TỔ CHỨC MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG TRÒ CHƠI TRONG GIỜ
NGỮ VĂN NHẰM HƢỚNG TỚI PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA
HỌC SINH
A. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Chương trình dạy học truyền thống có thể gọi là chương trình giáo dục “định
hướng nội dung”. Điểm cơ bản của chương trình này là chú trọng truyền thụ tri thức
khoa học theo các môn học đã được quy định trong chương trình dạy học. Người ta
chú trọng việc trang bị cho người học hệ thống tri thức khoa học khách quan về nhiều
lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên chương trình giáo dục này chưa chú trọng đầy đủ đến
chủ thể người học cũng như đến khả năng ứng dụng tri thức đã học trong những tình
huống thực tiễn. Mục tiêu dạy học trong chương trình định hướng nội dung được đưa
ra một cách chung chung, không chi tiết và không nhất thiết phải quan sát và đánh giá
được một cách cụ thể nên không đảm bảo rõ ràng về việc đạt được chất lượng dạy học
theo mục tiêu đã đề ra.
Ngày nay, tri thức thay đổi nhanh chóng, việc quy định cứng ngắc những nội
dung chi tiết trong chương trình dạy học nhanh chóng bị lạc hậu so với những tri thức
hiện đại. Do đó việc rèn luyện phương pháp học tập ngày càng có ý nghĩa quan trọng
trong việc chuẩn bị cho con người có khả năng học tập suốt đời. Trong khi đó chương
trình giáo dục này không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội và thị trường
lao động đối với người lao động về năng lực hành động, khả năng sáng tạo và tính
năng động.
Chương trình giáo dục định hướng năng lực được bàn đến nhiều từ những năm
90 của thế kỉ 20 và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế. Giáo dục định
hướng năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực của người học. Ưu điểm của
chương trình này là tạo điều kiện quản lí chất lượng theo kết quả đầu ra đã quy định,
nhấn mạnh năng lực vận dụng của học sinh.
Xuất phát từ thực tế giảng dạy nêu trên, tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp
của bản thân nhằm nâng cao chất lượng lượng bộ môn và trau dồi chuyên môn.
B. PHƢƠNG PHÁP THỰC HIỆN
II. Về biện pháp
Từ thực tế giảng dạy, chúng tôi đã tổng kết, rút ra kinh nghiệm và khái quát thành
một số trò chơi có thể áp dụng cho tiết dạy và học như sau:
1. Nghe nhanh nhanh, nói nhanh nhanh
Ở trò chơi này, HS sẽ được xem một đoạn phim hay một clip ca nhạc. Sau đó GV sẽ
đưa ra yêu cầu. Tùy theo từng tiết dạy, GV đưa ra yêu cầu khác nhau. VD : tìm thành
ngữ được sử dung trong phim ( Bài Thành ngữ lớp 7), tìm từ ngữ địa phương ( bài
Chương trình địa phương 7,8,9), tìm thuật ngữ (bài Thuật ngữ lớp 9), tìm ca dao- tục
ngữ (các bài ca dao, tục ngữ lớp 7),,… được sử dụng trong phim. Trò chơi không những
giúp HS khắc sâu từ ngữ, câu thơ chính xác trong trí nhớ mà còn giúp HS có sự tư duy
cũng như sự nhanh nhạy trong xử lí bài tập qua đó phát huy năng lực tự học, năng lực
giải quyết vấn đề.
Mỗi lớp chia thành 2, 3 hay 4 đội tùy theo GV, các đội chuẩn bị bảng học tập.
Nhiệm vụ của người chơi là nghe nhìn đoạn phim và tìm các từ, cụm từ theo yêu cầu
của GV. Đội nào tìm được nhiều nhất là thắng cuộc.
Các hình ảnh và từ khóa phải liên quan đến bài học.
Để thực hiện trò chơi này, trước tiên GV phải định hình xem sẽ đưa ra những từ
ngữ, tục ngữ, thành ngữ,… nào phù hợp với bài tập. Sau đó GV tìm những đoạn phim
phù hợp. Ta có thể tìm kiếm những hình ảnh này ở trên mạng Internet.
* Thực hiện:
- Cách 1: tại phòng chức năng với giáo án điện tử và các clip đã được tải sẵn trong
máy.
