Luận văn thạc sỹ - Năng lực đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên - Pdf 57

0

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
--------------------

PHẠM NGỌC KHẢI

NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐIỆN BIÊN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

Hà Nội - 2017


1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
--------------------

PHẠM NGỌC KHẢI

NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐIỆN BIÊN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế và chính sách

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. LÊ THỊ ANH VÂN



MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
PHẦN MỞ ĐẦU......................................................................................................1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CỦA ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC
CẤP XÃ.................................................................................................................. 10
1.1. Đội ngũ công chức cấp xã...............................................................................10
1.1.1. Khái niệm về đội ngũ công chức cấp xã...................................................10
1.1.2. Đặc điểm của đội ngũ công chức cấp xã..................................................13
1.1.3. Vai trò của đội ngũ công chức cấp xã.......................................................14
1.2. Năng lực đội ngũ công chức cấp xã...............................................................15
1.2.1. Khái niệm năng lực đội ngũ công chức cấp xã.........................................15
1.2.2. Những yếu tố cấu thành năng lực đội ngũ công chức cấp xã...................16
1.2.3. Tiêu chí đánh giá năng lực đội ngũ công chức cấp xã..............................26
1.2.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực đội ngũ công chức cấp xã.........30
Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CỦA ĐỘI NGŨ CÔNG
CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN..33
2.1. Giới thiệu về huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.............................................33
2.1.1. Điều kiện tự nhiên của huyện Điện Biên..................................................33
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Điện Biên.......................................34
2.1.2. Giới thiệu về bộ máy hành chính cấp xã của huyện Điện Biên................35
2.2. Thực trạng năng lực đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn huyện Điện
Biên, tỉnh Điện Biên...............................................................................................36
2.2.1. Phân tích năng lực của từng công chức cấp xã trên địa bàn huyện...........36
2.2.2. Phân tích cơ cấu của đội ngũ công chức cấp xã.......................................58



Chữ viết tắt
CBCC
CCCX
CNH, HĐH
HĐND
NSNN
QLNN
UBND

Ý nghĩa
Cán bộ công chức
Công chức cấp xã
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Hội đồng nhân dân
Ngân sách nhà nước
Quản lý nhà nước
Ủy ban nhân dân


DANH MỤC BẢNG
BẢNG
Bảng 1.1:

Tiêu chí đánh giá năng lực của cá nhân CCCX theo Nghị định Số
56/2015/NĐ-CP.................................................................................27

Bảng 2.1:

Đánh giá kiến thức chuyên môn của Trưởng công an xã...................38


Đánh giá kỹ năng làm việc của Chỉ huy trưởng quân sự xã...............49

Bảng 2.10:

Đánh giá kỹ năng làm việc của công chức văn phòng - thống kê......51

Bảng 2.11:

Đánh giá kỹ năng làm việc của công chức địa chính - nông nghiệp xây dựng và môi trường.....................................................................52

Bảng 2.12:

Đánh giá kỹ năng làm việc của công chức tài chính - kế toán...........53

Bảng 2.13:

Đánh giá kỹ năng làm việc của công chức tư pháp - hộ tịch..............54

Bảng 2.14:

Đánh giá kỹ năng làm việc của công chức văn hóa - xã hội..............55

Bảng 2.15:

Đánh giá hành vi, thái độ, phẩm chất, đạo đức của CCCX................57

Bảng 2.16:

