SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT THẠCH THÀNH 4
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH HỢP VÀ LỒNG
GHÉP GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP
11 TRƯỜNG THPT THẠCH THÀNH 4 ĐỂ NÂNG CAO KẾT
QUẢ DẠY HỌC: BÀI 5 - XÁC SUẤT CỦA BIẾN CỐ, SGK
ĐẠI SỐ VÀ GIẢI TÍCH 11
Người thực hiện: Lê Kim Hoa
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Toán
THANH HOÁ NĂM 2019
MỤC LỤC
Trang
1. Mở đầu
3
1.1. Lý do chọn đề tài.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
3
toán xác suất
Dạng 1: Hướng dẫn học sinh giải các bài toán xác suất có không gian mẫu được 8
mô tả cụ thể
Dạng 2: Hướng dẫn học sinh giải các bài toán xác suất có không gian mẫu được 6
mô tả trừu tượng.
Một số bài luyện tập gắn liền với thực tiễn
10
Phần II: Sử dụng các quy tắc tính xác suất để giải các bài toán xác suất.
18
Các bài tập tự rèn luyện kỹ năng
21
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
22
1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài.
Toán học ra đời để giải quyết nhiều vấn đề trong đời sống, khoa học kỹ thuật.
Nhờ tính gắn liền với thực tế nên Toán học luôn mang lại niềm say mê hứng thú cho
người học. Lý thuyết xác suất được ứng dụng rất nhiều trong các lĩnh vực khoa học tự
2
những năm học sau và là tài liệu tham khảo cho các bạn bè đồng nghiệp trong nghiên
cứu dạy học tích hợp và giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Củng cố khắc sâu các khái niệm và các quy tắc cơ bản của xác suất, các bài toán xác
suất thông qua các bài tập mang tính thực tiễn, tích hợp liên môn cho học sinh lớp 11
khối THPT, đồng thời giáo dục kỹ năng sống cho các em.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu sách giáo khoa, sách tham khảo, các tài
liệu liên quan khác, khai thác trên mạng …
- Phương pháp quan sát: Quan sát quá trình dạy và học tại trường PTTH Thạch Thành
4.
3
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thao giảng dự giờ tham khảo các ý kiến đóng
góp của đồng nghiệp, Kết hợp linh hoạt các phương pháp dạy học cho học sinh khối
11 và một số lớp 12 ôn thi THPT quốc gia sau đó kiểm tra đánh giá trình độ nhận
thức, kỹ năng giải toán của học sinh các lớp dạy.
1.5 Những điểm mới của SKKN.
- Đề tài này là phần nghiên cứu tiếp theo của đề tài “ Một số biện pháp giúp học sinh
khắc phục lỗi thường gặp khi giải các bài toán đếm trong chương II: Tổ hợp – Xác
suất, sgk đại số và giải tích 11” mà tôi đã áp dụng từ năm 2016. Với mục đích giúp học
sinh giải thật tốt toán xác xuất. Từ khi tôi áp dụng hai đề tài này vào thực tiễn dạy học
tôi thấy các em đã phát huy rất tốt tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong
giải toán xác suất, tự tin giải quyết các bài toán xác xuất có tính liên môn và tính thực
tiễn.
2. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lý luận.
Ý niệm về xác xuất có từ hàng nghìn năm trước thông qua các trò chơi đỏ đen
nhưng lý thuyết xác suất được Pascal và Fermat bắt đầu nghiên cứu từ thế kỷ 16,
Khá
Trung
Yếu
Kém
4
sinh
11B1
49
11B2
36
11B5
41
3
6%
1
2.8%
0
0%
9
Do đó vấn đề dạy học chủ đề Xác suất cần được nghiên cứu rèn luyện cho học
sinh nắm vững khái niệm về phép thử, biến cố, các phép toán trên các biến cố, cách
xác định đúng không gian mẫu, các kết quả thuận lợi của biến cố, công thức cộng,
công thức nhân xác suất với mức độ cơ bản, phổ thông phù hợp năng lực học sinh
THPT Thạch Thành 4.
