ĐẨY MẠNH LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP
TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH
Lê Đức Thọ1
(Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Định hướng liên kết phát triển du lịch tiểu
vùng duyên hải phía đông Đồng bằng sông Cửu Long”, Sở Văn hóa, Thể thao
và Du lịch Trà Vinh; Viện Nghiên cứu phát triển Kinh tế và Du lịch; Trường Đại
học Trà Vinh. ISBN 978-604-60-2860-4, Nxb. Nông nghiệp, tr.180-187. Năm
2018)
TÓM TẮT
Trong bối cảnh và xu hướng phát triển mới với những cơ hội thuận lợi, khó
khăn, thách thức, du lịch Việt Nam nói chung và du lịch tiểu vùng duyên hải
phía đông Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng tiếp tục tăng trưởng và
từng bước chuyển dịch sang phát triển về chất dựa vào đầu tư khai thác yếu tố
nguồn nhân lực. Chính vì vậy, công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch đóng vai
trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển bền vững du lịch cả nước nói chung
và tiểu vùng phía đông ĐBSCL nói riêng. Trong đào tạo nguồn nhân lực du lịch,
sự liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp là hướng đi đáp ứng được nhu cầu
của xã hội hiện nay. Bài viết giới thiệu về các hình thức liên kết giữa cơ sở đào
tạo và doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực du lịch, từ đó, đề xuất một số
giải pháp nhằm tăng cường sự liên kết này trong đào tạo nguồn nhân lực du lịch
cả nước nói chung và ở tiều vùng phía đông ĐBSCL nói riêng trong giai đoạn
hiện nay.
Từ khóa: Nguồn nhân lực du lịch; đào tạo nhân lực du lịch; phát triển du
lịch.
1. Mở đầu
Trong bối cảnh và xu hướng phát triển mới với những cơ hội thuận lợi, khó
khăn, thách thức, du lịch Việt Nam nói chung và du lịch tiểu vùng phía đông
1 ThS. Trường Cao đẳng Nghề Đà Nẵng. Email: [email protected]. Số điện thoại: 0911 733 407
1
phẩm du lịch. Như vậy, có thể hiểu nhân lực du lịch là lực lượng lao động tham
2
gia vào quá trình hoạt động du lịch, bao gồm lao động trực tiếp và lao động gián
tiếp. Còn nguồn nhân lực du lịch là tổng thể những người đang “làm du lịch” và
những người sẽ “làm du lịch”.
Nguồn nhân lực du lịch được xem là tài sản quý giá, tác động trực tiếp đến
năng lực cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cũng như sự phát
triển bền vững của ngành du lịch cả nước nói chung và tiểu vùng phía đông
ĐBSCL nói riêng. Để nguồn nhân lực phát triển theo hướng chuyên môn hóa,
được đánh giá và thừa nhận trên thị trường lao động Quốc tế thì vai trò của các
cơ sở đào là vô cùng quan trọng. Đặc biệt khi Việt Nam gia nhập vào các Tổ
chức Quốc tế và khu vực như: ASEAN, WTO, AEC...thì thị trường lao động du
lịch sẽ có sự chuyển dịch lớn, nhiều cơ hội nghề nghiệp được mở ra nhưng
người lao động cũng vấp phải sự cạnh tranh gay gắt. Chỉ những người lao động
có kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực, sáng tạo mới có thể đáp ứng những yêu cầu
của thời đại. Năng lực đó phải dựa trên nền tảng giáo dục - đào tạo cơ bản. Đó là
cơ hội, cũng chính là thách thức lớn đặt ra đối với các cơ sở đào tạo, từ các
trường đào tạo nghề cho đến các trường cao đẳng, đại học ở Việt Nam.
Đào tạo nguồn nhân lực du lịch có thể hiểu là hoạt động nâng cao kiến thức,
kỹ năng, tay nghề, trình độ chuyên môn, để người lao động có thể thực hiện hiệu
quả nhiệm vụ nghề nghiệp. Đào tạo cũng chính là nâng cao, phát triển nguồn
nhân lực, nhằm thay đổi chất lượng lao động. Trong đào tạo nguồn nhân lực du
lịch, bên cạnh vai trò chủ chốt của các cơ sở đào tạo (trường nghề, cao đẳng, đại
học), thì không thể không kể đến vai trò của các doanh nghiệp. Trong khuôn khổ
bài viết này, tác giả đề cập đến sự liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp
trong đào tạo nguồn nhân lực du lịch có thể áp dụng cho đào tạo nguồn nhân lực
du lịch trong cả nước nói chung và tiểu vùng phía đông ĐBSCL nói riêng.
3. Một số hình thức liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp trong
giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; hội đồng hiệu trưởng, câu lạc bộ…
Liên kết dọc: trong phát triển nguồn nhân lực du lịch là hình thức liên kết mà
các doanh nghiệp ngành nghề khác nhau, các cơ sở giáo dục du lịch ở các cấp
trình độ đào tạo khác nhau liên kết để chia sẻ tài nguyên đào tạo, dạy nghề (giáo
dục nghề nghiệp), khắc phục hạn chế, phát huy thế mạnh; hỗ trợ nhau về mọi
mặt, hợp tác phân công nhau phát triển nguồn nhân lực du lịch ở các công đoạn
nối tiếp nhau.
4
Liên kết chéo: trong phát triển nguồn nhân lực du lịch là hình thức liên kết
giữa cơ sở giáo dục du lịch với các doanh nghiệp du lịch để hình thành chuỗi giá
trị phát triển nguồn nhân lực du lịch từ hướng nghiệp đến đào tạo, dạy nghề, từ
tuyển dụng đến sử dụng, từ đào tạo tại chỗ đến bồi dưỡng và đãi ngộ nhân lực.
