1. Tên sáng kiến:
Áp dụng phương pháp hợp tác trong giờ thực hành môn Tin học.
2. Phần mở đầu:
2.1. Lí do chọn đề tài:
a. Về lý luận:
Trong thời đại hiện nay, thời đại của nền kinh tế tri thức, công nghệ - Tin học
đóng vai trò then chốt cho sự sáng tạo, mở đường, thúc đẩy sự phát triển các ngành
các lĩnh vực khác. Môn Tin học cũng giống như nhiều môn học khác ở trường Tiểu
học, nó có một vị trí đặc biệt không thể thiếu được trong thời đại hiện nay. Tin học
bậc Tiểu học là cơ sở để hình thành kiến thức, kỹ năng thực hành máy tính, giúp các
em tìm kiếm được kiến thức và kỹ năng mới, bài tập thực hành tin học là công cụ
hữu hiệu để kiểm tra kiến thức, kỹ năng của học sinh. Giúp giáo viên phát hiện
được trình độ của học sinh, làm bộc lộ những khó khăn sai lầm của học sinh trong
học tập tin học. Đồng thời có biện pháp giúp các em mở mang kiến thức, giáo dục
tư tưởng đạo đức, kỹ năng cho học sinh. Như vậy thông qua môn tin học, học sinh
được rèn về kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, về đạo đức và tư duy thực hành, từ đó gây
hứng thú học tập và nghiên cứu bộ môn đối với học sinh trong những năm tiếp theo.
b. Về mặt thực tiễn:
Qua các năm giảng dạy, tôi nhận thấy bộ môn Tin học là một bộ môn mới ở
trường Tiểu học và chưa được quan tâm nhiều vì nhiều lí do khách quan. Trong dạy
học môn tin, tôi nhận thấy nếu có một phương pháp tốt sẽ rất dễ gây hứng thú cho
học sinh vì học sinh luôn muốn học những điều mới lạ, học sinh rất thích làm quen
và khám phá máy tính, có thể nhận thấy đây là một điều kiện thuận lợi cho giáo
viên. Tuy nhiên với chương trình tin học đòi hỏi sự linh hoạt rất cao của các giáo
viên, sử nhạy bén, tư duy có sự quan sát và sáng tạo và kỹ năng sử dụng máy tính
của học sinh để giải quết vấn đề, vì vậy đòi hỏi phải tìm ra phương pháp giảng dạy
để học sinh dễ hiểu, dễ dàng tìm được sự móc nối giữa các kiến thức, kỹ năng thực
hành.
Người thực hiện: Lê Hữu Toản
Người thực hiện: Lê Hữu Toản
Trang
2
2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
a. Đối tượng nghiên cứu: Học sinh các lớp khối 3, 4, 5 với phương pháp hợp
tác trong giờ thực hành môn Tin học.
b. Phạm vi nghiên cứu: Học sinh khối 3, 4, 5 trường Tiểu học Hải Khê.
c.Thời gian nghiên cứu: Trong năm học 2016-2017 bắt đầu tháng 9 năm 2016
và kết thúc tháng 5 năm 2017.
2.4. Phương pháp nghiên cứu:
Đúc rút kinh nghiệm, khảo sát kết quả qua các tiết học và qua kết quả kiểm tra
định kì.
3. Phần nội dung:
3.1. Cơ sở lí luận và thực trạng vấn đề nghiên cứu:
a. Cơ sở lí luận:
Phương pháp dạy học Tin học là nghiên cứu những mối liên hệ có tính quy luật
giữa các thành phần của quá trình dạy học môn Tin học chủ yếu là giữa mục tiêu,
nội dung và phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy học môn
này theo các mục đích đặt ra.“Trích Phương pháp dạy học đại cương môn tin học Nhà xuất bản ĐHSP”.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo
hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức,
kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy
móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người
học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ
yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội,
Trang
4
* Khó khăn:
Trường Tiểu học Hải Khê ở xa trung tâm huyện, trường thuộc xã đặc biệt khó
khăn. Đời sống dân cư còn gặp nhiều khó khăn và trình độ dân trí chưa cao, nhiều
phụ huynh chưa quan tâm đến việc học của con em. Đa số các em cũng không có
điều kiện tiếp xúc nhiều với máy tính, nên chưa có kỹ năng sử dụng máy tính, do đó
học sinh chưa có định hướng cho suy nghĩ tìm tòi và tư duy, sáng tạo cho bộ môn.
