MỤC LỤC
Phần I. MỞ ĐẦU.......................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu.........................................................................................1
3. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................................1
4. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................1
Phần II. NỘI DUNG..................................................................................................3
1.Cơ sở lý luận.......................................................................................................3
1.1.Tổng quan tài liệu liên quan đến đề tài..........................................................3
1.1.1.Trên thế giới............................................................................................3
1.1.2. Ở Việt Nam............................................................................................3
1.2. Một số khái niệm cơ bản...............................................................................3
1.2.1. Phương pháp dạy học tích cực...............................................................3
1.2.2. Phương pháp đóng vai...........................................................................3
2. Thực trạng dạy học môn Công nghệ ở trường THPT 4 Thọ Xuân..............4
2.1.Thực trạng dạy học của giáo viên..................................................................4
2.2. Việc học của HS đối với môn Công nghệ 10.................................................4
2.3. Nguyên nhân thực trạng trên........................................................................4
3. Giải pháp thực hiện...........................................................................................5
3.1.Quy trình các bước tiến hành phương pháp đóng vai trong môn Công nghệ
10.........................................................................................................................5
3.2. Một số lưu ý khi thực hiện phương pháp đóng vai ......................................5
3.3. Một số ví dụ cụ thể.......................................................................................6
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm............................................................17
PHẦN 3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.......................................................................19
1. Kết luận............................................................................................................19
2. Kiến nghị..........................................................................................................19
0
phần nông, lâm, ngư nghiệp - Công nghệ 10, nhằm phát huy tính tích cực khơi dậy
hứng thú học tập của học sinh, nâng cao hiệu quả dạy học Công nghệ 10.
3. Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp đóng vai trong chương trình công nghệ 10.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu tài liệu và các công trình nghiên cứu đổi mới PPDH theo hướng
tích cực hóa việc học của học sinh.
- Nghiên cứu về cấu trúc và nội dung chương trình Công nghệ 10 (phần Nông,
Lâm, Ngư nghiệp).
1
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về phương pháp đóng vai trong nội dung chương
1: Trồng trọt, lâm nghiệp đại cương - Công nghệ 10 theo hướng phát huy tính tích
cực học tập của học sinh.
4.2. Phương pháp chuyên gia
Gặp gỡ, trao đổi, tiếp thu ý kiến của các đồng nghiệp để làm cơ sở cho việc
nghiên cứu đề tài.
4.3. Phương pháp thực tập sư phạm
Thực nghiệm sư phạm ở trường THPT 4 Thọ Xuân, tiến hành theo quy trình
của đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục để đánh giá hiệu quả của đề tài nghiên
cứu.
4.4. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để thống kê, xử lý, đánh giá kết quả
thu được.
2
1.2.2 Phương pháp đóng vai
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành “làm thử” một số
cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định. Ở đó học sinh lựa chọn cách
giải quyết tối ưu nhất, nhằm tập duyệt cho học sinh kịp thời ứng phó khi bắt gặp
vấn đề xảy ra trong cuộc sống.
Đặc biệt trong những năm gần đây, với chương trình đổi mới, với yêu cầu
dạy học và đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của học sinh thì đóng vai
là phương pháp đem lại hiệu quả tối ưu.
1.2.2.1. Ưu điểm của phương pháp đóng vai
- Phương pháp đóng vai gây hứng thú và chú ý cho học sinh, các em có cơ hội bộc
lộ cảm xúc, hình thành những kỹ năng giao tiếp.
3
- Tạo điều kiện phát huy tư duy sáng tạo, trí tưởng tượng của các em.
- Rèn luyện tính mạnh dạn, tự tin khi đứng trước tập thể.
- Thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn,
được giám sát trước khi xảy ra tình huống thực. Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành
vi của học sinh theo hướng tích cực.
- Hình thành thói quen, kỹ năng hợp tác, sự phối hợp chặt chẽ của cá nhân với tập
thể nhóm. Tạo cơ hội cho các cá nhân học hỏi, đánh giá lẫn nhau.
- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả lời nói và việc làm của các vai diễn.
- Thu hút được tất cả các học sinh tham gia, kể cả là học sinh học yếu.
1.2.2.2. Hạn chế của phương pháp đóng vai
- Là phương pháp tốn nhiều thời gian, với những chủ đề lớn nếu không giao nhiệm
vụ về nhà chuẩn bị trước thì học sinh bị động trong quá trình thực hiện, khó thành
công.