2.3 Các giải pháp
Trước tiên để giải được bài toán xác suất tôi chú trọng việc ôn tập tốt cho học
sinh về quy tắc cộng, quy tắc nhân, hoán vị, tốt hợp và chỉnh hợp. Phần nay tôi đã làm
trong SKKN “Một số biện pháp giúp học sinh khắc phục các lỗi thường gặp khi
giải bài toán đếm trong chương II: Tổ hợp – Xác suất, SGK Đại số và Giải tích 11”
năm học 2017- 2018. Sau đây là nội dung của sáng kiến kinh nghiệm: “Sử dụng
phương pháp dạy học tích hợp và lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
lớp 11 trường THPT Thạch Thành 4 để nâng cao kết quả dạy học: bài 5- Xác suất
của biến cố, sgk Đại số và giải tích 11”
PHẦN I: SỬ DỤNG ĐỊNH NGHĨA VÀ CÁC KIẾN THỨC CƠ BẢN CỦA XÁC
SUẤT GIẢI CÁC BÀI TOÁN XÁC SUẤT
Yêu cầu học sinh tư duy lại các kiến thức cơ bản về công thức cổ điển của xác suất
theo sơ đồ:
Xác suất
5
Phép thử ngẫu
nhiên: là phép
thử mà ta không
đoán trước được
kết quả của nó, dù
đã biết tập hợp tất
n(Ω )
n(A) là số các
phần tử của A hay
là số các kết quả
thuận lợi cho biến
cố A.
n(Ω) số các kết
quả có thể xảy ra
của phép thử.
Tôi hệ thống hoá lại cho các em khái niệm về phép thử, không gian mẫu, biến
cố, tập hợp các kết quả thuận lợi của biến cố, công thức xác suất cổ điển , giải thích
thông qua các ví dụ từ mô hình cụ thể đến các mô hình trừu tượng. Sau đó hướng dẫn
học sinh tìm xác suất của biến cố bằng cách sử dụng công thức xác suất cổ điển .
Tôi xây dựng hệ thống bài tập có liên hệ trực tiếp trong tình hình thực tế, các bài
tập có dùng kiến thức liên môn, từ dễ đến khó và có hệ thống liên kết giữa các kiến
thức cũ và mới để học sinh có hứng thú học, rèn luyện kỹ năng tính xác suất , say mê
tìm hiểu gợi mở để các em phát triển mở rộng bài toán.
Có những phép thử mà không gian mẫu đơn giản có thể xác định bằng cách mô
tả cụ thể, liệt kê các phần tử nhưng cũng có những không gian mẫu trừu tượng xác
định bằng các phép toán tổ hợp. Do đó, yêu cầu học sinh nắm vững các dạng toán tổ
hợp thường gặp.
Dạng 1: Hướng dẫn học sinh giải các bài toán xác suất có không gian mẫu được
mô tả cụ thể.
Bài ví dụ 1: Gieo ngẫu nhiên một con xúc xắc sáu mặt cân đối và đồng chất. Tính :
a, Xác suất xuất hiện của mỗi mặt là bao nhiêu?
b, Xác suất xuất hiện mặt có số chấm không lớn hơn 3.
Phân tích bài toán:
- Không gian mẫu của phép thử này được mô tả bằng hình ảnh như sau:
NS
SN
Các kết quả có thể xảy ra
Hướng dẫn học sinh:
Không gian mẫu Ω = {NN,SN,NS,SS} ⇒ n(Ω) = 4 . A = {SN,NS} ⇒ n(A)=2 ⇒ P( A) =
Xin đài âm dương
1
4
Bắt thăm bằng cách 1 gieo đồng xu
*Từ xa xưa người dân thường dùng cách gieo hai đồng tiền để xin đài âm
dương trong các nghi lễ tâm linh, và quan niệm nếu hai mặt đồng tiền đều sấp thì
không đạt, hai mặt đồng tiền đều ngửa là còn thiếu sót, một mặt sấp một mặt ngửa là
đạt. Xác suất để được “nhất âm nhất dương” là 50% xác suất này cao gấp đôi 2
trường hợp còn lại, thầy bói sẽ có lợi nhất khi chọn phương án này để xin đài trong
các trò mê tín dị đoan.
