Tổ chức một số hoạt động trong giờ ngữ văn nhằm hướng tới phát triển năng lực học sinh - Pdf 32

Phòng GD – ĐT Quận Tân Bình
Trường THCS Tân Bình
Tổ Ngữ Văn

CHUYÊN ĐỀ
TỔ CHỨC MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG TRONG GIỜ
HỌC NGỮ VĂN NHẰM HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC CHO HỌC SINH.

A. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Trong khoảng một thập niên trở lại đây, việc thay sách giáo khoa và đổi mới
phương pháp dạy – học Ngữ văn đã tiến hành rộng khắp trong cả nước. Vai trò và
mối quan hệ giữa người dạy và người học đã khác trước. Sự chủ động, tích cực của
học sinh trong giờ học được đề cao. Các phương tiện dạy – học phong phú hơn.
Đội ngũ thầy, cô giáo trực tiếp đứng lớp được bồi dưỡng thường xuyên về chuyên
môn, về đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra, đánh giá. Chính vì
vậy, chất lượng dạy và học Ngữ văn trong nhà trường THCS có nhiều chuyển biến
đáng kể. Tuy nhiên, kết quả dạy – học Ngữ văn ở trường THCS đã thực sự bắt kịp
với sự phát triển của thời đại, bắt kịp với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời
kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hay chưa thì thật sự còn có nhiều điều đáng bàn.
Đứng trước bối cảnh hiện nay, chúng tôi thực hiện chuyên đề “ Tổ chức một
số hoạt động trong giờ Ngữ văn nhằm hướng tới phát triển năng lực học sinh”. Qua
đây chúng tôi mong muốn được cùng trao đổi và được cùng học tập từ các thầy cô
nhằm nâng cao chất lượng bộ môn và trau dồi về chuyên môn.

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I. Thực trạng việc dạy và học Ngữ văn hiện nay
Kể từ vài năm trở lại đây, vấn đề đổi mới nội dung, phương pháp dạy
Ngữ văn thực sự là giải pháp có tính chiến lược để nâng cao chất lượng dạy và học
môn Văn trong trường phổ thông. Giáo viên mặc dù có ý thức đổi mới phương
pháp dạy học văn nhưng việc thực hiện chỉ mới mang tính hình thức, thử nghiệm

- Một số nội dung kiến thức không phù hợp vẫn chiếm thời lượng khá lớn.

GIÁO VIÊN
- Việc đổi mới phương pháp dạy –
học chưa đồng bộ, nhiều giáo
viên chưa tích cực trong việc đổi
mới phương pháp: vẫn tồn tại
phương pháp dạy học một chiều:
thầy giảng trò chép ( lối dạy nhồi
nhét kiến thức để thi cử).
- Nhiều phát hiện, tìm tòi mới mẻ

HỌC SINH
- Thói thụ động trong học tập là
nguyên nhân cơ bản dẫn đến chất
lượng dạy – học Ngữ văn chưa
đạt với yêu cầu.
- Các em không quan tâm đến các
hoạt động để tự tìm đến tri thức
mà quen nghe, quen chép, ghi
nhớ và tái hiện lại một cách máy
2


-

-

-


định.
 HỆ QUẢ: dẫn tới tiết học
kém hấp dẫn, nặng về cung cấp
kiến thức, dễ sa vào lối đọc chép.

móc, rập khuôn những gì mà
giáo viên đã giảng
- Vì chưa có hào hứng, chưa quen
bộc lộ những suy nghĩ, tình cảm
của cá nhân trước tập thể cho nên
khi phải nói và viết, học sinh cảm
thấy rất khó khăn.
- Nhiều học sinh chưa nhận thức
được tầm quan trọng của bộ môn
Ngữ văn và việc học lệch vì mục
đích thi cử. Số đông học sinh và
cả định hướng của phụ huynh là
tập trung vào các môn học tự
nhiên để sau này thi cử thuận lợi
còn học môn Ngữ văn chỉ là đủ
điểm lên lớp.