- Một số học sinh còn rụt rè, thiếu tự tin khi đứng trước tập thể, vốn kiến thức từ
ngữ ít khó thực hiện vai diễn của mình.
- Sử dụng phương pháp này thường gây ồn ào, có thể ảnh hưởng đến lớp khác.
Bên cạnh những lí do khách quan trên thì còn một lí do chủ quan nữa là bản
thân giáo viên dạy. Qua thực tế giảng dạy tôi thấy rằng nếu giáo viên đưa ra những
tình huống có vấn đề, kết hợp với việc sử dụng các PPDH phát huy tính tích cực
như: thảo luận nhóm, phiếu học tập, sử dụng băng hình… cùng với những câu hỏi
tìm tòi, kích thích tư duy, gây tranh luận thì không khí học tập sôi nổi hẳn, các em
tích cực phát biểu xây dựng bài. Ngược lại, ở một số lớp giáo viên sử dụng phương
pháp thuyết trình, đàm thoại tái hiện, thông báo… lớp học trở nên trầm, ít học sinh
phát biểu xây dựng bài.
3.Giải pháp thực hiện
3.1.Quy trình các bước tiến hành phương pháp đóng vai trong môn Công nghệ
10
Phương pháp đóng vai có thể thực hiện dưới dạng hoạt cảnh tình huống để
giới thiệu bài, có thể sử dụng để hình thành kiến thức mới, có thể sử dụng để rèn
luyện một số kỹ năng cho học sinh và cũng có thể xây dựng thành tiểu phẩm để
củng cố bài học. Nghĩa là ở mỗi phần của bài học chúng ta đều có thể sử dụng
phương pháp đóng vai tuỳ theo nội dung và mục đích của bài dạy. Đặc biệt sử dụng
phương pháp đóng vai trong các tiết thực hành, ngoại khóa rất có hiệu quả.
Để phương pháp đóng vai thực sự có hiệu quả cần tiến hành theo các bước:
Bước 1:
- Đối với các tiết thực hành, ngoại khóa giáo viên giới thiệu tình huống vào cuối
tiết học tuần trước để học sinh các tổ, nhóm xây dựng kịch bản và phân công nhiệm
vụ đóng vai.
- Khi sử dụng phương pháp đóng vai trong các phần của tiết học thì giáo viên nên
đưa ra tình huống ngắn gọn để học sinh dễ đóng vai.
Bước 2: Học sinh thể hiện kịch bản, vai diễn.
Bước 3: Học sinh nhận xét rút ra bài học.
Bước 4: Giáo viên nhận xét đánh giá.
3.2. Một số lưu ý khi thực hiện phương pháp đóng vai
- Tình huống đóng vai phải phù hợp với nội dung bài học, phù hợp với trình độ lứa
tuổi của học sinh và điều kiện, hoàn cảnh lớp học, tình huống không được quá khó.
nghiệp phân bố ở vùng trung du
Sau đó, giáo viên cho học sinh thảo luận để đưa ra chủ đề bài học: “Cải tạo
và sử dụng đất”.
Bước 2: Yêu cầu học sinh đóng vai mình chính là loại đất xấu cần được cải tạo.
Bước 3: Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm 8-10 người,
Nhóm 1,2: Nghiên cứu đất xám bạc màu
Nhóm 3,4: Nghiên cứu đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá.
Bước 4: Các nhóm thảo luận, xây dựng “kịch bản” và phân công “vai diễn”.
Bước 5: Các nhóm lên đóng vai.
6
Bước 6: Các nhóm khác theo dõi, nhận xét, bổ sung.
Bước 7: Giáo viên kết luận, chuẩn hóa kiến thức, nhận xét và đánh giá.
Tôi xin giới thiệu “ kịch bản” của nhóm 3 lớp 10A1:
Tại hội thi dành cho các quý bà đất
Dẫn chương trình: Và tiếp theo, xin mời thí sinh mang số báo danh 05, quý bà Đất
xám.
Đất Xám: Xin kính chào quý vị khán giả, tên em là Đất xám, em đại diện cho họ
nhà Đất xám bạc màu ạ.
Dẫn chương trình: Vâng, mời chị giới thiệu về bản thân.
Đất Xám: Vâng, em được sinh ra ở những nơi có địa hình dốc thoải, nơi mà người
nông dân vẫn giữ thói quen canh tác lạc hậu như thâm canh, du canh...gần đây họ
hàng nhà em còn xuất hiện nhiều thêm nữa khi con người tăng cường chặt phá
rừng bừa bãi. Đây, nếu quý vị không tin, mời quý vị xem những hình ảnh:
Thói quen canh tác lạc hậu và chặt phá rừng bừa bãi
Dẫn chương trình: Vâng, vậy chị đến từ đâu. Xin chị tự giới thiệu về mình ạ.