Bài ví dụ 3: Trong buổi khai trương một của hàng, nhằm thu hút sự quan tâm của mọi
người, chủ cửa hàng đã đưa ra một trò chơi quay số may mắn với các phần thưởng
như trong hình bên dưới. Mỗi người khách được quay 1 lần, vòng tròn dừng ở đâu thì
7
giải thưởng người chơi nhận được là tương ứng. Bà tâm cũng tham gia chơi với hy
vọng may mắn mỉm cười mang về được giải thưởng có giá trị cao . Bà Tâm mong
4
5
6
( Đáp số: 6! = 720. cách xếp)
8
(2) Có bao nhiêu cách xếp 3 bạn nam và 3 bạn nữ và 6 ghế kê theo hàng ngang,
biết rằng nam nữ ngồi cạnh nhau?
Có 2 trường hợp xảy ra là: nam ngồi vị trí số 1 và nữ ngồi vị trí số 1:
Nam
Nữ
nam
Nữ
nam
Nữ
Nữ
nam
72
1
144 1
= = 0,1. P ( B) =
= = 0, 2.
720 10
720 5
Kết luận: Bài toán này gắn liền với các hoạt động hằng ngày của các em. Để làm
được bài này các em cần làm tốt các bài toán về tổ hợp.
Bài ví dụ 3: Cô giáo tổ chức thi vấn đáp cho học sinh lớp 11 B1. Cô có 30 đề thi trong
đó có 10 câu hỏi về hình học, 20 câu hỏi về đại số. Tìm xác suất để:
a) Một học sinh bắt được câu hỏi về đại số.
b) Một học sinh bắt hai câu hỏi, được ít nhất một câu hỏi về đại số.
Phân tích bài toán:
Rõ ràng là trong bài toán này ta không thể sử dụng phương pháp liệt kê vì số phần tử
của biến cố là tương đối lớn. Nhưng ta có thể dùng kiến thức tổ hợp để đếm.
- Không gian mẫu là chọn 1 câu hỏi trong số 30 câu hỏi. Mỗi cách chọn câu hỏi là một
tổ hợp chập 1 của 30.
- có 20 câu hỏi về đại số, chọn 1 câu trong số 20 câu.
- học sinh bắt hai câu hỏi, được ít nhất một câu hỏi về đại số, có hai trường hợp xảy ra
là: Học sinh bắt được 1 câu hỏi về đại số và 1 câu hỏi về hình học
Học sinh bắt được cả 2 câu hỏi về đại số.
Hướng dẫn học sinh:
1
a) Số kết quả có thể xảy ra là tổ hợp chập 1 của 30: n(Ω) = C30 .
9
tháng khác nhau.
Hướng dẫn học sinh: Không gian mẫu là chọn 12 người ngẫu nhiên có ngày sinh rơi
vào 12 tháng bất kỳ. Suy ra: n(Ω) = 1212.
Xét biến cố A: “12 người chọn ngẫu nhiên có ngày sinh rơi vào 12 tháng khác nhau”.
Số kết quả thuận lợi cho biến cố A là số các hoán vị của 12 phần tử: n( A) = 12!
Xác suất để 12 người được chọn ngẫu nhiên có ngày sinh rơi vào 12 tháng khác nhau
P ( A) =
12!
1212
MỘT SỐ BÀI LUYỆN TẬP MANG TÍNH THỰC TIỄN.
