( Tổng chủ biên)- NXB Giáo dục.
3.Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Lịch sử.
4. Sơ đồ tư duy- Tony Buzan- NXB Tổng hợp TP HCM.
24