-  HỆ QUẢ: dẫn đến lối học ghi
nhớ máy móc, nhàm chán, không
yêu thích bộ môn.

II. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Mục đích việc tổ chức các hoạt động dạy học ngữ văn nhằm
hướng tới việc phát huy năng lực học sinh.
Tổ chức các hoạt động giáo dục trong giờ học có vai trò rất quan trọng trong

trong các tình huống học tập và trong đời sống.
- Hoạt động giáo dục còn giúp học sinh tự điều chỉnh, hành vi, thái độ phù
hợp.
c. Về thái độ:
- Hoạt động giáo dục giúp học sinh bồi dưỡng hứng thú, tích cực học tập,
phát huy năng lực và tính sáng tạo của học sinh.
- Với việc đổi mới phương pháp dạy học như hiện nay, vai trò của người
giáo viên không còn là người truyền thụ kiến thức mà là người tổ chức, kiểm tra,
định hướng hoạt động của học sinh cả ở trong lớp và ngoài lớp học.
- Dạy học nhằm phát triển năng lực cho học sinh đòi hỏi phải tổ chức các
hoạt động dạy học tích cực, tự lực và sáng tạo cho học sinh, đặc biệt quan tâm đến
hoạt động thực hành và ứng dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề thực tiễn.
- Người học không phải đặt trước những kiến thức có sẵn trong sách giáo
khoa hay trong bài giảng của thầy mà được đặt vào những tình huống của đời sống
4


thực tế, từ đó có nhu cầu hứng thú giải quyết vấn đề. Người học trực tiếp quan sát,
thảo luận, đặt giả thiết, vấn đề để tìm ra kiến thức, chân lí.
- Các hoạt động phải hướng đến rèn luyện phương pháp và hình thức tổ chức
dạy học có thể giúp học sinh:
Học tập với niềm say mê, hứng thú, khát khao.
Lĩnh hội tri thức trong các cuộc học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, theo
phương pháp khoa học.
Học trong sự tương tác, trong việc hình thành các quan hệ hợp tác, thân
thiện, cùng nhau giải quyết các vấn đề học tập.
- Tuy nhiên, việc lựa chọn tổ chức các hoạt động dạy học cần phải chú
ý:
* Sự tương thích với nội dung học tập:
Mỗi nội dung dạy học đều liên hệ mật thiết với những hoạt động nhất định.

Ví dụ 2: Đối với phân môn Văn.
Áp dụng trong văn bản: “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới (lớp 6).
Mục đích: học sinh nhận biết được vẻ đẹp bình dị cũng như phẩm chất
quý báu của cây tre.
5


Hoạt động: tổ chức hoạt động thuyết trình.
Bước 1: các tổ cử đại diện lên thuyết trình phần chuẩn bị trước ở nhà.
Bước 2: giáo viên nhận xét.
Bước 3: giáo viên chốt. Học sinh quan sát hình ảnh thực tế: cây tre trong
đời sống thường nhật và cây tre trong chiến đấu.
Ví dụ 3: Đối với phân môn Tập làm văn.
Áp dụng trong tiết: Tìm hiểu chung về văn nghị luận.
Mục đích: giúp học sinh nhận biết về thể loại văn nghị luận.
Hoạt động: tổ chức hoạt động thảo luận nhóm. Học sinh thảo luận về
một vấn đề đã cho.
Tên vấn đề thảo luận: “ Vì sao môi trường ngày càng bị ô nhiễm?”.
Bước 1: Giáo viên chia nhóm, phổ biến thời gian.
Bước 2: Đại diện các nhóm lên trình bày.
Bước 3: Giáo viên nhận xét phần trình bày của các nhóm.
Bước 4: Giáo viên chốt.
* Sự hứng thú, thói quen của học sinh, kinh nghiệm sư phạm của giáo
viên.
- Hứng thú được biểu hiện ở sự tập trung cao độ, ở sự say mê, hấp dẫn
bởi nội dung hoạt động, ở bề rộng và chiều sâu của hứng thú.
- Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của
hoạt động nhận thức, tăng sức làm việc.
- Cùng với tự giác, hứng thú làm nên tính tích cực nhận thức, giúp học
sinh học tập đạt kết quả cao, có khả năng khơi dậy mạch nguồn của sự sáng

