SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPTH HOẰNG HÓA 4
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ HÌNH THỨC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦNG CỐ
TRONG GIỜ HỌC NGỮ VĂN NHẰM HƯỚNG TỚI PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC VÀ TẠO HỨNG THỨ CHO HỌC SINH
Người thực hiện: Nguyễn Ngọc Bích
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM 2019
MỤC LỤC
1.PHẦN MỞ ĐẦU……………………………………………………………………1
1.1.
Lí do chọn đề tài………………………………………………………....1
1.2. Mục đích nghiên cứu:……………………………………………….……..1
1.3. Nhiệm vụ nghiên cứu:……………………………………………………...2
1.4. Đối tượng nghiên cứu:……………………………………………………..2
2. PHẦN NỘI DUNG………………………………………………………….…..…2
2.1. Cơ sở lí luận của đề tài……………………………………………….…...2
2.1.1. Yêu cầu đổi mới giáo dục của Nhà nước:………………………..…….2
2.1.2. Những đổi mới trong GD………………………………………………3
2.2. Thực trạng tổ chức hoạt động củng cố trong giờ học Ngữ văn hiện nay
Tuy nhiên, việc dạy học môn ngữ văn đã đáp ứng được yêu cầu của thời đại, đặc biệt
là trong việc đào tạo con người của thời đại mới hay chưa thì còn là vấn đề đang bỏ
ngỏ.
Không thể phủ nhận rằng dạy Văn trong nhà trường phổ thông đang là một thử
thách lớn với giáo viên hiện nay. Dạy như thế nào cho hay, hiệu quả cao, tạo sự hứng
thú, say mê cho học sinh quả thực là cả một vấn đề lớn. Với vai trò tổ chức, hướng
dẫn và điều khiển quá trình học tập của học sinh, hơn ai hết việc phải tìm ra nhiều
biện pháp để phát huy cao nhất tính tích cực sáng tạo của người học, tạo niềm hứng
thú say mê học tập ở các em chính là nhiệm vụ quan trọng đối với mỗi người giáo
viên đứng lớp. Mục đích của hoạt động củng cố là tổng kết những kiến thức trọng
tâm của tiết học, gợi ý cho học sinh, kích thích hứng thú, tạo không khí học tập sôi
nổi. Bởi như Khổng Tử đã nói: “Biết mà học không bằng thích mà học, thích mà học
không bằng vui mà học”. Từ nội dung của câu nói và thực tế giảng dạy, ta thấy niềm
vui và sự ham thích sẽ là một động lực lớn giúp học sinh vượt qua khó khăn để vươn
lên. Có thể nói, hoạt động củng cố có vai trò như sự trải nghiệm để học sinh nhận thức
bài học một cách sâu sắc hơn. Đây chỉ là một khâu nhỏ, nhưng lại có vị trí quan trọng,
có tác dụng đúc kết lại toàn bộ bài học và gắn bó với các hoạt động còn lại. Vậy nên,
người dạy - học không thể bỏ qua.
Xuất phát từ những vấn đề trên, với mong muốn góp một phần vào việc
tạo thêm hứng thú cho người học, giúp học sinh tích cực, chủ động tiếp nhận tri thức
và hình thành kĩ năng, phát triển nhân cách, đồng thời nhằm góp phần đổi mới những
phương pháp dạy học Ngữ văn truyền thống tôi mạnh dạn xin được trao đổi một số
kinh nghiệm của bản thân trong quá trình giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở trường THPT.
Chúng tôi chọn đề tài “Một số hình thức tổ chức hoạt động củng cố trong giờ
học ngữ văn nhằm hướng tới phát triển năng lực và tạo hứng thú cho học sinh”.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
- Việc đổi mới các hình thức dạy học trong hoạt động củng cố là một khâu trong yêu
cầu đổi mới phương pháp dạy- học nói chung. Việc đổi mới này nhằm hướng tới mục
2.1. Cơ sở lí luận của đề tài
2.1.1. Yêu cầu đổi mới giáo dục của Nhà nước:
- Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng
hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng
của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập
trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập
nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp
sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa,
nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong
dạy và học”. Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo
Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương
pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổi
mới phương pháp dạy học theo hướng này.
- Căn cứ vào nghị quyết số 40/2000/QH 10 của quốc hội về đổi mới chương trình giáo
dục phổ thông
- Thực hiện theo quyết định số 16/2006 QĐ- BGD ĐT về việc ban hành cương trình
giáo dục phổ thông ngày 5/5/2005 bộ trưởng bộ giáo dục và đào tạo đã kí về áp dụng
theo chuẩn kiến thức kĩ năng.
- Căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ năm học 2018-2019 của ngành GD tỉnh
2.1.2. Những đổi mới trong GD
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo
dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm
đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì
qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy
học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn
luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất. Tăng cường việc học tập trong
nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan
Ba, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở thành
môi trường giao tiếp GV - HS và HS - HS nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh
nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung.