Bài 1: Gieo một đồng xu liên tiếp 4 lần, tính xác suất các biến cố sau:
A: “1 lần sấp 3 lần ngửa hoặc 1 lần ngửa 3 lần sấp”
B: “ 2 sấp 2 ngửa, hoặc 4 ngửa hoặc 4 sấp”
Hướng dẫn học sinh: Không gian mẫu có dạng:
Ω = {SSSS,SSSN,SSNS,SNSS,NSSS,SSNN,NNSS,SNSN,NSNS,SNNS,NSSN,NNNN,NNNS,
NNSN,NSNN,SNNN},n(Ω) = 2.2.2.2 = 16
A = {NNSS , SSNN , SNNS , NSSN , SNSN , NSNS , SSSS , NNNN } .
n( A) = 4 + 4 = 8. ⇒ P( A) =
8
= 0,5
16
B = {NSSS , SNSS , SSNS , SSSN , SNNN , NSNN , NNSN , NNNS } .
n( B ) = 6 + 2 = 8. ⇒ P( A) =
8
Các kết quả có thể xảy ra là: Ω = {00, 01, 02,...99} .
Số kết quả có thể xảy ra là: n(Ω) = 100.
11
Xác suất trúng số của ông A là: P( A) =
1
= 0, 01.
100
*Hành vi của ông A là hành vi đánh đề. Tuy tỷ lệ ăn của số đề rất cao, là 1 ăn 70,
nhưng xác xuất trúng đề là 1/ 100. Vậy nếu bỏ tiền vào trò này phần được chỉ có 1 mà
phần mất là 99. Hầu như tất cả người chơi sẽ mất tiền cho chủ đề. Do đó nhiều người
vì ham chơi số đề mà nợ nần mất nhà cửa tan vỡ hạnh phúc gia đình. Đây là hành vi
bị nhà nước nghiêm cấm. Từ bài toán trên các em đã nhận ra là không thể giầu lên
nhanh chóng từ việc chơi số đề, bản thân mình không tham gia vào và tuyên truyền
cho cộng đồng xung quanh mình hiểu rõ bản chất của việc chơi số đề?
Bài 3: Một vé xổ số do nhà nước phát hành có 6 chữ số. Khi quay số, nếu vé bạn mua
có số trùng hoàn toàn với kết quả thì bạn trúng giải đặc biệt. Nếu vé bạn mua có đúng
5 chữ số trùng với 5 chữ số của kết quả ( kể cả vị trí) thì bạn giành giải nhất. Bạn Nam
mua một vé xổ số.
a, Tính xác suất để bạn Nam trúng giải đặc biệt.
b, Tính xác suất để bạn Nam trúng giải nhất.
Một vé số do nhà nước phát hành
Hướng dẫn học sinh:
a, Số kết quả có thể là: 106 , và chỉ có một kết quả trùng với vé của Nam. Do đó
xác xuất trúng giải đặc biệt của Nam là
cho chủ đề, vào một số từ 00 đến 99. Mục đích của người chơi đề là làm sao số này
trùng vào 2 chữ số cuối cùng của giải xổ số do nhà nước phát hành trong ngày đó.
Khi xổ số quay, hai chữ số này được xác định (gọi là “đề về”), nếu số của bạn trùng,
bạn sẽ được 70 đồng (tức 70 lần số tiền đầu tư) và được chủ đề thanh toán tiền. Nếu
không trúng, bạn sẽ mất 1 đồng đặt cược lúc đầu. có mất chỉ mất 1 đồng, nhưng nếu
được thì gấp 70 lần. Và nữa là xác xuất trúng đề 1/ 100 là rất cao so với xác suất
trúng xổ số do nhà nước phát hành chính thức. Chơi số đề tác động tâm lý rất mạnh
vào ước mơ đổi đời, dễ chơi dễ trúng thưởng của bao người, càng mất càng ham gỡ,
may mắn trúng càng ham được đề. Vậy có ai giầu có nhờ chơi số đề không?
Vậy thực chất đánh đề có phải là một trò chơi đem lại nhiều hy vọng ?