Trình độ nhận thức của một số học sinh còn thấp chưa xác định được mục
đích, động cơ học tập, không có sự phấn đấu vươn lên trong học tập, có thói quen
lười suy nghĩ, ỉ lại hay dựa vào giáo viên, bạn bè. Khác với môn học khác, môn Tin
học đòi hỏi phải có sự tư duy, thao tác, kỹ năng sử dụng máy tính ở các em đều
thiếu.
Số tiết thực hành trong chương trình sách giáo khoa còn chưa đủ,học sinh chưa
kịp làm quen với thao tác thực hành máy tính thì thời lượng giành cho tiết thực hành
đã hết, nên chưa đáp ứng được yêu cầu về kỹ.
3.2. Áp dụng phương pháp hợp tác trong giờ thực hành môn tin học:
a) Thành lập nhóm học hợp tác :
* Xác định số lượng học sinh trong nhóm hợp tác:
Sau khi các mục tiêu của bài thực hành. Tôi quyết định số lượng học sinh mỗi
nhóm. Số lượng học sinh trong nhóm phụ thuộc vào nội dung bài học cũng như số
lượng máy. Đối với những yêu cầu dễ, tôi cho học sinh làm việc theo nhóm đôi
(mỗi nhóm 2 học sinh), yêu cầu khó tôi cho học sinh thảo luận nhóm lớn (mỗi nhóm
4 - 5 học sinh)
* Lựa chọn các thành viên vào nhóm hợp tác:
Tôi sắp xếp các thành viên vào một nhóm, sao cho các thành viên nhóm càng
Mỗi thành viên đều được hoạt động tích cực, không thể ỷ lại vào một vài thành
viên năng động và nổi trội khác. Tuy nhiên, giáo viên cần phải lưu ý, học sinh
thường coi thảo luận trong nhóm như một hình thức cạnh tranh mà trong đó họ
chiến thắng bằng cách đánh bại ý kiến của người khác, nhóm khác. Do đó, cần
khuyến khích tính hợp tác của các em trong cùng một nhóm và giữa các nhóm với
nhau, thi đua nhưng không cạnh tranh.
Như vậy, phương pháp hợp tác trong nhóm cho phép các thành viên trong
nhóm chia sẻ những suy nghĩ, băn khoăn, kinh nghiệm, hiểu biết của bản thân, cùng
nhau xây dựng nhận thức, thái độ mới. Bằng cách nói ra những điều mình đang
nghĩ, mỗi người có thể nhận thức rõ trình độ hểu biết của mình về vấn đề học tập
được nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học trở thành sự học hỏi lẫn
Người thực hiện: Lê Hữu Toản
Trang
6
nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên. Thành công của lớp học
phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên. Vì vậy, phương pháp này
còn gọi là phương pháp huy động mọi người cùng tham gia.
Theo phương pháp này, học sinh dễ hiểu, dễ nhớ hơn vì họ được tham gia trao
đổi, trình bày vấn đề nêu ra, cảm thấy hào hứng khi được đóng góp một phần công
sức của mình trong sự thành công chung của lớp. Điều này thực sự có ý nghĩa khi
phương pháp này được thực hiện trong các giờ thực hành vì kết quả và sản phẩm
làm việc sẻ được thấy rõ.
Khi hợp tác làm việc với nhau sẽ hình thành cho học sinh một số kĩ năng và
thái độ cần thiết.
- Về kĩ năng:
+ Kĩ năng tìm kiếm thông tin.
Hãy để các nhóm tự đánh giá lẫn nhau, đây là một kênh để đảm bảo cho học
sinh phát huy khả năng tổng kết đánh giá. Và đồng thời cũng giúp cho giáo viên có
thể đưa ra kết quả cuối cùng phù hợp nhất.