Đất Xám: Họ nhà đất xám bạc màu chúng em phân bố chủ yếu ở vùng Trung du
Bắc Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Có mặt ở những vùng đấy thì quý vị cũng
hội thi thông điệp: Đừng vội bỏ hoang những loại đất xấu, như chúng em chẳng
hạn, vì sẽ làm lãng phí nguồn tài nguyên đất. Hãy sử dụng những biện pháp kĩ thuật
để biến những loại đất xấu thành “ tấc đất, tấc vàng”.
Ví dụ 2: Áp dụng phương pháp đóng vai vào dạy học bài 12. “Đặc điểm,
tính chất , kỹ thuật sử dụng một số loại phân bón thông thường”
Bước 1: Giới thiệu chủ đề bài học: Giáo viên giới thiệu hình ảnh về ảnh
hưởng của phân hóa học đến cây trồng, MT, con người và cách sử dụng phân hóa
học.
9
Sau đó, giáo viên cho học sinh thảo luận để đưa ra chủ đề bài học: Phân bón
với cây trồng.
Với bài này có thể sử dụng nhiều cách:
Cách 1: Học sinh đóng vai mình chính là các loại phân bón
Cách này được tổ chức theo trình tự như sau:
Bước 1: Giáo viên chia lớp thành 3 nhóm (15-16 người), tương ứng với 3 loại
phân bón
+ Nhóm 1: Phân hóa học
+ Nhóm 2: Phân hữu cơ
+ Nhóm 3: Phân vi sinh vật
Mỗi nhóm cử nhóm trưởng, thư ký. Giáo viên phát đồ dùng gồm 1 giấy A 0, 1
bút dạ và yêu cầu trong thời gian 10 phút cả nhóm cùng nghiên cứu, xây dựng
“kịch bản”, sau đó cử đại diện lên bảng “đóng vai” chính là loại phân bón đó. Giới
thiệu “về mình” cho cả lớp (các học sinh khác sắm vai là bà con nông dân) trong
thời gian 5 phút.
Bước 2: Các nhóm thảo luận, xây dựng “kịch bản” và phân công đóng vai.
Bước 3: Thứ tự các nhóm lên đóng vai.
Bước 4: Các học sinh khác theo dõi, phỏng vấn, nhận xét, bổ sung (nếu cần).
Bước 5: Giáo viên kết luận, nhận xét, đánh giá
Mỗi nhóm cử nhóm trưởng, thư ký. Giáo viên yêu cầu trong thời gian 10 phút
cả nhóm cùng nghiên cứu, soạn thảo xây dựng “kịch bản”. Chọn 1 người làm dẫn
chương trình (MC) dưới hình thức tổ chức hội thảo với chủ đề về cách sử dụng
phân bón.
Bước 2: Các nhóm thảo luận, xây dựng “kịch bản” và phân công đóng vai.
Bước 3: Đóng vai “kịch bản”. MC lần lượt mời đại diện mỗi cơ sở giới thiệu
về phân bón do cơ sở mình sản xuất.
11
Bước 4: Cả 3 đội chơi cùng thảo luận. Các học sinh khác sắm vai là bà con
nông dân nghe, thắc mắc về cách sử dụng, ưu, nhược điểm.....
Bước 5: Giáo viên kết luận, nhận xét, đánh giá, tổng kết cuộc thi trao giải
(động viên).
Cách 4: Học sinh đóng vai người dân đi tham khảo các loại phân bón ở 3 cửa
hàng khác nhau.
Cách này được tổ chức theo trình tự như sau:
Bước 1: Giáo viên cử một học sinh đóng vai người dân đi mua phân bón và
chia lớp thành 3 nhóm, tương ứng với 3 cửa hàng bán phân bón.
+ Nhóm 1: Cửa hàng bán phân hóa học
+ Nhóm 2: Cơ sở sản xuất và bán phân hữu cơ
+ Nhóm 3: Cửa hàng bán phân vi sinh vật
Mỗi nhóm cử nhóm trưởng, thư ký. Giáo viên yêu cầu trong thời gian 10 phút
cả nhóm cùng nghiên cứu, soạn thảo xây dựng “kịch bản”. Sau đó mời đại diện 3
nhóm lên 3 vị trí đã sắp xếp trước, lần lượt người đóng vai nông dân sẽ ghé thăm
hỏi mua và nghe 3 “cơ sở” giới thiệu về phân bón của mình (mỗi cơ sở trình bày 3
phút).