Bốn, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến
trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú trọng phát
triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức như
theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê
phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót.
2.2. Thực trạng tổ chức hoạt động củng cố trong giờ học Ngữ văn hiện nay
2.2.1 Thực trạng về phía giáo viên
Trước những định hướng đổi mới của Đảng, nhà nước và của ngành về dạy học
phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh; cơ bản giáo viên nhà trường nói
chung và giáo viên bộ môn Văn nói riêng đã có tinh thần đổi mới phương pháp dạy
học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực của các em. Tuy
nhiên sự quan tâm đổi mới chưa nhiều, chưa thực sự đi vào chiều sâu; đôi khi còn qua
loa, hình thức. Việc thực hiện tiết dạy của giáo viên vẫn còn theo hình thức cũ: nặng
về lý thuyết, thiếu đi tính hấp dẫn, lôi cuốn học sinh ngay từ hoạt động vào bài; giáo
viên còn xem nhẹ việc dẫn dắt vào bài mà chủ yếu dành thời gian cho việc tìm hiểu
kiến thức mới dẫn đến tiết học khô khan, học sinh thụ động trong việc tiếp thu kiến
thức. Một tiết dạy thu hút được sự chú ý, kích thích được sự tò mò tìm hiểu của học
sinh phải xuất phát ngay từ đầu tiết dạy đến những hoạt động củng cố cuối cùng để
tạo nên hứng thú học tập cho học sinh. Tuy nhiên trên thực tế, cá nhân tôi (ở các năm
học trước) và hầu hết giáo viên khi thiết kế kế hoạch dạy học thường chỉ làm theo
hình thức, như vậy sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian dành cho hoạt động khai thác
kiến thức mới, không lo lắng nhiều về vấn đề thiếu thời gian, cháy giáo án… do đó
tiết học tương đối khô khan, thiên về lý thuyết và giảng giảng mà thiếu di sự hợp tác
tích cực của học sinh; học sinh đã có tâm lý thụ động chờ giáo viên dẫn dắt nội dung
và truyền thụ một chiều, từ đó sẽ khó tạo tâm lý để các em sẵn sàng thực hiện nhiệm
Dùng máy tính trình chiếu các ô chữ trên powerpoint. Kẻ sẵn các ô chữ trên bảng.
Ưu điểm:
Dễ thực hiện, khắc sâu được kiến thức, vừa học vừa chơi, không bị gò bó, máy móc.
Nhược điểm: Không kiểm tra được học sinh yếu vì thường những học sinh khá giỏi
thường hay nhanh tay trả lời trước
Trò chơi ai nhanh hơn
Luật chơi:
GV chia lớp thành nhiều đội, thi xem đội nào trả lời nhanh hơn một câu hỏi bất kì,
hoặc thực hiện được yêu cầu của GV.
Ưu điểm:
Dễ chơi, học sinh được vận động nên các em rất hào hứng. Hoạt động tập thể giúp
hình thành năng lực giao tiếp, năng lực hơp tác cho các em.
Nhược điểm:
Chỉ thực hiện được ở một số bài.
2.3.2.Hình họa hóa hoặc sơ đồ hóa kiến thức đã học
Yêu cầu học sinh tóm tắt lại nội dung bài học bằng cách mô hình hóa kiến thức bằng
sơ đồ. Hoặc các em tự do lựa chọn một nội dung mà các em ấn tượng nhất để hình
họa hóa, cùng với lời bình ngắn gọn về bức hình là nội dung mà các em lựa chọn.
2.3.3.Ngoại khóa
Chia lớp thành nhiều nhóm, yêu cầu các em hoàn thành nhiệm vụ học tập bằng cách
thực tế hóa một nội dung bài học.
2.3.4.Một số ví dụ cụ thể:
Ví dụ 1: tổ chức hoạt động củng cố cho bài học Chiến thắng Mtao-Mxây
1/ Trò chơi giải ô chữ
Ô chữ 1: Gợi ý: Đăm Săn là sử thi của dân tộc nào?
Trả lời: dân tộc Ê đê
Ô chữ 2: Gợi ý: Đăm Săn thuộc loại sử thi gì?
Trả lời: sử thi anh hùng
2/ GV phân nhóm, yêu cầu học sinh trình bày quan điểm của mình về Mỵ Châu
dựa trên 2 cách đánh giá:
- Mỵ Châu la người con gái đáng thương
- Mỵ Châu là người con gái đáng giận
Yêu cầu học sinh tìm các lí lẽ và dẫn chứng, bằng lập luận của bản thân, bảo vệ
được quan điểm của đội mình.
