A. Đặt vấn đề.
Bác Hồ đã từng nói:
"Có tài mà không có đức là ngời vô dụng
Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó".
Thật vậy, câu nói của Bác luôn khẳng định một chân lí đúng là thớc đo để
đánh giá, nhìn nhận một con ngời. Ngời tài giỏi nhng "đức" không có - không
trong sáng thì con ngời đó cũng hỏng. Ngợc lại một con ngời "đức" trong
sáng, tuyệt vời song tài trí kém - trong mọi công việc quả là gian nan.
Trong xã hội ngày nay - câu nói của Bác nh một lần nữa nhắc nhở chúng ta
hãy nên trang bị cho mình "tài - đức" song toàn.
Một xã hội đợc coi là phát triển và văn minh thì con ngời của xã hội ấy
phải có những đức tính này.
Nền giáo dục Việt Nam cũng đã và đang đi theo con đờng mà Bác Hồ đã
dạy - Ngoài những hiểu biết về khoa học kĩ thuật thì giáo dục một con ng ời một thế hệ biết kính trên nhờng dới, tôn trọng pháp luận, có thái độ yêu thơng
tôn trọng con ngời, có hành vi đối xử tốt đẹp thân thiện giữa mọi ngời trong nớc và trên toàn thế giới là một vấn đề lớn - nan giải, đòi hỏi nền giáo dục n ớc
nhà cần quan tâm tốt việc dạy đạo đức trong mọi cấp học đặc biệt là cấp học
Tiểu học - "nền móng vững chắc" giúp các em vững bớc vào tơng lai.
Mặc dù đã có phơng pháp đặc trng cho bộ môn. Song để học sinh có sự
ham mê thích thú với bộ môn, các em lĩnh hội tri thức một cách nhẹ nhàng,
sâu sắc không theo kiểu rập khuôn, máy móc thì ngoài việc sử dụng đúng các
phơng pháp, các hình thức một cách hợp lý thì ngời thầy phải biết khơi dậy sự
hứng thú, say mê bằng những phơng pháp, những hình thức riêng của mình.
Trong chơng trình đạo đức ở bậc Tiểu học, ở mỗi bài đều đa ra một câu
chuyện kể, để thông qua việc tìm nội dung câu chuyện kể đó rút ra chuẩn mực
hành vi đạo đức rồi cho học sinh học thuộc lòng và liên hệ thực tế bản thân là
xong. Thiết nghĩ nếu tiết học nào cũng dùng phơng pháp đó, các hình thức đó
thì môn Hot ng Giỏo dc Đạo đức thật là nhàm chán, rập khuôn, bài học
không sâu, kiến thức không rộng, lại không kích thích tính tò mò khả năng
sáng tạo của học sinh. Song không dễ gì giáo viên chọn cho mình đ ợc những
hình thức phong phú bởi vì còn phụ thuộc vào trình độ giáo viên, khả năng
diễn xuất của học sinh vào đồ dùng của từng trờng, từng lớp. Bên cạnh đó một
nghiệm, thói quen đạo đức đã có để tự khám phá và chiếm lĩnh kiến thức mới,
kĩ năng mới.
Các hoạt động dạy học môn Hot ng Giỏo dc đạo đức ở lớp 5 rất
phong phú, đa dạng, bao gồm các hình thức: xử lí, phân tích tình hình; kể
chuyện, đóng vai, liên hệ, tự liên hệ, điều tra thực tiễn, lập kế hoạch hành
2
động của học sinh, quan sát phân tích tiểu phẩm, băng hình, múa, hát, đọc thơ,
vẽ tranh, triển lãm tranh, chơi các trò chơi có liên quan đến bài học
Dạy học môn Hot ng Giỏo dc đạo đức phải gắn bó chặt chẽ với cuộc
sống thực của học sinh. Các chuyện kể, tình huống, tấm gơng sử dụng để dạy học đạo đức phải lấy chất liệu từ cuộc sống thực của học sinh. Đồng thời, giáo
viên phải hớng dẫn học sinh phân tích, đánh giá hành vi của bản thân, và
những ngời xung quanh theo các chuẩn mực hành vi đã học; hớng dẫn học
sinh điều tra, tìm hiểu, phân tích, đánh giá các sự kiện trong đời sống đạo đức
của lớp học, nhà trờng và địa phơng. Điều đó sẽ giúp cho bài học Đạo đức
thêm phong phú gần gũi, sống động đối với trẻ.