Cơ cấu đội ngũ CCCX giai đoạn 2012-2016 xét theo đội tuổi...........58


đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống.
Đây cũng là nơi gần dân nhất, tiếp thu những ý kiến của nhân dân để phản ánh cho
Đảng và Nhà nước hoàn thiện chính sách, pháp luật. Trên thực tế, CBCC cấp xã
phải giải quyết một khối lượng công việc rất lớn, đa dạng và phức tạp, liên quan đến
mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở cơ
sở. Do đó, nếu đội ngũ CBCC sa sút về phẩm chất, không đủ năng lực công tác sẽ
gây những hậu quả tiêu cực và nghiêm trọng về nhiều mặt đối với mỗi địa phương
nói riêng và cả nước nói chung.
Lý luận và thực tiễn đã chứng minh, việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC
chính quyền cấp xã là nhân tố then chốt trong xây dựng hệ thống chính quyền vững
mạnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Cấp xã là gần gũi dân nhất, là nền tảng của
hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi”. Xây dựng đội
ngũ CBCC chính quyền cấp xã là nhân tố then chốt để thực hiện nhiệm vụ trọng
tâm là phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện thành công
chương trình cải cách nền hành chính nhà nước và xây dựng nông thôn mới, góp
phần ổn định hệ thống chính trị và chất lượng bộ máy nhà nước. Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đề ra mục tiêu: “Xây dựng đội ngũ cán bộ có bản
lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham
nhũng, lãng phí, kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có tư
duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; có tinh thần đoàn kết, hợp tác, ý
thức tổ chức kỷ luật cao và phong cách làm việc khoa học, tôn trọng tập thể, gắn bó
với nhân dân, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đội ngũ cán bộ phải đồng
bộ, có tính kế thừa và phát triển, có số lượng và cơ cấu hợp lý”. Chương trình tổng


2
thể cải cách nền hành chính nhà nước đến năm 2020 cũng xác định, nâng cao chất
lượng đội ngũ CBCC là một trong bảy chương trình hành động chiến lược góp phần

2. Tổng quan nghiên cứu
Năng lực đội ngũ công chức cấp xã không còn là vấn đề mới, ở nhiều nước
trên thế giới đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong bộ máy nhà nước là chủ đề
nghiên cứu của nhiều môn khoa học như: Chính trị học, Quản lý công... nhưng chất
lượng đội ngũ công chức luôn là đề tài có tính thời sự và cũng không kém phần
phức tạp. Vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, hoạch định chính
sách và hoạt động thực tiễn tập trung đi sâu nghiên cứu, tìm tòi, khảo sát. Đã có
nhiều công trình được công bố dưới những góc độ, mức độ, hình thức thể hiện khác
nhau, tiêu biểu của các tác giả:
PGS Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (2003), Luận cứ khoa học cho việc
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện
đại hóa đất nước, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nội dung luận cứ đưa ra cơ sở
lý luận trong sử dụng tiêu chuẩn cán bộ của Đảng phù hợp với từng giai đoạn cách
mạng, các quan điểm và phương pháp trong việc nâng cao chất lượng công tác cán
bộ. Điểm nổi bật của luận cứ là việc đưa ra nội dung “tiêu chuẩn hóa cán bộ” đây là
một quan điểm đổi mới trong công tác cán bộ mà tác giả có thể vận dụng và kế thừa
trong luận văn của mình để đưa ra các tiêu chuẩn hóa công chức cấp xã phù hợp với
huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên trong xu thế phát triển của thời đại và đặc trưng
của huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên.
Nâng cao năng lực đội ngũ công chức cấp xã trong giai đoạn hiện nay. Luận
văn Thạc sĩ Quản lý Hành chính công, Hà Nội, 2014 - Đỗ Thị Thu Hằng; Luận văn
đã đề cập đến chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức ở cấp xã và phản
ánh, nhìn nhận ở góc độ chung.
Bùi Tiến Dũng (2011), “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chính quyền
địa phương ở tỉnh Quảng Ninh”, Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công. Luận
văn đề cập một cách tổng thể quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức chính
quyền địa phương các cấp ở tỉnh Quảng Ninh.
Lê Thị Lý (2003); Xây dựng đội ngũ Cán bộ, Công chức cấp xã trước yêu
cầu đổi mới, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Quốc gia, Hà Nội. Luận văn đề cập một
cách toàn diện quá trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức trong thời kỳ đổi mới.

Để thực hiện được mục tiêu đó, đề tài xác định những nhiệm vụ nghiên cứu
cụ thể sau:


5
Thứ nhất, xác định khung nghiên cứu về năng lực đội ngũ công chức cấp xã.
Thứ hai, phân tích thực trạng năng lực đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn
huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên trong giai đoạn 2012-2016. Qua đó, đánh giá
những điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân của những điểm yếu trong năng lực
đội ngũ công chức này.
Thứ ba, đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
năng lực đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
đến năm 2020.
4. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, luận văn tập trung trả lời những câu
hỏi chủ yếu sau:
- Đội ngũ công chức cấp xã là gì? Vai trò và đặc điểm của đội ngũ công chức
cấp xã?
- Năng lực của đội ngũ công chức cấp xã là gì?
- Năng lực của đội ngũ công chức cấp xã được cấu thành từ những yếu tố cơ
bản nào?
- Những tiêu chí nào có thể sử dụng để đánh giá năng lực của đội ngũ công
chức cấp xã?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến năng lực của đội ngũ công chức cấp xã?
- Thực trạng năng lực của đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn huyện Điện
Biên, tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012-2016 như thế nào? Còn tồn tại những điểm yếu
nào? Nguyên nhân nào dẫn đến những điểm yếu đó?
- Cần thực hiện những giải pháp gì để nâng cao năng lực của đội ngũ công
chức cấp xã trên địa bàn huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đến năm 2020?
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Yêu cầu năng lực đối với
đội ngũ công chức cấp xã

- Kiến thức chuyên môn
- Kỹ năng làm việc
- Hành vi, thái độ, phẩm
chất, đạo đức

Thực trạng năng lực của
đội ngũ công chức cấp xã
Khoảng trống
- Kiến thức chuyên môn
- Kỹ năng làm việc
- Hành vi, thái độ, phẩm
chất, đạo đức

Các giải pháp nâng cao
năng lực của đội ngũ
công chức cấp xã

Năng lực của đội ngũ
công chức cấp xã đáp
ứng được yêu cầu đặt
ra

Nhóm yếu tố
thuộc về bản thân
người công chức
cấp xã


Số liệu từ các bài viết, tham luận, thống kê của Phòng Nội vụ huyện Điện
Biên, Sở Nội vụ, Bộ nội vụ và các Sở, ban ngành có liên quan... cũng được luận văn
lựa chọn, đánh giá và tận dụng trong quá trình nghiên cứu luận văn.


8
- Xử lý số liệu:
Số liệu thứ cấp thu thập được sẽ được phân loại, so sánh, đối chiếu, tính tỷ lệ
phần trăm trước khi đưa vào phân tích trong luận văn.
6.3.2. Phương pháp thu thập và xử lý thông tin sơ cấp
- Thu thập số liệu:
Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra xã hội học vào
tháng 04/2015 và tháng 05/2017 bằng cách phát bảng hỏi cho 02 nhóm đối tượng:
+ Nhóm 1: 20 cán bộ thuộc Phòng Nội vụ huyện Điện Biên. Số phiếu phát ra
là 20, số phiếu thu về là 19 và có 100% phiếu trả lời hợp lệ.
+ Nhóm 2: 120 cán bộ quản lý tại các phòng, ban, đơn vị của 25 xã trên địa
bàn huyện Điện Biên. Số phiếu phát ra là 120, số phiếu thu về là 116 và có 100%
phiếu trả lời hợp lệ.
Như vậy, số lượng mẫu được sử dụng trong phân tích là 135 người.
- Xử lý số liệu:
Số liệu sơ cấp thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel trước khi đưa vào
phân tích trong luận văn.
6.3.3. Phương pháp phân tích
Luận văn sử dụng các phương pháp sau đây:
- Chương 1: chủ yếu sử dụng phương pháp hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp
kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan đến đề tài luận văn.
- Chương 2: chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, để phân tích,
đánh giá thực trạng năng lực của đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn huyện Điện
Biên, tỉnh Điện Biên.
- Chương 3: chủ yếu sử dụng phương pháp logic, lịch sử để đề xuất giải pháp

