MỤC LỤC
1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TỪ VIẾT TẮT
NGHĨA CỦA TỪ
CTXH
Công tác xã hội
SKTT
Sức khỏe tâm thần
RNTT
Rối nhiễu tâm trí
THPT
Trung học phổ thông
2
LỜI MỞ ĐẦU
thiết về việc đẩy mạnh hoạt động công tác xã hội trong trường
học.
Vì lý do trên, em xin chọn chủ đề “Thực trạng về vấn đề
chăm sóc sức khỏe tâm thần và rối nhiễu tâm trí cho học sinh
THPT tại huyện Mỹ Đức - thành phố Hà Nội & Các giải pháp của
Công tác xã hội ” làm tiểu luận kết thúc học phần Công tác xã
hội trong trường học. Bài luận nhằm mục đích nghiên cứu hoạt
động công tác xã hội trong phạm vi học đường tại địa phương.
Từ đó có thể thấy được hiệu quả hoạt động và những hạn chế
còn tồn tại, song song với đó, đề xuất một số giải pháp nhằm
cải thiện phần nào chất lượng của công tác chăm sóc sức khỏe
tâm thần cho học sinh tại địa phương.
Để hoàn thành bài tiểu luận tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc
tới giảng viên Thạc sĩ Nguyễn Thị Liên đã cung cấp các kiến
thức bổ ích và chuyên sâu về chuyên đề Công tác xã hội trong
trường học, cùng với đó là lối giảng dạy mới mẻ, lôi cuốn giúp
sinh viên dễ tiếp thu và được tự tìm hiểu một cách hiệu quả qua
quá trình làm việc nhóm.
Do thời gian và kinh nghiệm nên bài tiểu luận không thể
tránh khỏi những sai sót về nội dung và hình thức.Kính mong
nhận được sự đóng góp ý kiến của cô để em có thể hoàn thiện
tốt hơn trong những bài sau, đặc biệt là bài khóa luận sắp tới.
Em xin chân thành cảm ơn !
4
NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận
1. Khái niệm sức khỏe tâm thần và các thuật ngữ có liên
nghiệm từ quá khứ và lên kế hoạch cho tương lai mà không trăn
trở, không dấn sâu vào những kỷ niệm đau buồn, sự nuối tiếc
hay những nhiều không thể thay đổi hoặc dự đoán được trong
tương lai.
- Khả năng phục hồi: Khả năng bình phục sau những trải
nghiệm khó khăn hoặc những sự kiện đau buồn trong cuộc sống
như trải qua mất mát, đổ vỡ, thất nghiệp,..; khả năng chống
chọi với những đau khổ tâm lý trong những sự kiện đó mà
không mất đi sự lạc qua cũng như niềm tin của mình.
- Khả năng cân bằng: Khả năng thiết lập một sự cân bằng
trước rất nhiều phương diện của cuộc sống như thể chất, tâm lý,
tinh thần, xã hội và kinh tế.
- Khả năng phát triển cá nhân: Khả năng tự nhận biết năng
lực và sở thích của cá nhân, nuôi dưỡng những khả năng của
mình để đạt được sự phát triển tối đa.
- Sự linh hoạt: Khả năng thích nghi trong những tình huống
mới, khả năng tự điều chỉnh mong đợi của mình về cuộc sống,
về chính bản thân mình và về người khác để giải quyết vấn đề
gặp phải và để cảm thấy dễ chịu hơn.
1.4. Công tác xã hội
Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp
mà trong đó nhân viên CTXH sử dụng kiến thức, kỹ năng chuyên
môn, đạo đức nghề nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình
và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng
cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội
về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia
6
đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội
muốn của mình, nên vấn đề chỉ được giải quyết hiệu quả khi đối
tượng là người tham gia.
Tôn trọng quyền tự quyết của đối tượng. Nguyên tắc này
được hiểu là đối tượng chính là người quyết định giải quyết vấn
đề của họ như thế nào. Nhân viên công tác xã hội chỉ đóng vai
trò là người xúc tác, cung cấp thông tin và giúp đối tượng tự đưa
ra quyết định đúng đắn và phù hợp. Tuy nhiên trong một số
trường hợp khi quyết định của đối tượng có ảnh hưởng đến sự
an nguy của họ, gia đình và những người xung quanh, nhân viên
công tác xã hội cần can thiệp.