Phơng pháp và hình thức tổ chức dạy học Hot ng Giỏo dc Đạo đức ở
lớp 5 rất phong phú, đa dạng bao gồm cả các phơng pháp truyền thống nh kể
chuyện, đàm thoại, nêu gơng, sử dụng đồ dùng trực quan,và các phơng pháp
hiện đại nh đóng vai, thảo luận nhóm, tổ chức trò chơi, điều tra thực tiễn, giải
quyết vấn đề, động não,; bao gồm cả hình thức; học theo lớp, theo nhóm và
cá nhân; hình thức học ở trong lớp, ngoài sân trờng, vờn trờng hoặc ở một địa
điểm ngoài trờng có liên quan đến nội dung học tập của học sinh.
II. Thực trạng của việc dạy học môN HOT NG GIO DC đạo
đức ở lớp 5
Thực tế cho thấy rằng, chất lợng dạy đạo đức hiện nay ở hầu hết các trờng
còn cha đợc chú trọng, quan tâm cả về nhiều mặt, nh là môn phụ - ít tiết Nên
lòng vì bệnh nhân nghèo. Tập đóng vai để tiết sau đóng một trong các vai đó.
Vì học sinh đã đợc rèn luyện kỹ năng kể chuyện rất nhiều trong các giờ
kể chuyện và cũng tập đóng các vai trong các bài tập đọc kể chuyện nên việc
học sinh nhập vai trong câu chuyện trên quả là không khó.
Đến giờ học, giáo viên cho các em tự giác xung phong đóng các vai, thể
hiện rõ nội dung câu chuyện cho các bạn khác theo dõi, giáo viên là ng ời giúp
đỡ, hớng dẫn các em thể hiện cử chỉ, điệu bộ cho phù hợp.
- Một học sinh đóng vai bác sỹ (giáo viên cho trang phục bác sỹ).
- Một học sinh đóng vai vợ anh công nhân nghèo, giáo viên cho đội khăn
đã rách.
- Một học sinh đóng vai chồng chị.
- Một học sinh đóng vai em chồng chị. Ngời dẫn chuyện (tuy nhiên, giáo
viên phải chuẩn bị trớc trang phục).
Nh vậy ở hình thức này, giáo viên không phải hoạt động nhiều lại phát
huy đợc khả năng tự chủ của học sinh, gây hứng thú giờ học, phù hợp với h ớng
dạy học Lấy giờ học của học sinh làm trung tâm. Đồng thời giúp các em có
thêm kỹ năng nói, phong cách diễn đạt trớc tập thể, mạnh dạn trớc đông ngời.
4
Với hình thức này, giáo viên cũng có thể sử dụng ở tiết 2 khi các em chơi
trò chơi.
Ví dụ: Một em đóng vai trò một bạn đi học về bị đau bụng. Hai em khác
đóng vai hai học sinh khác đi về gặp bạn đau bụng.
Tùy cách giải quyết của 2 bạn mà cả lớp nhận xét về việc ứng xử của bạn.
Lúc này giáo viên dễ dàng nhận ngay khả năng nắm bài học của học sinh.
b. Kể chuyện qua tranh:
ở hình thức này giáo viên không kể chuyện mà cho học sinh quan sát
tranh và trả lời câu hỏi (tranh giáo viên vẽ thể hiện nội dung phóng to màu).
Ví dụ: Giáo viên treo tranh hỏi: Bức tranh vẽ cảnh gì? (Vẽ cảnh một số
hoặc cho học sinh khác, chất vấn nh:
- Cậu học sinh đó gặp điều gì? (điều rủi ro không may).
- Tạo sao cô giáo (các bạn) lại tận tình giúp đỡ? Vì đó là việc làm cần
thiết, là lòng nhân ái giữa con ngời với con ngời để họ vơi đi nỗi đau) ...