Xét về mặt toán học mà nói, thì luật chơi đề rất thiệt cho ngươi chơi, ta hãy xét ví dụ
sau:
Giả sử ông A chơi đề ngày một lần, mỗi lần đều đặn 1 triệu đồng. Như vậy sau
6 năm, tính là 2000 ngày cho chẳn, ông A bỏ ra 2 tỷ. Mỗi lần chơi, xác xuất trúng là
1%. Như thế, trung bình ông A sẽ trúng 20 lần. Mỗi lần được 70 triệu, 20 lần là 1,4
tỷ, như vậy, trung bình ông A lỗ 600 triệu.
Tất nhiên, ông A sẽ nói “ờ thì trung bình là vậy, nhưng nhỡ tôi may thì sao ?”.
Nhưng toán học cũng tính được xác suất may mắn của ông A cũng chỉ cỡ 3%. Tức là
100 người thì có 3 người may mắn trúng đề, và ba ông may mắn này sẽ tha hồ khoác
lác về tài năng chơi số đề của mình.
Nhà nước phát hành xổ số và các nhà cái chuyên ôm số đề dĩ nhiên cũng dựa vào xác
suất trúng đề và xác suất may mắn để đưa ra tỷ lệ cược. Xác suất trúng càng bé thì
nhà cái đưa tỷ lệ càng cao, thu hút người chơi nhưng nhà cái không bao giờ lỗ, thậm
chí còn giầu to. Nếu mua vé số thì số tiền người mua bỏ ra được nhà nước dung vào
việc kiến thiết đất nước, còn chơi số đề chỉ có những cá nhân ghi số đề bất chính là
được lợi. Và chẳng có ai giầu lên bền vững nhờ chơi số đề cả.
Em có biết cơ may trúng xổ số còn thấp hơn khả năng bị sét đánh!
Bài 4: Một loại hình xổ số của Vietlott là Mega 6/45, người chơi sẽ chọn sáu bộ số từ
01-45 với hy vọng trúng các giải theo nhà cái quy định với cơ cấu giải thưởng rất cao
(hiện giải jackpot đã lên đến hàng trăm tỷ đồng) và do nguyên tắc tích lũy (giải không
người chơi đặt người chơi sẽ nhận được số tiền tương ứng với số lần xuất hiện của
mặt đã chọn.
Ông A có 10 đồng, ông định đặt 10 đồng này vào cửa tôm, hỏi xác xuất thắng cược
của ông là bao nhiêu?
Phân tích bài toán: Để ông A thắng cược thì cửa tôm phải xuất hiện ít nhất 1 lần:
- Trường hợp 1: Trong ba lần gieo cửa tôm chỉ xuất hiện 1 lần: có 1.6.6 = 36 .
- Trường hợp 2: Trong ba lần gieo cửa tôm xuất hiện 2 lần: có 1.1.6 = 36 .
- Trường hợp 3: Trong ba lần gieo cửa tôm xuất hiện cả 3 lần: có 1.1.1 = 1 .
14
Một bàn chơi bầu, cua...
Hướng dẫn học sinh: Gieo 3 con xúc sắc. Không gian mẫu có: n(Ω) = 6.6.6 = 216 .
Để ông A thắng cược thì cửa tôm phải xuất hiện ít nhất 1 lần:
Ta có n( A) = 36 + 6 + 1 = 43 . Xác suất thắng cược của ông A là:
P ( A) =
43
≈ 0, 2 .
214
* Một trò chơi thu hút rất nhiều người chơi nhưng xác xuất thắng cược của
người chơi chỉ là gần 0,2. Tức là 20 lần chơi mới có 1 lần thắng cược. Với xác suất
như vậy tiền sẽ rơi vào túi nhà cái, người chơi mà mong muốn kiếm được tiền từ trò
này thì không nên chút nào.