2
- Cách 2: tại lớp với máy cát-sét những bài hát đã sưu tầm.
Ví dụ minh họa: Cho clip trích phim Mẹ vắng nhà.
Hs tìm từ địa phương trong đoạn trích trên.
3. Nhanh tay nhanh mắt
Trò chơi Nhanh tay nhanh mắt nhằm phát huy năng lực tính toán, năng lực giải
quyết vấn đề, năng lực hợp tác.
Để phục vụ cho trò chơi, GV cần sưu tầm một số đoạn văn, đoạn thơ ngắn hoặc
cũng có thể lấy ngay những đoạn văn của HS trong những tiết trả bài viết để các em tự
phát hiện và sửa sai.
Trò chơi này yêu cầu HS phát hiện ra lỗi chính tả hoặc lỗi diễn đạt được cố tình
viết sai ở một đoạn văn, một đoạn thơ một cách nhanh nhất. Sau khi phát hiện lỗi sai,
HS sẽ sửa lại cho chính xác. GV dựa vào kết quả mà cho điểm từng đội. Trò chơi này
rèn luyện cho HS sự nhanh nhạy, khả năng phản ứng trước những lỗi chính tả thường
gặp để từ đó không lặp lại những lỗi sai ấy. Đơn cử như các bài Trả bài viết (6, 7, 8, 9),
bài Chương trình địa phương (6, 7, 8, 9), Tổng kết từ vựng (lớp 9),...
* Thực hiện:
- Cách 1: tại phòng chức năng với giáo án điện tử và các đoạn văn đã được đánh
sẵn trên máy tính.
- Cách 2: tại lớp với đoạn văn, thơ đã được viết sẵn trên giấy Roki hoặc bảng từ
loại nhỏ. Cách này các Gv không có nhiều kinh nghiệm soạn giảng trên P. Point có thể
thực hiện tốt trên lớp.
Ví dụ: Ta có đoạn văn đã đƣợc viết sai nhƣ sau:
Bầu trời sám xịt như sà xuống sát mặt đất. Sấm rền vang, chớp lóe xáng rạch xé
cả không gian. Cây xung già trước của sổ trút lá theo trận lốc, trơ lại những cành xơ sác,
khẳng khiu. Đột nhiên, trận mưa dông xầm xập đổ, gõ lên mái tôn loảng soảng.
=> Bầu trời xám xịt nhƣ sà xuống sát mặt đất. Sấm rền vang, chớp lóe sáng
rạch xé cả không gian. Cây sung già trƣớc của sổ trút lá theo trận lốc, trơ lại
những cành xơ xác, khẳng khiu. Đột nhiên, trận mƣa dông sầm sập đổ, gõ lên mái
tôn loảng xoảng.
4. Trò chơi tiếp sức
Tổ chức Trò chơi tiếp sức nhằm phát huy năng lực giải quyết vấn đề, năng lực
hợp tác, sự nhanh nhẹn về thể chất cũng như tinh thần.
5
6. Hiểu ý đồng đội
Trò chơi này nhằm phát triển năng lực hợp tác, sáng tạo, sử dụng ngôn ngữ và
giải quyết vấn đề của học sinh. Trò chơi này có thể sử dụng tốt trong các tiết Tiếng Việt
nhằm rèn luyện cho HS khả năng vận dụng ngôn ngữ, tìm được từ đồng nghĩa, trái
nghĩa một cách chính xác để làm giàu thêm vốn từ vựng của mình. Đồng thời rèn luyện
cho HS phản ứng nhanh nhạy, rèn kĩ năng nghe- hiểu- liên tưởng,… hoặc cũng có thể
áp dụng cho một số tiết Văn bản nhằm củng cố lại các thể loại văn học cũng như các tác
phẩm Văn học đã được học. Đơn cử như bài Chương trình địa phương (lớp 6, 7, 8, 9),
Thành ngữ (lớp 7), hay các tiết ôn tập Văn bản, Tiếng Việt.
Ở trò chơi này, mỗi đội cử 2 HS, một HS quay lưng vào màn hình, HS kia nhìn
lên màn hình xem tranh rồi diễn tả bằng hành động và từ ngữ ( không trùng với từ có
trong từ khoá) sao cho đồng đội của mình có thể trả lời đúng từ khoá (mỗi từ khoá có
thời gian là 30 giây). Đội nào trả lời đúng nhiều từ nhất sẽ là đội thắng cuộc.