Bước 2: Các nhóm thảo luận, xây dựng “kịch bản” và phân công đóng vai.
Bước 3: Đóng vai “kịch bản”. Người nông dân lần lượt ghé vào 3 “cơ sở”
phân bón.
Ví dụ 3: Áp dụng phương pháp đóng vai vào dạy – học bài 19 “Ảnh hưởng
xấu của thuốc hóa học bảo vệ thực vật đến quần thể sinh vậtvà môi trường”.
Với bài này có thể đóng vai theo các cách sau:
+ Cách 1: Đóng vai là loài sinh vật hoặc môi trường chịu tác động của thuốc hóa
học bảo vệ thực vật.
+ Cách 2: Đóng vai là cán bộ khuyến nông tuyên truyền về ảnh hưởng của thuốc
hóa học bảo vệ thực vật.
+ Cách 3: Dùng để dạy – học phần III “ Biện pháp hạn chế ảnh hưởng xấu của
thuốc hóa học bảo vệ thực vật”. Đóng vai người nông dân đi phun thuốc trừ sâu cho
lúa, nhưng trong quá trình phun không tuân thủ các điều kiện an toàn lao động, sau
đó về nhà bị ngộ độc thuốc trừ sâu.
Tôi xin giới thiệu kịch bản theo cách 3 mà học sinh nhóm I lớp 10A1 đã
thực hiện:(những hình ảnh trên do tôi chụp lại trong quá trình các em thực
hiện vai diễn)
Bà vợ: Này, ông ơi, mấy ngày nay trời mưa rải rác, tôi thấy đám lúa nhà mình có
nhiều sâu lắm. Hôm nay trời nắng, ông tranh thủ phun thuốc trừ sâu hộ tôi nhé.
Ông chồng: Được, để tí nữa tôi đi phun ngay.
Bà vợ: Ông nhớ mặc bộ quần áo mưa tôi để sẵn đấy nhé.Ông chồng: Ôi dào, hôm
nay trời nắng, tôi mặc thấy khó chịu lắm. Bà yên tâm, tôi còn khỏe chán.
Ba tiếng sau.
Bà vợ: Ông nhanh về cùng ăn cơm, hôm nay nhà mình có chú Tư làm ở trạm y tế
ghé qua ăn cơm đấy.
Ông chồng: Được rồi, tôi rửa tay rồi vào ngay.
Một lát sau: cả nhà đang ăn cơm vui vẻ, bỗng:
Bà vợ: Ối, ông bị làm sao thế này.
Ông chồng: Tôi thấy khó chịu, buồn nôn quá.
13
Chú Tư: Hôm nay Bác đi phun thuốc trừ sâu về phải không ạ?
Hình ảnh bác nông dân đi phun thuốc trừ sâu nhưng không trang bị quần áo bảo
hộ lao động
Bác nông dân sau khi phun thuốc về không thay quần áo mà ngồi ăn cơm luôn
15
Bác nông dân bị ngộ độc thuốc trừ sâu
Hình ảnh về ảnh hưởng xấu của thuốc hóa học bảo vệ thực lên quần thể sinh vật và
môi trường do nhóm 3 trình bày
16
Vì điều kiện thời gian còn hạn chế nên tôi chỉ xin giới thiệu những “kịch bản”
trên. Ngoài ra những bài khác cũng có thể áp dụng phương pháp này như:
- Bài 13: Ứng dụng công nghệ vi sinh trong sản xuất phân bón. Có thể sử dụng các
cách đóng vai tương tự bài 12.
- Bài 17: Phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng. Học sinh đóng vai mình là biện
pháp phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Tôi đã chọn chủ đề( bài 9) “Cải tạo và sử dụng đất” và chọn lớp 10A1 là
lớp thực nghiệm dạy học theo phương pháp mới, còn lớp 10A4 là lớp đối chứng
dạy theo phương pháp truyền thống. Kết quả thực nghiệm như sau:
Điểm số Xi
Lớp
n
1
6
3
1
Bảng tần số các bài kiểm tra
xi
1
TN
(%)
ĐC
(%)
0.0
0
0.0
0
2
3
0.00 0.00
0.00 0.00
4
5
6
Đồ thị phân phối tần suất kết quả bài 9
Từ đồ thị và bảng số liệu phân tích điểm số qua các bài kiểm tra cho thấy:
Lớp TN:
- Tỷ lệ HS đạt điểm khá, giỏi chiếm hơn 80,00%.