Ngày tết chắc trong các em cũng có nhiều bạn hay chơi bầu cua. Câu hỏi đặt
ra là nên cầm cái hay cầm quân khi chơi bầu cua? Chúng ta sẽ giải thích theo
phương diện toán học như sau:
Trò chơi bầu cua có 3 khối lập phương, mỗi khối có 6 mặt, mỗi mặt gồm các
Phân tích bài toán:
Bánh xe trò chơi Roulett
Hướng dẫn học sinh:
- Số các kết quả có thể xảy ra là n(Ω) = 37.
a, Gọi A là biến cố “ bánh xe dừng ở ô số 10”. Khi đó n( A) = 1.
Xác xuất để bánh xe dừng ở ô số 10 là: P( A) =
1
≈ 0, 027.
37
b, Gọi B là biến cố “ bánh xe dừng ở ô màu đỏ”. Khi đó n( B) = 18.
Xác suất để khi quay bánh xe dừng ở ô màu đỏ là: P( B) =
18
≈ 0, 49.
37
Kết luận: Chúng ta thấy xác xuất ở câu a là rất nhỏ, xác suất ở câu b gần 50%.
Vòng quay bánh xe trên người ta thường áp dụng để xây dựng các trò chơi ở hội chợ
hay chiếc nón kỳ diệu.
Trò chơi Roulette online cũng là một bánh xe có 37 ô. Có các kiểu đặt cược là 1 ô, đỏ
đen, nửa bàn, chẵn lẻ, góc, đôi, ba ... và người ta tính xác suất của từng kiểu cược
sau đó tùy vào xác xuất để đưa ra tỷ lệ cược nhằm thu hút người chơi mà nhà cái vẫn
có lợi. Ví dụ: Kiểu cươc 1 ô có xác suất gần 0,027 là bé nhất thì tỷ lệ cược lên tới 1
ăn 37. Còn kiểu cược đỏ đen có xác suất là 0,49 nên tỷ lệ cược là 1 ăn 1...Các em
16
216 36
- n( D) = 3.5 + 1 = 16 . Suy ra: P( D) =
16
2
=
≈ 0, 074.
216 27
Trò chơi lắc xúc sắc ( xí ngầu ) – một trò chơi cực hót trên casino trực tuyến mà các
bạn trẻ rất nhiều người tham gia
- Các ví dụ trên cho ta hiểu được xác suất thắng cược của các cửa đặt của casino
online là cược Tài/ sửu, cược đôi, cược ba, cược cặp số hay cược số cụ thể. Các nhà
cái sẽ sử dụng kết quả xác xuất các biến cố này để xây dựng tỷ lệ trả thưởng sao cho
móc túi được nhiều nhất của người chơi. Và vì không tính được xác suất chơi các cửa
nên người chơi thấy rất hấp dẫn, “ dễ ăn” sẵn sàng chi tiền vào, kết cục mất tiền mất
thời gian. Bộ phận rất lơn người trẻ đang giết thời gian đốt tiền bạc vào những trò
này nên qua bài học này các em hãy rút ra cho mình kỹ năng sống, tránh xa các game
cờ bạc online, casino sòng bài cũng như tuyên truyền cho những người xung quanh
hiểu rõ.
PHẦN II: SỬ DỤNG CÁC QUY TẮC TÍNH XÁC SUẤT GIẢI CÁC BÀI TOÁN
TÍNH XÁC SUẤT
17
Trước hết yêu cầu học sinh tư duy lại các loại biến cố hợp, biến cố giao các
biến cố xung khắc, biến cố độc lập, biến cố đối , và quy tắc tính xác suất theo sơ đồ
:
Sử dụng kiến thức môn sinh học viết phép lai để tìm xác suất sinh một đứa con bị
bệnh.
Quy ước gen: A: da bình thường; a: da bị bạch tạng.
Vì bố của họ đều bị bệnh nên có kiểu gen là aa. Kiểu gen này khi giảm phân sinh ra
giao tử a nên cả hai vợ chồng đều có kiểu gen Aa.
Ta có phép lai: P : Aa × Aa
G: A, a
A, a
F1 :
1
1
1
AA : Aa : aa
4
2
4
Vậy xác suất sinh đứa con bị bệnh là 0,25.