Trong trò chơi này, Gv cần chuẩn bị nhiều hình ảnh có liên quan đến các từ khóa
phù hợp với bài tập hoặc yêu cầu của SGK, nhưng từ khóa phải tương đối dễ hiểu, dễ
giải thích nghĩa thì trò chơi mới thành công. Ngược lại, từ khóa quá khó sẽ dễ làm HS
chán nản và không có hứng thú khi không thể giải được từ nào.
* Thực hiện:
- Cách 1: tại phòng chức năng với giáo án điện tử và các hình ảnh đã được tải sẵn
trong máy và sinh động hơn với đồng hồ đếm ngược từng giây.
- Cách 2: tại lớp với tranh ảnh tự in, tự ép giấy kiếng. Cách này có thể thực hiện
được nhưng khó khăn về mặt tài chính, bảo quản và mất thời gian sưu tầm của Gv cũng
như mất thời gian treo từng tranh trên lớp và đồng hồ thời gian chưa chính xác theo
từng giây. Tuy nhiên, nếu nhiệt tình và tâm huyết với nghề thì Gv vẫn thực hiện tốt,
nhất là với những lớp chọn.
Ví dụ minh họa: để HS khắc sâu sự khác nhau của vần –uôc và –uôt, ta có các
OP
10
30
29
28
27
26
25
24
23
22
21
20
19
18
17
16
15
14
13
12
11
9
8
7
6
5
4
3
trong máy. Khi Hs đoán đúng thì Gv chỉ cần nhấn cho từ hiện ra.
- Cách 2: tại lớp với giấy Roki hoặc bảng từ loại nhỏ đã được viết một vài chữ cho
sẵn, Hs lên điền tiếp những chữ tiếp theo để thành một từ, cụm từ hoàn chỉnh và chính
xác. Cách này có thể thực hiện tốt trên lớp.
Ví dụ: nguồn là bài tập 6/SGK ngữ văn 6 tập 1
b. _ _ y
_ _e
_h_ _
n_a_ _
_ _ _ng
=> cây tre chắn ngang đường
v_ _
_ừng
_ _ ẳ_ _
- ch_ _
=> vào rừng
=> chẳng
_ _y
=> chặt cây
Bƣớc 2: B
C Ô
1 điểm (cô)
Bƣớc 4: B
C Ô M
N Ơ
G
2 điểm (nơ, mơ)
C Ô M
1 điểm (cốm)
Bƣớc 5: A
C Ô M
N Ơ
G I
2 điểm (gì, mời)
8. Trò chơi “Những người trong tranh nói gì?”
8
Bƣớc 3: A
C Ô M
C. PHẦN KẾT LUẬN
I. Tình hình thực tế
1. Thuận lợi:
- Tiết học sinh động, tạo hứng thú, lôi cuốn đối với Hs khiến các em dần yêu thích
giờ học Văn hơn.
- Thông qua tiết học ta có thể phát huy tối đa khả năng liên tưởng, tưởng tượng,
phản ứng nhanh nhạy trong các trò chơi để thấy yêu mến hơn ngôn ngữ dân tộc.
2. Khó khăn:
- Thời lượng phân phối cho bài dạy hạn chế nên khó có thể thực hiện hết các trò
chơi trong một tiết học.
- Để có tiết dạy thật sinh động như trên, Gv cần phải bỏ rất nhiều công sức để tìm
kiếm nhưng không phải dễ để tìm được trò chơi phù hợp với từng bài dạy.
- Nguồn trò chơi sử dụng cho tiết học vẫn rất hạn chế.
II. KIẾN NGHỊ- ĐỀ NGHỊ
9
- Thư viện nhà trường nên có thêm tranh ảnh phục vụ tốt cho quả trình dạy học bài
giảng ngữ văn. Đặc biệt là các tác phẩm nước ngoài, chân dung của một số nhà thơ
lớn, các tài liệu nâng cao cho giáo viên- học sinh.
- Thời gian nghiên cứu chưa nhiều nên tôi rất mong có sự nhận xét, đóng góp của
đồng nghiệp để đề tài của tôi có chất lượng hơn. tôi xin chân thành cảm ơn.
10
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN TÂN BÌNH
TRƢỜNG THCS TÂN BÌNH