hấp dẫn cùng với một bầu không khí thân ái hữu nghị trong giờ học sẽ tạo ra sự
hứng thú cho cả thầy và trò.
Ngoài những hoạt động trên, từ kinh nghiệm giảng dạy việc giúp học
sinh có hứng thú trong các môn học còn có một số nguyên nhân khác như:
+ Giáo viên và học sinh tạo không khí học tập vui vẻ.
+ Học sinh có niềm đam mê với môn học.
+ Học sinh biết học để tìm tòi những điều mới mẻ, tư duy logic, sáng tạo
hơn.
+ Học sinh thấy được tầm quan trọng của việc học…
+ Giáo viên ưu tiên lựa chọn áp dụng các hoạt động nghe nhìn, sử dụng
truyền thông đa phương tiện trong tiết dạy.
* Thay đổi hình thức tổ chức dạy học.
- Hình thức tổ chức dạy học là hình thức vận động của nội dung dạy học
cụ thể trong không gian, địa điểm và những điều kiện xác định nhằm thực hiện
nhiệm vụ và mục tiêu dạy học.
-Trong tiết dạy giáo viên cần tổ chức nhiều hình thức dạy học khác nhau,
xen kẽ, lồng ghép trong bài dạy một cách linh hoạt tránh rập khuôn để gây
hứng thú cho học sinh. Có thể khi giới thiệu bài mới giáo viên tổ chức trò chơi,
khi hình thành kiến thức giáo viên có thể lồng cho thực hành, củng cố từng
phần.
* Phải phù hợp với điều kiện dạy học.
- Khi tổ chức các hoạt động dạy học giáo viên cần phải áp dụng phù hợp
với điều kiện vật chất của trường như: không gian lớp học, sĩ số học sinh của
từng lớp, trình độ học sinh; thiết bị dạy học như: các thiết bị nghe, nhìn, máy
chiếu, bảng phụ, phiếu học tập, bảng tương tác….

7


-Ngoài ra, giáo viên tổ chức các hoạt động dạy học phải khai thác cao

Ví dụ: Để giới thiệu bài “Chiếc lược ngà” (lớp 9). Ta có thể cho HS xem
bức tranh sau và cho biết nhân vật trong tranh nói gì, từ đó giới thiệu về tình
cha con rồi dẫn đến văn bản cần học. Với hoạt động này, ta có thể giúp HS phát
triển kĩ năng sáng tạo, năng lực sử dụng ngôn ngữ.

8


Hiệu quả:
- Xác lập trật tự cho giờ học, để lại những ấn tượng sâu sắc, học sinh hứng
thú tham gia.
b. Hoạt động hình thành kiến thức.
Đây là hoạt động trọng tâm trong tiết dạy, chiếm nhiều thời gian nhất trong
một tiết học. Ở hoạt động này, GV giữ vai trò, chức năng tổ chức, hướng dẫn, định
hướng chứ không phải truyền thụ áp đặt một chiều. HS được đặt vào vị trí trung
tâm của quá trình tiếp nhận, đóng vai trò chủ thể cảm thụ, nhận thức thẩm mĩ để tự
nhận thức, tự giáo dục và phát triển theo mục đích định hướng giáo dục của
GV.Trong đó, hệ thống câu hỏi phù hợp đương nhiên là xương sống của một thiết
kế giáo án. Có nhiều dạng câu hỏi để học sinh sử dụng:
- Loại câu hỏi gợi mở.
- Loại câu hỏi tái hiện.
- Loại câu hỏi nêu vấn đề.
- Loại câu hỏi cảm thụ.
- Loại câu hỏi phân tích.