17
- HS trung bình dưới 20,00%, không có yếu kém.
Lớp ĐC:
- Tỷ lệ HS đạt điểm khá, giỏi chỉ chiếm 40,00%.
- Tỷ lệ HS đạt điểm trung bình 40,00%
- Tỷ lệ HS đạt điểm yếu 15,00%.
Thông qua tỷ lệ trên chứng tỏ rằng kết quả học tập của HS lớp TN tốt hơn
lớp ĐC. Cụ thể, điểm trung bình của lớp TN thấp hơn lớp ĐC, điểm khá và điểm
giỏi tăng. Lớp đối chứng không có điểm yếu.
Kết luận chung về thực nghiệm
Qua thực nghiệm dạy học bằng phương pháp đóng vai, tôi nhận thấy:
- Hứng thú học tập của học sinh cao hơn, hoạt động thảo luận sôi nổi hơn và hiệu
quả hơn, HS tập trung để quan sát và phân tích, phát biểu xây dựng bài tốt hơn.
- Hoạt động của giáo viên nhẹ nhàng, thuận lợi hơn để có thể tập trung vào việc
đưa HS vào trung tâm của hoạt động dạy học. Các em có thể vận dụng những kiến
thức đã học và kỹ năng trong thực tế để vận dụng vào vai diễn, làm cho lớp học sôi
nổi, các em dễ nhớ, dễ lĩnh hội được kiến thức.
- Kiến thức được cung cấp thêm, bổ sung và làm rõ SGK, đồng thời gắn với thực
tiễn nhiều hơn.
- Nhưng trên hết, điều mà tôi cho rằng thành công nhất đó là sự hứng thú học tập
bộ môn của các em học sinh, các em rất hào hứng khi tôi bước vào lớp học, các em
mong chờ được thể hiện khả năng của mình, được khám phá kiến thức và tự do
sáng tạo. Tiết học không còn tẻ nhạt, không còn là “gánh nặng” của các em. Điều
- Do trình độ HS nơi nghiên cứu đề tài thấp nên hiệu quả còn hạn chế vì vậy
cần nghiên cứu thêm ở những nơi có trình độ HS khá, giỏi để so sánh hiệu quả..
Do khả năng và thời gian có hạn nên kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở
những kết luận ban đầu và nhiều vấn đề chưa đi sâu. Vì vậy không thể tránh khỏi
những thiếu sót, do đó tôi kính mong nhận được sự góp ý của quý vị để đề tài dần
hoàn thiện hơn.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Nguyễn Quang Dũng
Thanh Hóa, ngày 20 tháng 5 năm 2018
CAM KẾT KHÔNG COPY.
Nguyễn Thị Huyền
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành (2003), Lí luận dạy HS học phần đại
cương, NXB Giáo dục.
2.
Nguyễn Đào Quý Châu (nhóm dịch sách nước ngoài) (2005), Làm chủ
phương pháp dạy học, NXB Đại học QG TPHCM.
3. Nguyễn Duân (2007), Bổ sung tư liệu dạy học môn Công nghệ 7 (phần nông
nghiệp), Tạp chí thiết bị giáo dục, số 26, trang 25-28.
giảng dạy chương 1 môn kỹ
thuật chăn nuôi lớp 12.
Sử dụng phiếu học tập trong
giảng dạy phần Nông- lâm
nghiệp Công nghệ 10
Vai trò của giáo viên chủ
nhiệm trong việc giáo dục
đạo đức học sinh.
Tích hợp giáo dục bảo vệ môi
trường trong các tiết dạy phần
nông, lâm, ngư nghiệp công
nghệ 10
Cấp đánh giá
xếp loại
Kết quả
đánh giá
xếp loại
Năm học
đánh giá
xếp loại
Sở GD và ĐT
Tỉnh Thanh Hóa
C
2005- 2006
2012- 2013
6
Sử dụng kỹ thuật các mảnh Sở GD và ĐT
ghép trong dạy học chương 1 Tỉnh Thanh Hóa
Công nghệ 10
C
2013- 2014
7
Ứng dụng công nghệ thông Sở GD và ĐT
tin để bổ sung hình ảnh trong Tỉnh Thanh Hóa
dạy học chương 2 Công nghệ
10
C
2014- 2015
8
Dạy học tích hợp liên môn áp Sở GD và ĐT
Tỉnh Thanh Hóa
B