- Giáo viên đánh giá, nhận xét kết quả làm việc của các nhóm hợp tác:
Công việc này có thể tiến hành song song hoặc sau khi đã có sự đánh giá giữa
các nhóm với nhau. Đánh giá khả làm việc của nhóm: Các nhóm làm việc có khoa
học hay không. Những ai tích cực, những ai lười biếng hay làm chuyện riêng, cần
rút kinh nghiệm gì,… Giáo viên nên nhận xét cụ thể, khách quan và tốt nhất nên cho
điểm để khích lệ tinh thần học tập của sinh viên.
c) Kết hợp sử dụng phần mềm Netop School trong thực hành.
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và qua thực tế giảng dạy nhiều năm tôi mạnh
dạn đưa phần mềm NETOP SCHOOL vào ứng dụng giảng dạy trong trường học.
Tôi đã sắp xếp lại phòng máy một cách có trật tự và khoa học, đặt tên cho các
máy, kiểm tra sự thông mạng nội bộ và tiến hành Download và cài đặt phần mềm
quản lý dạy học NetOp School phiên bản mới nhất. Chọn máy có cấu hình mạnh
làm máy Teacher còn lại dùng cho máy student. Tôi đánh số máy, phân máy cụ thể
cho từng học sinh trong từng thời điểm năm học. Điều này để dễ theo dõi, quản lí,
tránh được sự tranh dành máy móc gây mất trật tự và bảo vệ máy được tốt. Sau đó
tổ chức cho học sinh học tập môn Tin học thông qua phần mềm NETOP SCHOOL:
- Tại máy chủ người giáo viên có thể chiếu bài giảng xuống một hay toàn bộ
các máy Student. Toàn bộ các máy Student sẽ nhìn thấy máy của Teacher chỉ xem
Người thực hiện: Lê Hữu Toản
Trang
8
mà không sử dụng chuột phím được. Từ đó người giáo viên sẽ hướng dẫn bài học
xuống các máy của học sinh ngồi một cách trực quan
9
- Trong quá trình giáo viên giảng giải thì giáo viên có thể khóa chuột và bàn
phím của tất cả học sinh, học sinh chỉ có thể là xem ngoài ra không thể sử dụng máy
để chạy chương trình nào khác.
- Vấn đề quan trọng nữa là giáo viên có thể giám sát triệt để việc học tập của
từng máy, phát hiện ra ngay những máy vi phạm như là chơi trò chơi, chạy ứng
dụng khác. Từ đó ngăn chặn kịp thời. Vấn đề này khó có thể thực hiện đối với sử
dụng máy chiếu.
- Chạy một ứng dụng nào đó trên tất cả các máy của học sinh. Các máy con có
thể không là trong cùng 1 phòng.
- Chỉ bằng vài ba bước giáo viên có thể tắt máy của một vài hay tất cả các máy
của học sinh…
- Về phần mềm NetOp School thì yêu cầu các máy phải được nối mạng Lan
(mạng cục bộ), cấu hình tương đối mạnh nhất là máy chủ. Có khi bị đứt kết nối, treo
máy con, thông tin đến máy con chậm.
3.3. Kết quả thực hiện:
Từ thực tế dạy học của bản thân những năm gần đây các lớp 3, 4, 5 trường
Tiểu học Hải Khê tôi nhận thấy phương pháp này có những mặt tích cực sau đây:
Giờ học trở lên sinh động, giảm bớt kiến thức trừu tượng, không xa vời thực tế
mà thiết thực với học sinh, gây hứng thú thực sự cho học sinh, sự yêu tích môn học
tăng lên rõ rệt. Phát huy được sự tích cực chủ động của học sinh trong nắm bắt kiến
thức từ thực tiễn và từ kỹ năng thực hành.
Kết quả: Sau khi tiếp thu xong các nội dung bài học, học sinh giúp đở nhau
thực hành ngay, kết quả khá khả quan. Có 90% học sinh ở những lớp tôi giảng dạy
trả lời là rất hứng thú với bài học, hiểu bài hơn, dễ nhớ hơn, yêu thích môn học hơn.