Tất cả các loại câu hỏi trên giúp học sinh phải chú ý vào bài và tăng cường tư
duy hơn. Tuy nhiên, để tránh sự nhàm chán, mệt mỏi, tập trung kém của học sinh,
người giáo viên nên tổ chức nhiều hoạt động để dẫn dắt học sinh chiếm lĩnh kiến
thức. Có thể là những hoạt động sau:
- Hoạt động thảo luận nhóm.

giọng thành kính trang nghiêm phù hợp với không khí thiêng liêng ở lăng; giọng
tha thiết, sâu lắng phù hợp với cảm xúc tiếc thương, biết ơn, giọng nhanh phù hợp
với nguyện ước sống đẹp và tiếp bước truyền thống dân tộc
Ví dụ 2: Bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy, các em cần đọc với nhịp 2/3;
3/2; 1/2/2. Ba khổ đầu giọng kể chuyện, khổ 4 giọng ngạc nhiên, thề thốt; khổ 5/6
giọng suy tư.
Ví dụ 3: Đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” trích Tắt đèn của Ngô Tất Tố học
sinh có thể đóng vai nhân vật chị Dậu, Cai lệ, người nhà Lí trưởng, anh Dậu. Mỗi
nhân vật đóng vai đọc với giọng khác nhau. Chẳng hạn với vai chị Dậu lúc đầu đọc
với giọng van xin, sợ hãi, thiết tha, … về sau đọc với giọng mạnh mẽ, cứng cỏi,
dứt khoát, …. Còn Cai lệ đọc với giọng ngang tàng, hống hách, kẻ cả,…
Ưu điểm:
- Bước đầu học sinh cảm nhận được nội dung, cảm xúc của tác phẩm.
- Học sinh hiểu được dụng ý của tác giả và tâm trạng của nhân vật.
Khuyết điểm:
- Một số em mới dừng lại ở mức độ đọc thô. Một số em đọc chưa chuẩn từ
khó, ngắt nghỉ tuỳ tiện, đọc lắp, thiếu diễn cảm và chưa biết đọc với cách phân vai.
*Tổ chức: Tìm hiểu văn bản
Mục đích:
10


- Giúp học sinh khám phá các giá trị của văn bản, có khả năng tự tìm kiếm
nguồn thông tin đa dạng của cuộc sống để đáp ứng năng lực, sở thích cá nhân. Vận
dụng trong cuộc sống những hiểu biết từ văn bản đã học vào việc suy luận, bàn
luận, trình bày những giải pháp để giải quyết một vấn đề cụ thể. Qua đó giúp học
sinh phát huy được năng lực tạo lập văn bản, đặc biệt là năng lực viết sáng tạo.
- Qua đó, giáo viên có thể tổ chức các hình thức hoạt động sau:
*Hoạt động thảo luận nhóm:
Đây là dạng hoạt động mà trong đó các thành viên đều giải quyết vấn đề

11


Ví dụ 1: Suy nghĩ của em về chi tiết cuối truyện “Cuộc chia tay của những
con búp bê” (Khánh Hoài) – Tôi (Thành) đứng như chôn chân dưới đất nhìn theo
cái dáng bé nhỏ liêu xiêu của em gái tôi trèo lên xe?
Thảo luận về ý nghĩa cuộc sống mà tác giả gợi ra hoặc thông điệp tác giả
muốn gởi tới người đọc.
Ví dụ 2: Trong bài “Tiếng gà trưa”, từ việc gợi lại những kỉ niệm đẹp của
tuổi thơ và tình bà cháu, tác giả Xuân Quỳnh muốn gởi tới chúng ta thông điệp gì?
Ví dụ 3: Sau khi học xong văn bản “ Chuyện người con gái Nam Xương”
của Nguyễn Dữ, em thấy người phụ nữ cần phải làm gì để bảo vệ hạnh phúc gia
đình?
Ưu điểm:
Hạn chế được lối học thụ động của học sinh, tạo điều kiện cho học sinh hiểu
sâu nội dung trọng tâm hoặc vấn đề khó của đơn vị bài học, tạo được động lực
nhóm và phát huy năng lực của học sinh. Học sinh có tinh thần hợp tác, hỗ trợ,
chia sẻ lẫn nhau.
Khuyết điểm:
- Lớp sẽ bị ồn
- Nếu đơn vị bài dài, không định lượng được thời gian hợp lí sẽ không dạy hết
bài.
- Vẫn có hiện tượng học sinh ỷ vào nhóm trưởng hoặc các thành viên tích cực
khác, do đó giáo viên cần có sự quan sát, tháo gỡ, gợi ý, định hướng cho các nhóm
trong quá trình các em làm việc.
*Hoạt động học theo góc:
- Học theo góc là một kĩ thuật dạy học tích cực. Học theo góc là một hình
thức tổ chức hoạt động học tập theo đó học sinh thực hiện các nhiệm vụ khác nhau
tại các vị trí cụ thể trong không gian lớp học, đáp ứng nhiều phong cách học khác
nhau. Học theo góc khiến học sinh tích cực hơn trong các hoạt động, mở rộng sự