Đảm bảo tính khác biệt của mỗi trường hợp: Do mỗi đối
tượng (cá nhân, gia đình hay cộng đồng) đều có những đặc
điểm riêng biệt về bản thân, hoàn cảnh gia đình và môi trường
sống, khi giúp đối tượng giải quyết vấn đề nhân viên công tác
xã hội cần tôn trọng tính cá biệt của từng trường hợp mà đưa ra
phương pháp tiếp cận và hỗ trợ giải quyết vấn đề hiệu quả.
Ngay cả khi cùng là một vấn đề, nhưng với mỗi đối tượng lại cần
có cách thức can thiệp phù hợp.
Đảm bảo tính riêng tư, bí mậtcác thông tin liên quan đến
đối tượng: Nhân viên công tác xã hội trong quá trình làm việc
luôn tuân thủ quy định bảo mật thông tin riêng tư của đối
tượng. Nhân viên công tác xã hội cần thông báo và nhận được
sự đồng ý của đối tượng trước khi chia sẻ thông tin của họ với
những nhà chuyên môn khác.
Tự ý thức về bản thâncủa nhân viên công tác xã hội:
Nguyên tắc này thể hiện ở ý thức trách nhiệm đảm bảo chất
lượng dịch vụ, không lạm dụng quyện lực, vị trí công tác để mưu
lợi cá nhân. Bên cạnh đó nhân viên công tác xã hội cần luôn cầu
8
Bước 7: Lượng giá là động tác đo lường, thẩm định các biến
chuyển , xem sự can thiệp của NVCTXH có đem lại hiểu quả mong
muốn hay không . Việc lượng giá giúp NVCTXH xem lại các mục
tiêu đã đề ra đạt được đến mức nào.
2.3. Phương pháp và kỹ năng
a. Phương pháp
- Phương pháp CTXH cá nhân với học sinh bị RNTT
- Phương pháp CTXH nhóm với nhóm học sinh bị RNTT
- Phương pháp quản trị CTXH
b. Kỹ năng
Một số kỹ năng sử dụng trong việc can thiệp, hỗ trợ học
sinh gặp phải các chứng RNTT như:
Kỹ năng tham vấn
Kỹ năng điều phối,
Kỹ năng lắng nghe,
Kỹ năng thấu cảm,
Kỹ năng quan sát,
Kỹ năng đặt câu hỏi,…
2.4. Các hoạt động CTXH trong vấn đề sức khỏe tâm thần
học đường:
-
Tham vấn tâm lý cho các đối tượng học sinh gặp vấn đề về
-
RNTT
Cung cấp các chương trình giáo dục kĩ năng sống cho học sinh:
ra hành vi bắt nạt, bạo lực và nhóm học sinh bị bắt nạt, bị bạo
lực.
2.5. Vai trò của nhân viên CTXH trong vấn đề chăm sóc
sức khỏe tâm thần cho học sinh THPT:
-
Vai
Vai
Vai
Vai
trò
trò
trò
trò
tham vấn
giáo dục
kết nối
ngăn ngừa
II. Thực trạng vấn đề chăm sóc SKTT và RNTT của học
sinh THPT tại huyện Mỹ Đức – Thành phố Hà Nội.
1. Khái quát chung:
* Trên thế giới
Theo báo cáo của tổ chức Y tế thế giới: trên phạm vi thế giới
có đến 20% trẻ em và vị thành niên mắc các bệnh tâm thần
(WHR, 2000); Tự tử trên toàn thế giới là nguyên nhân cao thứ ba
của tử vong ở tuổi vị thành niên (WHR, 2001) và Trầm cảm
trường học. Có nhiều sự kiện tâm lý đã xảy ra trong trường học
như các hành vi gây hấn của học sinh, các trường hợp bị rối
loạn tâm thần tập thể, các vụ tự sát của học sinh…Hội thảo
Công tác tổ chức các hoạt động văn hóa và tư vấn tâm lý trong
nhà trường do Bộ Giáo dục & Đào tạo (GD&ĐT) tổ chức cuối
tháng Một vừa qua, đã đưa ra một con số điều tra đáng lo ngại:
Hơn 90% học sinh, sinh viên bị rối nhiễu tâm trí. Như vậy, cứ 10
12
học sinh, sinh viên thì có tới 9 em gặp vấn đề về tâm lý.
Theo Bộ GD&ĐT, kết quả cuộc khảo sát gần đây tiến hành
trên một số trường phổ thông và đại học tại Hà Nội, Hải Dương
cho thấy, có đến 93,57% số học sinh , sinh viên. được hỏi, gặp
phải những khó khăn vướng mắc cần chia sẻ trong học tập và
đời sống hàng ngày. Tỷ lệ này ở bậc phổ thông là 95,33% và bậc
đại học là 85,92%.