Qua thời gian áp dụng phương pháp trên tôi nhận thấy chất lượng dạy và học
của nhà trường nói chung của môn Tin học nói riêng ngày càng được nâng cao, chất
lượng giáo dục ngày càng có sự chuyển biến rõ rệt. Vị thế của nhà trường được xã
- Đánh giá và theo dõi kết quả học tập theo từng đối tượng học sinh, khen
những học sinh thực hành tốt, nghiêm túc, nhắc nhở những học sinh thực hành chưa
tốt, chưa nghiêm túc.
4. Kết luận và kiến nghị:
4.1. Kết luận:
Vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng giáo dục là
chủ trương của Đảng, Nhà nước và của Ngành Giáo dục trong các năm gần đây, do
vây ta thấy được sự cần và cấp thiết đổi mới phương pháp giảng dạy của từng giáo
viên, từng bộ môn, từng thời kỳ.
Bản thân là một giáo viên đứng lớp, đứng trước chủ trương của ngành, của đơn
vị tôi luôn trăn trở rằng làm thế nào để nâng cao chất lượng của bộ môn góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục chung của nhà trường. Từ đó tôi đã áp dụng các
phương pháp như đã trình bày ở trên, ban đầu do học sinh chưa quen lên cũng găp
khó khăn. Nhưng sau một thời gian thực hiện cũng đã cho kết quả khá khả quan.
Học sinh hứng thú học, ham học, yêu thích môn học, tiếp thu bài tốt hơn và kết quả
cao hơn và điều quan trọng là kỹ năng sử dụng máy tính của học sinh cao hơn rõ rệt.
Vấn đề đổi mới phương pháp trong giờ học đang là vấn đề cần thiết. Để thực
hiện tốt bài giảng đòi hỏi giáo viên phải có lòng đam mê yêu thích môn học yêu
thích vi tính, đầu tư thời gian tìm tòi sáng tạo hơn nữa. Là giáo viên ai cũng có thể
thực hiện và thực hiện tốt sáng kiến này.
Với thực trạng học Tin học trong nhà trường và yêu cầu đổi mới phương pháp
dạy học Tin học, có thể coi đây là một quan điểm của tôi đóng góp ý kiến vào việc
nâng cao chất lượng Tin học.
4.2. Kiến nghị:
a. Đối với cơ quan quản lý giáo dục các cấp:
Cần có kế hoạch tập huấn và bồi dưỡng thêm về các phương pháp dạy học mới
cho giáo viên bộ môn Tin học.
Cần tổ chức các chuyên đề Tin học cấp cụm, cấp huyện trở lên để giáo viên
Lê Hữu Toản
Người thực hiện: Lê Hữu Toản
Trang
13
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS. Lê Văn Hảo, Phương pháp pháp dạy học dựa trên vấn đề lý luận và ứng
dụng.
2. Ths. Tạ Thị Thanh Bình, Phương pháp giảng dạy Tin học (2010).
Người thực hiện: Lê Hữu Toản
Trang
14
MỤC LỤC
1. Tên sáng kiến:.................................................................................................................................................1
2. Phần mở đầu:.................................................................................................................................................1
2.1. Lí do chọn đề tài:.....................................................................................................................................1
a. Về ly luân:...............................................................................................................................................1
b. Về măt thưc tên:...................................................................................................................................1
2.2. Muc đích, nhiêm vu nghiên cưu:............................................................................................................2
.......................................................................................................................................................................11
Người thực hiện: Lê Hữu Toản
Trang
15
3.4. Bài học kinh nghiệm:.............................................................................................................................11
4. Kết luận và kiến nghị:...................................................................................................................................12
4.1. Kết luận:.................................................................................................................................................12
4.2. Kiến nghị:...............................................................................................................................................12
a. Đối với cơ quan quản ly giáo duc các cấp:...........................................................................................12
b. Đối với nhà trường:..............................................................................................................................13
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................................................................14
Người thực hiện: Lê Hữu Toản
Trang
16