Nh vậy, ở hình thức này, phát huy tính sáng tạo của học sinh, giờ học có
nhiều hứng thú vì tất cả các bạn đều muốn nói cách thể hiện lời chuẩn bị của
mình. Giáo viên lại đỡ phải nói nhiều. Việc rút ra bài học lại thực tế hơn, gần
gũi hơn, gây bất ngờ cho ngời nghe, đồng thời giúp cho các học sinh có khả
năng tự học, trí tởng tợng, suy luận cao.
d. Hình thức ứng xử từ cuộc sống:
Câu chuyện trong sách giáo khoa, giáo viên cho học sinh tham khảo ở
nhà. Trớc khi tìm hiểu để rút ra chuẩn mực hành vi đạo đức, giáo viên đ a ra
một số tình huống từ thực tế quanh học sinh, yêu cầu học sinh giải quyết.
Ví dụ: Từ nhà Lan đến trờng Lan gặp một bà già bị mù qua đờng đố các
em biết Lan sẽ làm gì?
(Lan lại gần bà cụ và dắt tay cụ qua đờng).
Nếu trong lớp có một bạn bị đau bụng, thì các em sẽ làm gì? (Hỏi han,
động viên và xin phép các cô giáo đa bạn xuống phòng Y tế để nhờ thầy cô
chăm sóc).
Cho học sinh nêu một số tình huống, khi gặp ngời hoạn nạn mà cha biết
cách giải quyết thế nào để yêu cầu các bạn trong lớp giải quyết hộ.
(Gặp bạn cùng tuổi, bị mồ côi cả cha lẫn mẹ nên rất nghèo, muốn giúp đỡ
bạn nhng nhà cũng nghèo, theo các bạn làm thế nào? ...)
Sau mỗi tình huống mà giáo viên hoặc học sinh nêu ra, giáo viên cần
khéo léo gợi ý để các em tự rút ra bài học.
6
Chẳng hạn: Những ngời không may là những ngời nh thế nào? (tàn tật,
- Ai cũng có thể gặp lúc .... (không may).
- An ủi giúp đỡ ngời không may mắn .... (làm giảm bớt nỗi khó khăn đau
khổ cho họ, đó là thái độ rất cần thiết của mỗi ngời trong xã hội. Đó cũng chính
là lòng nhân ái, tức tình thơng yêu giữa con ngời với con ngời.
Bên cạnh hai hình thức cơ bản ở trên tôi còn sử dụng hình thức Trò hỏi,
trò trả lời.
3. Hình thức Trò hỏi, trò trả lời.
Đây là hình thức dạy học vừa phát huy đợc khả năng nêu và giải quyết
tình huống có vấn đề của học sinh.
ở tiết 1: Trớc khi cho HS rút ra bài học hoặc sau khi rút ra bài học giáo
viên có thể dẫn dắt để các em tự nêu lên câu hỏi, tự nêu lên tình huống khó
giải quyết.
Ví dụ: Học sinh nêu: Trong năm học qua chúng ta đã làm những gì để thể
hiện, việc giúp đỡ ngời không may.
Các bạn trả lời: Mua tăm của Hội ngời mù, ủng hộ đồng bào vùng bị bão
lụt.
Hoặc có một bạn nhà bên, không may gẫy chân, không tự đi học đ ợc Mai
đã cõng bạn đi học, vì sao Mai lại làm nh vậy.
4. Thảo luận nhóm trong giờ học Hot ng Giỏo dc đạo đức.
Hình thức này đợc tổ chức ở tất cả các môn học, nó giúp cho học sinh
trong nhóm thi nhau, giúp đỡ nhau học tập.
Yêu cầu của hình thức này là các câu hỏi phải tơng đơng hoặc giống nhau
từ từng nhóm. Học sinh trong nhóm phải đầy đủ đối tợng. Các thành viên
trong nhóm thay nhau làm, nhóm trởng, th ký.
Sau khi học sinh đã xây dựng xong chuẩn mực hành vi đạo đức, giáo viên
cần có các câu hỏi để các nhóm thảo luận nhằm khắc sâu bài học.