Góc 2

GV
Góc 3

Góc 4

Vòng 1: hình thành kiến thức mới.
-Với vòng này, bốn góc học tập sẽ là bốn góc cố định cùng một mục tiêu
nhưng khác nhau về nhiệm vụ. Cụ thể:
Mục tiêu: thấy được chiến tranh hạt nhân là một hiểm họa đe dọa con
người và sự sống trên trái đất. Vì vậy mọi người phải ngăn chặn nguy cơ ấy để
đấu tranh cho một thế giới hòa bình.
Nhiệm vụ:
- Góc 1: tìm lí lẽ và dẫn chứng để trình bày nguy cơ của chiến tranh
hạt nhân.
-Góc 2: tìm lí lẽ và dẫn chứng để thấy cuộc chạy đua vũ trang là đi
ngược lại lý trí của con người và tự nhiên.
13


-Góc 3: nhiệm vụ đấu tranh cho thế giới hòa bình.
-Góc 4: nhận xét về lí lẽ và dẫn chứng được sử dụng trong văn bản
cũng như lòng nhiệt tình của tác giả.
Vòng 2: Củng cố kiến thức.
Với vòng này 4 góc học tập sẽ là bốn góc luân chuyển.
Góc 1: viết bài luận.
 Mục tiêu: viết một bài văn ngắn trình bày suy nghĩ sau khi học
xong văn bản.



động. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, còn học sinh chủ động vận dụng kiến
thức của bài học vào thực hành. Từ đó, học sinh củng cố và khắc sâu được kiến
thức mà giáo viên đã truyền đạt. Với hoạt động luyện tập- ứng dụng, chúng tôi
thường tổ chức một số hình thức sau:
-Vẽ sơ đồ tư duy.
-Trò chơi: ô chữ, tiếp sức, đuổi hình bắt chữ, nhanh tay nhanh mắt,…
-Vẽ tranh, sáng tác thơ,…

Mục đích: học sinh có thể áp dụng những kiến thức đã học vào việc
giải quyết các bài tập, xử lí tình huống cụ thể, qua đó học sinh phát huy các năng
lực tư duy, sáng tạo, giải quyết vấn đề trong thực tiễn.
Dưới đây là một số hình thức hoạt động có thể áp dụng cho học sinh
như sau:
Hoạt động: vẽ sơ đồ tư duy
- Sơ đồ tư duy (SĐTD) là phương pháp kết nối mang tính đồ họa có tác dụng
lưu giữ, sắp xếp và xác lập ưu tiên với mỗi loại thông tin bằng cách sử dụng từ
hay hình ảnh then chốt hoặc gợi nhớ, làm bật lên những kí ức cụ thể và phát sinh
những ý tưởng mới.
- SĐTD giúp học sinh học học tập chủ động, tích cực, hệ thống lại kiến thức đã
học.
- Việc sử dụng thành thạo SĐTD trong dạy học, sẽ giúp học sinh học được
phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy.
- Cách thực hiện:
Bước 1 : Cho học sinh lập SĐTD theo nhóm hay cá nhân thông qua gợi ý
của giáo viên.
Bước 2: Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện SĐTD về
kiến thức của bài học đó. Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp
học sinh hoàn chỉnh SĐTD, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học.

người

Dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm
theo.