Ví dụ 3: Hoạt động củng cố sau bài Tấm Cám
1/ Vẽ tranh, sơ đồ hóa quá trình hóa thân của Tấm
Thuyết minh ý nghĩa từng hình thức hóa thân
Lần 1. Chim vàng anh: loài chim dân giã, nhỏ bé nhưng có giọng hót hay, là biểu
tượng cho con người Tấm: giản dị, nhỏ bé nhưng có tấm lòng thơm thảo
Lần 2. Cây xoan đào: là loài cây thân thuộc, mang linh hồn của nông thôn Việt
Nam, thơm tho, quý giá. Cũng như con người Tấm, sinh ra chốn miền quê lam lũ
nhưng đẹp đẽ, sáng ngời.
Lần 3. Khung cửi: Gắn liền với những sinh hoạt của người dân, là cái ăn cái mặc
của nhân dân.
Lần 4. Quả thị: là chi tiết mang tính thẩm mĩ cao. Nó là vẻ đẹp bình dị của cô Tấm
không cao sang quyền quý nhưng cũng không lam lũ nhếch nhác. Là vẻ đẹp tươi
mới tràn đầy sức sống, từ đây Tấm chấm dứt cuộc đời đau khổ, sống giữa cuộc
đời, làm đẹp cho đời. Sự trở về trong hình hài con người, xinh đẹp hơn xưa thể
hiện vẻ đẹp đậm chất nhân văn: ở hiền gặp lành, đồng thời thể hiện triết lí: hạnh
phúc lớn nhất là hạnh phúc ngay tại cuộc đời trần thế hiện tại.
Ví dụ 4: Hoạt động củng cố sau bài Cao dao than thân, yêu thương tình nghĩa
1/ Yêu cầu học sinh sưu tầm chùm ca dao than thân bắt đầu bằng môtip “thân em”.
2/ Vẽ tranh thể hiện cảm nhận của học sinh về một bài ca dao tâm đắc nhất.
2.4.
Hào hứng
32
25,4
Rất hào hứng
94
74.6
Hoạt động củng cố có giúp em hiểu 126
bài nhanh hơn và sâu hơn không?
Không
0
Hiểu nhanh và sâu hơn
64
50,8
Rất có hiệu quả
62
49,2
học tập cho học sinh. Một tiết học có thực sự tích cực và thu hút sự quan tâm chú ý củ
học sinh hay không thì phải bắt đầu ngay từ hoạt động đầu tiên đến hoạt đôgnj cuối
cùng. Quá trình đổi mới phương pháp dạy học cần có sự hỗ trợ nhiều của các phương
tiện học tập trực quan, với điều kiện cơ sở vật chất của trường THPT Hoằng Hóa 4
tương đối đầy đủ đáp ứng cho việc đổi mới các tiết học. Do đó GVBM cần bồi dưỡng
khả năng sử dụng công nghệ thông tin, sử dụng các thiết bị dạy học mới để tiết học có
hiệu quả tố
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận:
Đổi mới phương pháp dạy học nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả
giáo dục về kiến thức – kỹ năng và hình thành những năng lực cần thiết cho học sinh
trong thời đại mới; để thực hiện được điều đó thì vai trò của người giáo viên cần tiên
phong đi đầu trong công tác đổi mới. Việc đổi mới không phải bắt đầu từ hoạt động
học mà cần bắt đầu từ hoạt động dạy của người thầy. Hoạt động dạy- học lúc này
chuyển từ việc lấy giáo viên hay học sinh làm trung tâm sang lấy hoạt động học của
học sinh làm trung tâm; tất cả các hoạt động tiến hành trong tiết học đều hướng tới
mục tiêu là hoạt động học của học sinh, thông qua hoạt động học để học sinh tích cực
và chủ động tiếp thu kiến thức – kỹ năng và hình thành năng lực. Để định hướng và
tạo đà cho các hoạt động học tập, hình thành kiến thức trong mỗi tiết học thì việc khởi
động là cần thiết, do đó đổi mới cần thiến hành trước tiên từ hoạt động khởi động.
Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và vận dụng các giải pháp đổi mới nhằm phát huy
tính tích cực của học sinh trong các tiết học, tôi nhận thấy việc đổi mới hoạt động dạy
học là cần thiết. trong đó hoạt động củng cố . Từ kết quả và ý nghĩa của đề tài, tôi
nhận thấy giải pháp đưa ra không những vận dụng tốt ở các lớp cá nhân tôi thực hiện
giảng dạy mà có thể nhân rộng mô hình này đến tất cả các GV bộ môn Văn cũng như
các GVBM khác trong nhà trường THPT nhằm phát huy tính tích cực của học sinh
trong các môn học; góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của mỗi giáo viên cũng
như của nhà trường đồng thời cũng giúp học sinh chủ động hơn trong học tập, trong
việc tìm hiểu kiến thức, và đó cũng là tiền đề cần thiết để hình thành các kỹ năng sống
tích cực cho học sinh THPT.