Theo Bác sĩ Trần Tuấn, TT Nghiên cứu và Đào tạo Phát triển
Cộng đồng, tình hình rối nhiễu tâm trí ở thanh thiếu niên đã trở
thành vấn đề y tế công cộng và gánh nặng với gia đình và xã
hội Việt Nam. Theo kết quả điều tra dịch tễ mẫu, do TT Nghiên
cứu và Đào tạo Phát triển Cộng đồng tiến hành trong 5 năm
qua, tỷ lệ thanh thiếu niên Việt Nam ở lứa tuổi từ 8-17 bị rối
nhiễu tâm trí chiếm tới gần 20%.
Theo Trung tâm Nghiên cứu và đào tạo phát triển cộng
đồng (RTCCD), có tới 20% trẻ bị rối nhiễu tâm trí. Những rối
nhiễu từ nhẹ mà không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ
làm tăng sự trầm trọng của các bệnh khác. Tuy nhiên, những
dấu hiệu để nhận biết ban đầu căn bệnh này không phải dễ
thấy.
Phía đông giáp huyện Ứng Hòa, ranh giới là sông Đáy.
-
Phía bắc giáp huyện Chương Mỹ.
-
Phía tây giáp các huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
-
Phía tây nam giáp huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.
-
Phía đông nam giáp huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
Huyện có địa hình đồng bằng, cao trung bình 1 - 3m. Phía
Tây và Nam có núi, núi Hương Sơn có đỉnh cao nhất 397m, có
cánh đồng và thung lũng Karst, có vẻ đẹp nổi tiếng. Sông Đáy
chảy suốt chiều dài huyện, hồ lớn nhất là hồ Quan Sơn.
Đây là một huyện thuộc vùng bán sơn địa, nằm ở phía nam
của đồng bằng Bắc Bộ. Phía nam là vùng núi đá vôi hang
động Karst, có khu thắng cảnh chùa Hương. Huyện còn có hồ
nước lớn là hồ Quan Sơn, nằm trên địa phận xã Hợp Tiến. Ở rìa
phía đông có sông Đáy chảy theo hướng từ Bắc xuống Nam
sang tỉnh Hà Nam.
+ Diện tích tự nhiên của huyện Mỹ Đức là 226,913 km²
+ Dân số là 177.020 người (theo số liệu thống kê năm
2012).
Nguồn
:
https://vi.wikipedia.org/wiki/Mỹ_Đức
,
https://diachiso.vn/ha-noi/my-duc)
3. Đánh giá thực trạng hoạt động CTXH trong chăm sóc
sức khỏe tâm thần cho học sinh THPT tại huyện Mỹ Đức
3.1. Thực trạng:
HIện nay, trên địa bàn huyện Mỹ Đức có 7 trường THPT,
trong đó có 4 trường thuộc hệ công lập và 3 trường hệ dân lập
(bao gồm hệ thống Giáo dục thường xuyên tại huyện) . Tổng số
học sinh đang theo học tại các trường THPT trên địa bàn huyện
16
là khoảng 7000 học sinh. Mỗi năm, toàn huyện có khoảng 2300
học sinh bước vào kỳ thi tốt nghiệp THPT.
Thực tế thấy được có không ít các em học sinh vì trầm
cảm, rối loạn lo âu trong một thời gian dài dẫn đến các trường
hợp đáng tiếc xảy ra như bệnh trở nặng và phải điều trị nội trú,
hoặc đáng tiếc hơn là tự tử. Theo số liệu ghi lại được ở địa bàn
huyện Mỹ Đức thì 5 năm trở lại đây chưa có trường hợp nào tự
tử do trầm cảm trong môi trường học đường. Tuy nhiên, số
trường hợp học sinh mắc RNTT ở mức độ nặng phải điều trị nội
trú trong bệnh viện hay bỏ học do không được can thiệp, hỗ trợ
sớm thì không ít.
một nguyên nhân quan trọng gây RNTT ở học sinh. Điều đáng
nói ở đây chính là sự áp lực do chính bản thân các em gây ra,
học sinh THPT là lứa tuổi có sự không ổn định về tâm tư, suy
nghĩ đôi khi điều đó dẫn đến sự kỳ vọng, tự tin qua mức vào
năng lực của bản thân.Một khi không đạt được sự kỳ vọng đó sẽ
-
làm các em có nhiều nguy cơ dẫn đến các vấn đề về SKTT.