Hoạt động: Trò chơi Trò chơi tiếp sức
Tổ chức Trò chơi tiếp sức nhằm phát huy năng lực giải quyết vấn đề, năng
lực hợp tác, sự nhanh nhẹn về thể chất cũng như tinh thần.
Ta có thể vận dụng trò chơi này trong nhiều kiểu bài, chẳng hạn như với
Hoạt động Ngữ văn: Thi làm thơ (bốn chữ, năm chữ, lục bát, bảy chữ, tám chữ) ở
các khối lớp 6, 7, 8, 9. Hoặc các bài Tổng kết phần Văn ( Ngữ văn 6, 7, 8, 9).
Cách thực hiện:
GV chia lớp thành 4 đội. Từng HS trong đội đều được tham gia trò chơi. Cứ
HS này xuống thì HS khác lên thay thế sao cho đội của mình hoàn thành bài tập
một cách nhanh và chính xác nhất.
Ví dụ : Các bài Tổng kết hoặc ôn tập, GV tổ chức thành 2, 3 hoặc 4 dãy bàn
điền vào bảng thống kê (mỗi HS chỉ được lên một lần điền một mục theo thứ tự).

Ưu điểm:
Các hoạt động này giúp HS có khả năng tư duy, sáng tạo, hợp tác, phát huy
năng lực của từng học sinh.
16


Khuyết điểm:
HS phải chọn lọc thông tin, từ ngữ, sắp xếp bố cục để ghi thông tin cần thiết
nhất và lôgic.
2.2.2. Đối với phân môn tiếng Việt và Tập làm văn.
Với phân môn Tiếng Việt và Tập làm văn chúng tôi tổ chức nhiều hình
thức hoạt động, ở đây xin được minh họa hoạt động xử lí tình huống, hoạt động

Cô giáo có gọi mình không nhỉ?
- Hai câu trên đây đưa ra nhằm mục đích gì? Câu 1 dùng để hỏi học sinh về
việc chuẩn bị bài. Câu 2 dùng để tự hỏi mình xem mình có bị gọi lên bảng không?
17


- Những câu kiểu như thế này người ta gọi là gì? Câu hỏi, câu nghi vấn.

Đây là câu hỏi, một kiểu câu chúng ta sử dụng nhiều trong cuộc sống
khi nói chuyện.
-

Bước 2: nhận xét theo tình huống để rút ra ghi nhớ.
Giáo viên cho học sinh đọc ngữ liệu, tìm dấu hiệu để nhận biết đó là câu
nghi vấn ( từ, dấu)
Vậy câu nghi vấn dùng để làm gì? Chốt ghi nhớ.
Bước 3: Luyện tập, ứng dụng
Có một số hình thức như tổ chức hoạt động nhóm, cá nhân.
Có thể tổ chức trò chơi ô chữ để củng cố kiến thức cho học sinh.

Ưu điểm:
Kích thích học sinh tư duy, sáng tạo, năng động, nhanh nhạy trong giải
quyết tình huống và kích thích hứng thú học tập, phát huy tính tích cực học tập của
học sinh.
Khuyết điểm:
Giáo viên mất nhiểu thời gian chọn lọc tình huống, đầu tư vào yêu cầu của
bài tập, xác định khung thời gian cho phép khi giải quyết tình huống và lựa chọn
đơn vị kiến thức, đơn vị bài dạy phù hợp.
* Hoạt động tranh luận kết hợp với hoạt động nhóm.
Mục đích:

nhận ra rằng việc áp dụng hình thức dạy học theo kiểu tổ chức tranh luận tạo nên
một sự hứng thú rất lớn cho học sinh.
- Thông qua tranh luận, học sinh được thể hiện quan điểm của riêng mình,
được trình bày những suy nghĩ thực của mình; đồng thời đưa ra lập luận để bảo vệ
quan điểm ấy mà không chịu ràng buộc, phụ thuộc vào bất cứ một khuôn mẫu nào.
Những giờ học được tổ chức theo kiểu tranh luận sẽ là những giờ học vô cùng tích
cực, sôi nổi; phát huy được tính chủ động, sáng tạo trong tư duy học sinh. Đồng
thời nó góp phần định hướng, rèn luyện cho học sinh những khả năng quan trọng:
khả năng lập luận, khả năng tranh biện, khả năng bảo vệ chính kiến,.. Tổ chức
được những giờ học như vậy, người thầy giáo sẽ thực hiện được điều đã trở thành
trăn trở bấy lâu nay của các nhà giáo dục “Lấy học sinh làm trung tâm”.
Khuyết điểm:
- Rõ ràng “giờ học mở” hay nhưng cũng rất khó thực hiện, bởi thay đổi một
thói quen, một nếp nghĩ đã ăn sâu trong tâm trí không phải việc đơn giản. Cần phải
có thời gian và đặc biệt là phải có sự thay đởi đồng bộ trong tư duy giáo dục của
tất cả những đối tượng tham gia vào hoạt động giáo dục trong nhà trường.
- Để có thể tham gia bàn bạc, trao đổi hay trnah luận, phản biện trước những
vấn đề đặt ra trong giờ học trên lớp, mỗi học sinh phải có một quá trình chuẩn bị
chu đáo; phải tự học, tự tìm tòi nghiên cứu ở nhà. Không thể tham gia đối thoại,
thảo luận tốt về một vấn đề nếu hiểu biết quá sơ sài về vấn đề ấy.
- Việc tự học, tự nghiên cứu không dừng lại ở học sinh mà nó còn đặt ra với
yêu cầu cao hơn rất nhiều đối với thầy giáo. Những giờ học đối thoại đặt người
thầy trước nhiều tình huống sư phạm phức tạp. Khác với giờ học bình thường,
trong những diễn đàn đối thoại như thế này, người thầy luôn phải đối diện với rất
nhiều thắc mắc, nhiều câu hỏi từ học sinh. Thậm chí có những câu hỏi khó và lạ
đến mức học sinh bị động. Cho nên để có thể tổ chức thành công giờ học, bản thân
19


mỗi người thầy phải có sự lao động trí óc nghiêm túc và công phu; phải không

* Thời gian: 2’ Cho học sinh xem clip “ Chim Vành Khuyên”.
?: Qua clip trên, em thấy có gì thú vị?
Vào bài: Các phép tu từ có vai trò rất lớn trong trong giao tiếp. Một trong
những biện pháp tu từ, đó là nhân hoá. Vậy hôm nay các em sẽ được tìm hiểu kĩ
hơn về nhân hoá.
Hoạt động 2: Hoạt động hình thành kiến thức.
Hoạt động của thầy
* Sử dụng phương pháp, kĩ
thuật dạy học tích cực bằng
các hoạt động theo nhóm, cá
nhân.
GV chia lớp thành 4 nhóm,
ngồi 4 góc cố định.

Hoạt động của trò

Ghi bảng
I. Tìm hiểu bài
1. Nhân hóa là gì?
Ví dụ: sgk/ 56
- Trời: ông, mặc áo giáp
ra trận.
- Cây mía: múa gươm.
20


- Kiến: hành quân.
Giáo viên cho học sinh quan sát,
thảo luận, thuyết trình, nhận
xét,…

(Ca dao)
- Tìm phép nhân hóa? Ngoài tác
dụng đã biết ở trên thì trong bài
ca dao này nhân hóa có tác dụng
gì?
- Vậy nhân hóa có tác dụng gì?
- GV chốt nội dung
- GV liên hệ khi nói (viết)

- Học sinh cho ví dụ
- Sử dụng bảng phụ
liệt kê.
- Đại diện từng
nhóm trình bày kết
quả.
- Hs tự chốt ra khái
niệm nhân hóa.