1.1.1.1. Chính quyền cấp xã trong bộ máy hành chính nhà nước
Theo Hiến pháp 1992, nước ta có 04 cấp hành chính, tương ứng với 4 cấp
chính quyền đó là: trung ương, tỉnh, huyện và xã.
Trong đó, cấp tỉnh có 02 loại hình đơn vị hành chính là: tỉnh và thành phố
trực thuộc trung ương; cấp huyện có 04 loại hình đơn vị hành chính là: huyện, thành
phố thuộc tỉnh, quận và thị xã; cấp xã có 03 loại hình đơn vị hành chính là: xã,
phường và thị trấn. Tương ứng với 04 cấp hành chính có 04 cấp chính quyền: chính
quyền Trung ương (hay còn gọi là Chính phủ), chính quyền cấp tỉnh, chính quyền
cấp huyện và chính quyền cấp xã.
Tương ứng với cấp xã, chính quyền cấp xã là cấp chính quyền thấp nhất
trong hệ thống tổ chức hành chính của nhà nước ta, được thành lập trên từng đơn vị
hành chính cấp xã, có chức năng quản lý nhà nước (QLNN) trên tất cả các lĩnh vực
chính trị, kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh ở địa bàn cấp xã theo quy
định của pháp luật.
Chính quyền cấp xã bao gồm Hội đồng nhân dân (HĐND) và Uỷ ban nhân
dân (UBND). HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do cử tri
trong xã bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa
phương. UBND cấp xã do HĐND cấp xã bầu ra và phải được Chủ tịch UBND cấp
trên trực tiếp phê chuẩn.
Theo quy định hiện hành, chính quyền cấp xã có chức năng, nhiệm vụ quản
lý mọi hoạt động chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa bàn cấp xã;
đảm bảo cho Hiếp pháp, Pháp luật, các quyết định của chính quyền cấp trên được
tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh ở địa phương; đảm bảo và phát huy quyền làm


11
chủ tập thể của nhân dân lao động; đảm bảo quyền lợi của công dân, chăm lo đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đồng thời động viên nhân dân làm tròn
nghĩa vụ đối Nhà nước.
1.1.1.2. Khái niệm về đội ngũ công chức cấp xã

chưa phân biệt công chức hành chính với công chức sự nghiệp.
Đến nay, trước yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, sự phát triển của
đời sống chính trị pháp lý Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực từ
ngày 01/01/2010 quy định rõ:
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức
chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc
Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân
quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không là sĩ quan, hạ
sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công
lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên
chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh
đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương
của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Thứ nhất, cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước ở cơ sở
(cấp xã, phường, thị trấn) không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định
24/2010/NĐ-CP (Nghị định Về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công
chức trong các cơ quan nhà nước), mà được quy định bởi Nghị định số
112/2011/NĐ-CP (Nghị định về công chức xã, phường, thị trấn).
Thứ hai, khái niệm công chức không áp dụng cho đối tượng làm việc trong
các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, kể cả các đơn vị sự nghiệp thực hiện dịch vụ
công (trừ các công chức giữ chức vụ lãnh đạo). Những nhân viên làm việc trong các
đơn vị sự nghiệp y tế, giáo dục, khoa học - công nghệ, văn hóa thông tin, thể dục
thể thao, doanh nghiệp của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, các hội nghề
nghiệp, mà lâu nay được gọi là công chức sự nghiệp được quy định bởi Nghị định
29/2012/NĐ-CP (Nghị định về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức). Họ
chính là viên chức nhà nước.





14
liên tục của nền hành chính; họ được bảo hộ bằng quy định “biên chế nhà nước”.
Tuy nhiên, cơ chế này cũng tạo thành môi trường nuôi dưỡng sự thụ động, dựa dẫm,
trì trệ của một bộ phận không nhỏ CCCX. Bởi đội ngũ CCCX đã thuộc diện biên
chế chỉ trừ khi vi phạm pháp luật, hoặc vi phạm đến mức bị kỷ luật buộc thôi việc
còn thường thì họ làm việc từ khi được tuyển dụng cho đến khi nghỉ hưu. Nói như
vậy không có nghĩa là đội ngũ CCCX chỉ được tuyển dụng một lần và không phải
tác động gì đến họ, mà ngược lại, trước đòi hỏi ngày một lớn của công tác quản lý
kinh tế - xã hội địa phương, đòi hỏi đội ngũ CCCX phải luôn được đào tạo, bồi
dưỡng nâng cao năng lực công tác. Giải pháp hiệu quả, thích hợp trong điều kiện
hiện nay là xây dựng hệ thống chính sách tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡng, sắp xếp,
đề bạt, thuyên chuyển, đãi ngộ phù hợp.
1.1.3. Vai trò của đội ngũ công chức cấp xã
Theo phân loại ở trên, đội ngũ CCCX hiện nay gồm 07 loại chức danh: (1)
Trưởng Công an; (2) Chỉ huy trưởng quân sự; (3) Văn phòng - thống kê; (4) Địa
chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường; (5) Tài chính - kế toán; (6) Tư pháp
- hộ tịch; (7) Văn hóa - xã hội. Do đó, tại nội dung này, luận văn chỉ đưa ra vai trò
chung của đội ngũ CCCX, mà không đi vào phân tích vai trò của từng loại CCCX.
Thứ nhất, đội ngũ CCCX là những người tổ chức thực hiện các chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước ở địa phương. Chính quyền cấp xã là cấp trực
tiếp tổ chức thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và chính quyền cấp trên
vào trong đời sống nhân dân. Do đó, các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp
luật của Nhà nước có được hoạch định đúng đắn và thực hiện có hiệu quả trong đời
sống xã hội hay không phụ thuộc rất lớn vào năng lực của đội ngũ CCCX.
Thứ hai, đội ngũ CCCX là những người trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý, điều
hành đảm bảo mọi hoạt động chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng và an ninh... ở
xã diễn ra trong khuôn khổ pháp luật. Theo quy định, chính quyền cấp xã có chức
năng, nhiệm vụ quản lý, điều hành mọi hoạt động: chính trị, kinh tế - xã hội, quốc