Ví dụ: ở tiết 1, vì sao phải an ủi, giúp đỡ ngời không may.
ở tiết 2: Sử dụng ở phần Củng cố bài học.
lên hái hoa và trả lời hoa. Nếu học sinh trả lời đúng, giáo viên cho điểm vào
hoa và nói Em hãy mang bông hoa đó về tặng bố mẹ.
9
Nh vậy các em sẽ phấn khởi, rất muốn lên hái hoa để đ ợc hoa đẹp về tặng
bố, mẹ, giáo viên lại đỡ phải nêu câu hỏi.
c. Trò chơi: Phân vai (đã trình bày ở hình thức 1)
d. Trò chơi: Tặng quà.
Một số bài có thể sử dụng hình thức này, rất có hiệu quả nh những bài có
nội dung phải kính trọng ngời trên nh bài: Kính trọng ngời già cả; kính trọng
ngời trên nh bài: Kính trọng các danh nhân ... (lớp 5).
Giáo viên chuẩn bị một số hộp quà, hoặc hoa tơi cho một bạn đóng bà cụ
già hoặc thầy cô, hoặc danh nhân, học sinh khác lên tặng quà cho những ng ời
trên.
Cả lớp theo dõi xem cách tặng quà đó là thể hiện đợc sự kính trọng với
ngời trên cha. Với hình thức này, vừa kết hợp lý thuyết với thực hành giáo viên
vừa biết đợc kết quả bài của học sinh ngay trên lớp.
e. Trò chơi: nếu ........ thì
Một học sinh nêu vế nếu ........
Một học sinh khác đáp vế thì ....
Ví dụ: Học sinh Nếu tôi bị đau bụng.
Học sinh khác thì tôi động viên và xoa chỗ đau cho bạn.
Tuy nhiên, tổ chức cho học sinh trò chơi nào, giáo viên phải h ớng dẫn yêu
cầu của trò chơi thật rõ ràng. Giáo viên làm trọng tài phải công bằng, ứng xử
nhanh, đồng thời phải động viên kịp thời.
Tóm lại: Môn Hot ng Giỏo dc Đạo đức là môn học quan trọng góp
phần hình thành và phát triển nhân cách học sinh Tiểu học. Việc ngời thầy
giúp học sinh nắm vững kiến thức ham muốn học tập là việc hết sức quan
Cha hon thnh`
70%
80%
100%
30%
20%
0%
Kết quả của các lớp học khác trong khối đợc nêu sau để so sánh.
Xếp loại
Năm học
2012- 2013
2013- 2014
2014 - 2015
Hon thnh
Cha hon thnh
60%
75%
80%
40%
25%
20%
Khi sử dụng các hình thức nêu trên, kết quả thu đợc qua các năm có thể
2. Học sinh học tập có kết quả cao hơn.
3. Các hình thức này còn đợc gây đợc những tác dụng tích cực nh vận
dụng giải quyết một số vấn đề trong cuộc sống.
4. Nâng cao ý thức học tập của học sinh một cach rõ rệt, tạo ra không khí
vui tơi thoải mái, nảy sinh tình cảm bạn bè, tính tự chủ, mạnh dạn, khả năng
giao tiếp trình bày trớc tập thể và hạn chế sự không tập trung của những học
sinh cá biệt trong giờ học.
Chính vì vậy các hình thức dạy học, rất thiết thực với lứa tuổi học sinh
Tiểu học. Trong điều kiện cụ thể của nhà trờng hiện nay, việc áp dụng linh
hoạt nhng hình thức trên hoàn toàn có thể thực hiện đợc.
12
Trên đây là kinh nghiệm nhỏ trong quá trình dạy học của tôi. Do năng lực
còn hạn chế, thời gian nghiên cứu cha nhiều, điều kiện nghiên cứu cũng có
hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong các cấp lãnh đạo và đồng
nghiệp góp ý kiến để đề tài đạt đợc kết quả cao hơn.
Tụi xin cam oan SKKN trờn l do tụi vit, tụi khụng sao chộp ni
dung ca ai.
Yờn nh , ngày20 tháng 3 năm 2015
XC NHN CA TH TRNG N V
Ngời thực hiện
13