18
Hướng dẫn học sinh:
Quy ước gen: A: da bình thường; a: da bị bạch tạng.
Vì bố của họ đều bị bệnh nên có kiểu gen là aa. Kiểu gen này khi giảm phân sinh ra
giao tử a nên cả hai vợ chồng đều có kiểu gen Aa.
Ta có phép lai: P: Aa × Aa
G: A, a
A, a
P (C ) = P ( AB ) = P ( A).P ( B ) = 0, 2499 .
* Xã hội Việt Nam ta luôn có tư tưởng ngầm trọng nam khinh nữ, nhà nào cũng cố
sinh cho được con trai mới yên tâm. Trong khi người phụ nữa có đóng góp lao động
cho xã hội ngang bằng với nam giới.
19
Qua bài toán trên các em thấy nếu lần sinh đầu là con gái thì để lần sinh thứ hai là
con trai thì xác suất cũng chỉ 0,2499. Tức là chỉ gần 25% .Hệ lụy kéo theo là các gia
đình lựa chọn giới tính thai nhi, khi không được như mong muốn thì phá bỏ thai nhi
vô tội hoặc để sinh thì dằn vặt người phụ nữ rằng “ không biết đẻ” ảnh hưởng hạnh
phúc gia đình, an sinh xã hội. Bài toán trên cho ta thấy trường hợp này xác suất sinh
con trai thấp vậy thật không đáng để hy sinh sức khỏe của người phụ nữ, tiền bạc
kinh tế gia đình.
Các em là thế hệ trẻ có kiến thức khoa học, chính bản thân mình phải hiểu để tư
tưởng mình tiến bộ và tuyên truyền cho những người xung quanh để xã hội hiểu dần
loại bỏ tư tưởng lạc hậu, mang đến công bằng cho người phụ nữ.
Một bức tranh tuyên truyền về kế hoạch hóa gia đình
Bài ví dụ 3: Mạch có 2 bóng điện mắc nối tiếp hoạt động độc lập với nhau, với xác
suất mỗi bóng hỏng là 0,2. Tìm xác suất mạch không bị ngắt vì bóng hỏng.
Phân tích bài toán:
Sử dụng kiến thức vật lý về đoạn mạch mắc nối tiếp: Do hai bóng mắc nối tiếp
nên mạch bị ngắt nếu một trong hai bóng hỏng hoặc cả hai bóng đều hỏng.
Hướng dẫn học sinh:
Mạch không bị ngắt khi cả hai bóng đều sáng bình thường.
Gọi A là biến cố: “Bóng thứ nhất hỏng”. Vậy P(A)=0,2. A là biến cố: bóng thứ nhất
bình thường”. vì A và A là hai biến cố đối nhau nên P( A) = 1 − 0, 2 = 0,8.
( )
⇒ P ( A ) = 1 − P A = 1 − P ( B1 ) P ( B2 ) P ( B3 ) = 1 − ( 0, 49 ) ≈ 0,88
3
Bài ví dụ 5: Hai cầu thủ sút phạt đền.Mỗi nười đá 1 lần với xác suất làm bàm tương
ứng là 0,8 và 0,7.Tính xác suất để có ít nhất 1 cầu thủ làm bàn
Phân tích bài toán: Có ít nhất 1 cầu thủ làm bàn thì có 3 trường hợp xảy ra là: chỉ
cầu thủ thứ nhất ghi bàn, chỉ cầu thủ thứ 2 ghi bàn hoặc cả hai cầu thủ đều ghi bàn
Hướng dẫn học sinh:
Gọi A là biến cố cầu thủ thứ nhất làm bàn
B là biến cố cầu thủ thứ hai làm bàn
X là biến cố ít nhất 1 trong hai cầu thủ làm bàn
Ta có: X = ( A ∩ B) ∪ ( A ∩ B ) ∪ ( A ∩ B )
⇒ P ( X ) = P( A).P( B ) + P ( B).P( A) + P( A).P( B ) = 0,94 .