Nhận xét 2 cách
diễn đạt trên?
- Học sinh nêu ý
kiến
- Cách diến đạt ở ví
dụ 2 chỉ có tính chất
miêu tả, tường thuật.
- Cách diễn đạt ở ví
dụ 1 làm cho các sự
vật, sự việc, hiện
tượng được miêu tả
trở nên thật sinh

- GV yêu cầu HS lấy ví dụ.

-GV cho học sinh đọc ghi nhớ

- Học sinh đọc ghi
nhớ.
2. Các kiểu nhân hóa.
Ví dụ:
- Học sinh đọc ví dụ a) Miệng, Tai, Mắt,
- Nhóm 1, 3: Tìm
Chân, Tay => lão, bác,
hiểu vd a.
cô, cậu.
- Nhóm 2: Tìm hiểu  Dùng từ ngữ vốn gọi
vd b.
người để gọi sự vật.
- Nhóm 4: Tìm hiểu b) Tre => chống lại, xung
vd c.
phong, giữ.
- Từng nhóm trình  Dùng từ ngữ chỉ hoạt
bày kết quả.
động, tính chất của
người để chỉ hoạt
động, tính chất của
- Các nhóm đổi bảng
sự vật.
cho nhau theo chiều c) Trâu => ơi
kim đồng hồ. Mỗi  Trò chuyện, xưng hô
nhóm cho ví dụ
với vật như với


=> Bến cảng được miêu tả sống động,
người đọc dễ hình dung được cảnh
nhộn nhịp, bận rộn của các phương
tiện có trên cảng.
GV: BT 1, 2 giúp các em hiểu rõ tác dụng của nhân hóa khi tả cảnh -> vận dụng.
- Nhóm 2: Bài 3:
- GV hướng dẫn HS lập bảng so sánh, đối chiếu từ ngữ trong mỗi cách viết.
Cách 1
Cách 2
trong họ hàng nhà chổi
trong các loại chổi
cô bé Chổi Rơm
chổi rơm
xinh xắn nhất
đẹp nhất
có chiếc váy vàng óng
tết bằng rơm nếp vàng
áo của cô
tay chổi
cuốn từng vòng quanh người, trông quấn quanh thành cuộn
cứ như áo len vậy
-> Dùng nhiều phép nhân hóa, ngay cả
từ Chổi Rơm cũng được viết hoa như
tên riêng của người làm cho việc miêu
tả chổi gần với cách miêu tả người.
-> Tính biểu cảm cao, chổi rơm trở
nên gần gũi với con người, sống động => VB thuyết minh.
hơn.
(đòi hỏi tính chính xác, khoa học).

khả năng vận dụng một cách sáng tạo và biết sáng tạo những tri thức của loài
người. Chính vì lẽ đó người giáo viên có nhiệm vụ đào tạo những con người ấy.
Giáo viên cần hướng cho học sinh biết suy nghĩ và hành động:
+ Học sinh thấy say mê, yêu thích và tích cực tham gia các bài học, các
hoạt động trong môn Ngữ Văn.
+ Học sinh có được những năng lực nhất định như : năng lực thuyết trình,
năng lực làm việc nhóm,…trong khi học. Bên cạnh đó, rèn cho học sinh
tính chủ động, sự nhạy bén trong xử lí tình huống.
Trên đây là một vài ý kiến mang tính chủ quan tuy có dựa trên thực tế
quá trình dạy học và cơ sở lí luận nhưng không tránh khỏi những khiếm khuyết,
chưa hoàn thiện. Chúng tôi rất mong sự góp ý, trao đổi của các đồng nghiệp
giúp cho việc sử dụng các phương pháp trên tốt hơn, đạt hiệu quả cao nhất
trong việc dạy và học các tiết Ngữ văn của chương trình THCS.
Tân bình, ngày 07 tháng 01 năm 2015
Tổ Ngữ Văn

24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status