Nhiều bậc cha mẹ kỳ vọng quá nhiều ở con cái và điều này cũng
tạo áp lực cho các em : việc thúc giục gây sức ép hay việc áp
đặt mục tiêu tương lai cho con cái vô hình chung tạo nên gánh
nặng rất lớn cho các em. Các bậc làm cha làm mẹ phần lớn nghĩ
rằng những việc đó là định hường tương lai giúp con cái, là
muốn tốt cho con.Nhưng không, đôi khi đó là nguyên nhân gây
cho các em nỗi sợ hãi và sự áp lực rất lớn khiến cho các em
stress gây ra những hậu quả đáng tiếc mà hậu quả đáng tiếc
-
nhất đó chính là tự tử.
Sự thay đổi các mối quan hệ bạn bè là những yếu tố stress dẫn
-
đến các bệnh lý về tâm thần.
Bạo lực học đường cũng là một vấn đề gây nhiều tranh cãi
không chỉ ở thời gian gần đây và nó cũng là một nguyên nhân
chính gây ra các vấn đề về SKTT như trầm cảm hay thậm chí là
tự tử. Bạo lực giữa học sinh và học sinh đang là mối nguy hại
Bích
Huyền
-
http://suckhoedoisong.vn/suc-khoe-tam-than-hoc-duongn53810.html )
b. Các biểu hiện rối loạn tâm thần ở học sinh THPT:
Các dạng biểu hiện của rối nhiễu tâm trí
Theo Trung tâm Tham vấn Nghiên cứu và Tâm lý học cuộc
sống số đông rối nhiễu tâm trí, sau một thời gian dài có thể hồi
phục. Một tỷ lệ nhỏ các đợt bệnh diễn biến mau dần, các triệu
chứng xuất hiện rõ rệt và thường xuyên hơn, ảnh hưởng lớn đến
sinh hoạt và học tập của trẻ. Trẻ trở nên rất khó tập trung trong
học tập, học hành sa sút ở tất cả các môn bất chấp mọi cố
gắng.
19
Những hậu quả đáng tiếc xảy ra với lứa tuổi học sinh như
chán học, bỏ học, phá rối, bỏ nhà ra đi hoặc tự tử, phần lớn bắt
nguồn từ rối nhiễu tâm trí không được phát hiện và điều trị kịp
thời.
* Đối với học sinh đang đi học nói chung.
Dưới đây là những rối loạn chính thường gặp phải ở trẻ
em lứa tuổi học đường. Việc xem xét điều trị tâm lý cho trẻ chỉ
có thể thực hiện được nếu tần số xuất hiện và hoặc cường độ
biểu hiện của các triệu chứng thực sự rõ ràng.
đi những sở thích tham gia vào các hoạt động mà trước kia
mình hứng thú; giảm hoặc mất đi sự ngon miệng; gầy sút cân
hoặc tăng cân trong một thời gian ngắn, mà không có một căn
bệnh nào khác của cơ thể, có những rối loạn về giấc ngủ, hay
quên, kém tập trung vào công việc; có ý nghĩ muốn chết, có thể
có hành vi tự sát hay hủy hoại bản thân.
- Rối loạn lo âu: Rối loạn lo âu thường có biểu hiện như sau:
Bồn chồn, bứt dứt, khó chịu, đứng ngồi không yên; vã mồ hôi;
run tay chân; ngủ kém, cảm giác đau đầu, đau dạ dày, căng
đau ở cơ; cảm xúc không ổn định, trẻ biểu hiện chậm chạp,
thường xuyên vắng mặt ở lớp học, ít tham gia vào các hoạt
động giao lưu với bạn bè ở lớp; trẻ lo lắng quá mức. Nhiều
trường hợp rối loạn lo âu có thể dẫn đến kết hợp sử dụng thêm
chất kích thích như rượu, và các chất gây nghiện khác; có biểu
21
hiện của trầm cảm kèm theo.
- Bệnh lý loạn thần: Là một trạng thái rối loạn tâm thần ít
gặp hơn so với rối loạn lo âu trầm cảm. Thường thì đây là một
bệnh lý nặng và những stress căng thẳng khi thi cử là yếu tố
thúc đẩy khởi phát của tình trạng loạn thần. Tuy ít gặp hơn
nhưng rối loạn loạn thần cấp thường là bệnh nặng, phải điều trị
nội trú, người bệnh thường biểu hiện với những triệu chứng
hoang tưởng, ảo giác, rối loạn hành vi tác phong nhiều. Tuy
nhiên cũng có những trường hợp bệnh biểu hiện từ từ, kín đáo,
và đến khi phát hiện bệnh thì người bệnh đã ở trạng thái bệnh
nặng.