CCCX phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa năng lực của từng công
chức với năng lực của cả đội ngũ. Năng lực của cả đội ngũ CCCX không phải là sự
tập hợp giản đơn số lượng mà là sự tổng hợp sức mạnh của toàn bộ đội ngũ. Sức
mạnh này bắt nguồn từ phẩm chất vốn có bên trong của mỗi công chức và nó được


16
tăng lên gấp bội bởi tính thống nhất của tổ chức; của sự giáo dục, đào tạo, phân
công, quản lý, của kỷ luật.
Có thể thấy rằng, năng lực đội ngũ CCCX bao gồm:
Thứ nhất, năng lực của từng CCCX; cụ thể là kiến thức chuyên môn, kỹ
năng làm việc, hành vi, thái độ, phẩm chất, đạo đức. Năng lực của từng công chức
là yếu tố cơ bản tạo nên năng lực của cả đội ngũ.
Thứ hai, năng lực của cả đội ngũ với tính cách là một chỉnh thể, thể hiện ở cơ
cấu đội ngũ được tổ chức khoa học, có tỷ lệ cân đối, hợp lý vì số lượng và độ tuổi
bình quân được phân bố trên cơ sở các địa phương, đơn vị và lĩnh vực hoạt động
của đời sống xã hội.
Như vậy, các yếu tố cấu thành năng lực đội ngũ CCCX không chỉ bao gồm
một mặt, một khía cạnh nào đó, mà nó bao gồm cả một hệ thống, được kết cấu như
một chỉnh thể toàn diện từ năng lực của từng công chức (đây là yếu tố cơ bản nhất,
tiên quyết nhất) cho đến cơ cấu số lượng nam nữ, độ tuổi, thành phần của đội ngũ
cùng với việc bồi dưỡng, giáo dục, phân công, quản lý kiểm tra giám sát và thực
hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã.
Qua đó ta có thể rút ra khái niệm năng lực đội ngũ công chức cấp xã được sử
dụng trong luận văn như sau: Năng lực đội ngũ công chức cấp xã là một hệ thống
những thuộc tính cá nhân được kết cấu như một chỉnh thể toàn diện, được thể hiện
qua kiến thức chuyên môn, kỹ năng làm việc, hành vi, thái độ, phẩm chất, đạo đức
của mỗi CCCX và cơ cấu của cả đội ngũ CCCX.
Để nâng cao năng lực của đội ngũ CCCX, cần phải giải quyết tốt mối quan
hệ giữa năng lực của mỗi cá nhân CCCX với cơ cấu của đội ngũ CCCX. Chỉ khi

hoàn toàn khả thi để thực hiện)
(i) Đối với Trưởng Công an
Trưởng Công an xã chịu trách nhiệm tham mưu, giúp UBND xã tổ chức thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND xã trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã
hội trên địa bàn theo quy định của pháp luật. Đồng thời, trực tiếp thực hiện các
nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về công an xã và các văn bản có liên quan của
cơ quan có thẩm quyền.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status