Có thể giải theo cách thứ hai sử dụng biến cố đối như sau:
Gọi A là biến cố cầu thủ thứ nhất làm bàn . Suy ra A là biến cố cầu thủ thứ nhất
không ghi bàn. P( A) = 1 − 0,8 = 0, 2
B là biến cố cầu thủ thứ hai làm bàn. Suy ra B là biến cố cầu thủ thứ hai không ghi
bàn. P( B ) = 1 − 0, 7 = 0,3
C là biến cố có ít nhất 1 cầu thủ ghi bàn. Khi đó C là biến cố không cầu thủ nào ghi
được bàn thắng.
Khi đó
P (C ) = P ( A).P ( B ) = 0, 2.0,3 = 0, 06.
P (C ) = 1 − P (C ) = 1 − 0, 06 = 0,94.
Bài tập tự luyện:
Bài 1: Gieo đồng thời ba con xúc sắc cân đối và đồng chất. Kết quả của mỗi lần gieo
D. 2/5.
Bài 6: Chọn ngẫu nhiên 6 số nguyên dương trong tập {1;2;...;10} và sắp xếp chúng
theo thứ tự tăng dần. Gọi P là xác suất để số 3 được chọn và xếp ở vị trí thứ 2. Khi
đó P bằng:
A.
1
.
60
B.
1
.
6
C.
1
3
.
D.
1
2
.
đã bị bỏ sót. Xét xem có thiếu hay thừa dữ kiện của bài toán không.
Đưa thêm một số bài tập về nhà dạng trắc nghiệm cho các em tự rèn luyện.
Như vậy qua hệ thống bài tập đơn giản nhưng cơ bản tôi đã cho các em kỹ năng tính
toán các bài tập xác suất cũng như áp dụng chúng vào các bài toán thực tế trong đời
sống hàng ngày, từ đó rút ra cho mình những kỹ năng sống cơ bản. Nhìn nhận đúng về
các tệ nạn các tư tưởng cổ hủ lạc hậu, có lối sống tích cực hơn, lan tỏa những điều tốt
đẹp nhất đến cộng đồng xung quanh.
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
- Sáng kiến này tôi đã nghiên cứu và áp dụng được 2 năm. Qua quá trình
nghiên cứu đã giúp tôi nghiên cứu sâu về dạng toán Tổ hợp Xác suất làm tăng khả
năng phân tích vấn đề suy luận tư duy logic. Truyền thụ kiến thức về phần này cho
học sinh thật hay thật sáng tạo.
- Sau 2 năm áp dụng tôi thấy chất lượng bài kiểm tra chương II tổ hợp _ Xác
suất, sgk Đại số và Giải tích 11 được nâng lên rõ rệt ngay trong kết quả bài kiểm tra
của từng năm học như sau:
Năm học: 2017- 2018.
Lớp
11A
2
11A
3
11A
6
Số
học
sinh
43
38
40
Kém
0
0%
5
13%
13
32.5%
0
0%
0
0%
4
10%
22
Năm học: 2018- 2019.
Số
học
sinh
Lớp
11B
1
11B
2
14
30%
18
50%
Yếu
Kém
0
0%
3
6%
5
14%
0
0%
0
0%
2
5%
- Khi tôi áp dụng cách dạy này vào các tiết dạy đa số học sinh hiểu bài, khi gặp một
tình huống thực tiễn rất hứng thú tìm hiểu, tự đưa ra câu hỏi về xác xuất và tự giải đáp
được một cách đúng đắn. Luyện tập cho các em thói quen phân tích tư duy logic, lập
luận vấn đề vấn đề, qua thảo luận tranh luận hình thành kỹ năng lập luận chặt chẽ khi
giải toán, pháp triển khả năng trình bày diễn đạt trước tập thể. Từ đó yêu thích dạng
toán này, tìm thấy sự thú vị kỳ diệu của nó và mang đến một kết quả học tập tốt hơn.
3. Kết luận và kiến nghị.