3.3 Nhu cầu của đối tượng
Phần lớn các học sinh khi gặp phải các vấn đề về sức khỏe
môi trường giáo dục nhận được rất nhiều sự quan tâm của người
dân địa phương. Đặc biệt là đối với các khóa học sinh THPT do
đây là độ tuổi có nhiều thay đổi về tâm, sinh lý và các em cuối
cấp chịu nhiều áp lực nhất trước kỳ thi tốt nghiệp , đại học.
Song song với đó, thực hiện Quyết định 327 của bộ Giáo Dục &
Đào Tạo, huyện Mỹ Đức đẩy mạnh phát triển ngành CTXH trong
trường học. Theo đó, các cơ sở giáo dục trên địa bàn đều cử cán
bộ đi bồi dưỡng kiến thức chuyên ngành CTXH và lên kế hoạch
thành lập tổ CTXH trợ giúp học sinh trong trường. Nhờ vậy,
những năm gần đây, công tác chăm sóc sức khỏe cho học sinh
THPT nói riêng và học sinh nói chung có nhiều tiến triển hơn.
Hoạt động CTXH đối với chăm sóc sức khỏe tâm thần cho
học sinh tại địa bàn huyện Mỹ Đức bao gồm: Tham vấn, can
thiệp sớm đối với các trường hợp RNTT, Kết nối, chuyển gửi;
Giáo dục kỹ năng và đẩy mạnh tuyên truyền.
-
Tham vấn trị liệu: Tham vấn giúp giải tỏa tâm lý cho những học
sinh gặp các vấn đề như stress, chịu bạo lực, giúp các em có cơ
hội được giải bày tâm sự, lắng nghe những suy nghĩ của các em,
những dồn nén trong lòng, tránh tình trạng lo âu, stress, trầm
-
cảm vì không có người chia sẻ.
Hoạt động cung cấp các chương trình giáo dục , tập huấn kĩ
năng sống cho học sinh: NV CTXH phối hợp với nhà trường tổ
chức các buổi trao đổi với học sinh nhằm cung cấp kiến thức, kỹ
năng tự vệ, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn , kỹ năng giải tỏa
căng thẳng ,… nhằm ngăn ngừa các tình trạng stress quá độ,
với chính quyền địa phương để tuyên truyền về vấn đề chăm
sóc sức khỏe tâm thần cho học sinh tại địa phương.
3.5. Đánh giá
* Hiệu quả hoạt động:
Hoạt động CTXH trong chăm sóc sức khỏe tâm thần cho
học sinh THPT tuy còn mới mẻ nhưng đã đem lại nhiều kết quả
tích cực. Theo số liệu tại các trường THPT tại địa bàn, trung bình
mỗi ngày có 1,2 học sinh tới phòng CTXH hoặc các phòng kiêm
nhiệm chức năng CTXH trong trường để được hỗ trợ. Nhiều
trường hợp học sinh có các dấu hiệu trầm cảm, bạo lực học
đường được phát hiện và can thiệp sớm để giải quyết. Học sinh
trong trường cơ bản được trang bị một số kỹ năng giải quyết
căng thẳng, lo âu, kỹ năng trò chuyện, giải tỏa với phụ huynh.
Mối quan hệ giữa giáo viên – học sinh được cải thiện. Số học
sinh THPT bỏ học trên toàn huyện giảm.
* Hạn chế
Thực tế tại địa phương, hoạt động CTXH chăm sóc sức khỏe
tâm thần cho học sinh THPT đã được thực hiện, tuy nhiên, tại
hầu hết các cơ sở công lập thì phòng CTXH còn khá mờ nhạt và
thường bị đồng hóa với các phòng y tế hay văn phòng Đoàn. Tại
24
địa bàn huyện, chỉ có duy nhất 1 trường dân lập đã xây dựng
phòng CTXH và tổ CTXH riêng biệt.
Hoạt động CTXH vẫn còn khá mới mẻ đối với học sinh và
phụ huynh, học sinh còn mang tâm lý ngại ngùng khi tiếp xúc
với cán bộ, nhân viên CTXH . Hoạt động tuyên truyền và các
buổi tuyên truyền, cung cấp kỹ năng còn chưa thường xuyên,
dẫn đến tình trạng học sinh quên hoặc không được cung cấp
địa phương
Trình độ chuyên môn của nhân viên CTXH chưa hoàn thiện, còn
25