Từ những năm đầu tiên của Thế kỷ này, mối quan hệ hợp tác liên kết Nhà
trường – Doanh nghiệp trong phát triển nguồn nhân lực du lịch đủ năng lực thực
hiện dần chuyển sang một giai đoạn phát triển mới: Đa dạng hơn về loại hình
hợp tác liên kết và mức độ gắn kết bắt nguồn từ chính nhu cầu các bên, phải đủ
chặt chẽ, bền vững để thúc đẩy sự nghiệp phát triển nguồn nhân lục du lịch; tạo
sự gắn kết, bổ sung cho nhau; tăng thu hút đầu tư trong và ngoài nước cho phát
triển nguồn nhân lực du lịch với năng lực thực hiện tốt, được thừa nhận trong
cộng đồng ASEAN và thế giới; khắc phục sự cạnh tranh không lành mạnh; đảm
bảo phát triển bền vững.
Về phía doanh nghiệp du lịch: Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức dần phổ
biến và hội nhập quốc tế sâu rộng, mỗi doanh nghiệp du lịch muốn tồn tại và
phát triển phải tạo ra những sản phẩm mới, có hàm lượng tri thức cao, có tính
đột phá về sự trải nghiệm cho khách. Để đáp ứng, doanh nghiệp du lịch bắt đầu
thực hiện các biện pháp đặt hàng, tài trợ, hợp tác với Nhà trường để thực hiện
các đề tài nghiên cứu khoa học, công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
du lịch bằng cách tuyển dụng các cá nhân xuất sắc từ Nhà trường hay trực tiếp
trường đào tạo ra những “sản phẩm” gắn liền với yêu cầu thực tiễn, nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực trong xã hội, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao
động, giúp các doanh nghiệp xây dựng được lợi thế cạnh tranh trên thị trường,
đóng góp vào sự phát triển kinh tế của quốc gia.
Thực tế cho thấy, lâu nay, mối quan hệ giữa các cơ sở đào tạo và doanh
nghiệp vẫn còn khá lỏng lẻo, thiếu tính thực tiễn. Chính vì vậy, nguồn nhân lực
quản lý trung và cao cấp còn hạn chế về năng lực lãnh đạo. Nguồn nhân lực sơ
cấp thì kiến thức và kỹ năng nghề chưa đủ để đáp ứng nhu cầu thực tế, hệ quả là
họ thiếu tự tin khi bắt tay vào việc. Thực tế cho thấy, hầu hết các nhà trường ở
Việt Nam đang thiếu tính chủ động trong việc tạo mối quan hệ với các doanh
nghiệp, các đơn vị tuyển dụng dẫn đến tình trạng đào tạo không đáp ứng được
các yêu cầu mà doanh nghiệp đề ra, các doanh nghiệp rất thờ ơ với các sinh viên
vừa tốt nghiệp.
6
Quan hệ hợp tác giữa các nhà trường và doanh nghiệp là yếu tố cốt lõi trong
việc xây dựng hệ thống giáo dục gắn liền với yêu cầu thực tiễn, đáp ứng tốt hơn
nhu cầu của xã hội. Hiện nay, các chương trình đào tạo ở nhà trường còn thiên
nhiều về lý thuyết, trong khi đó, xu hướng đào tạo nghề nghiệp tiếp cận thị
trường lao động có sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp được đánh giá là
định hướng tích cực, đem lại lợi ích cho cả hai bên và xã hội. Tuy nhiên, các
doanh nghiệp đang “thờ ơ” với việc “nuôi dưỡng” nguồn nhân lực mà chỉ chú ý
đến việc tuyển dụng. Ðiều này thể hiện qua những hình thức hợp tác phổ biến
như: Tuyển dụng trực tiếp từ nhà trường và tạo điều kiện cho sinh viên làm
thêm, thực tập. Một trong những nguyên nhân đó là, các doanh nghiệp chưa tin
tưởng mối quan hệ hợp tác giữa họ với nhà trường sẽ mang lại lợi ích cho họ.
4. Giải pháp đẩy mạnh liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong
đào tạo nguồn nhân lực du lịch
4.1. Đối với nhà trường
nghiệp để tạo điều kiện cho sinh viên trong quá trình thực tập, thực hành, định
hướng nghề nghiệp cũng như cung cấp trang thiết bị cho nhà trường...
Nhóm giải pháp từ phía doanh nghiệp:
Trong đó, các doanh nghiệp cần tạo điều kiện cho sinh viên thực tập hoặc
làm việc bán thời gian. Điều này vừa giải quyết vấn đề thiếu nguồn nhân lực cho
doanh nghiệp, vừa giúp sinh viên được tiếp xúc với thực tế công việc. Muốn
vậy, giữa nhà trường và doanh nghiệp cần có hợp đồng đào tạo theo nguyên tắc
đặt hàng, đào tạo theo nhu cầu. Thực tế, nhiều trường đã thực hiện vấn đề này,
nhưng số lượng vẫn còn hạn chế và mức độ hợp tác cũng còn nhiều điều cần
phải bàn.
Việc định hướng ý thức nghề nghiệp cho sinh viên, học sinh cần được thực
hiện một cách liên tục trong suốt quá trình học và phải bắt đầu từ khi các em vào
trường. Mặc dù công tác này ở nhiều cơ sở đào tạo đã được triển khai nhưng vẫn
chưa được quan tâm đúng mức, do vậy, nhiều sinh viên trong quá trình học và
sau khi tốt nghiệp mất phương hướng về nghề nghiệp, không tự tin về bản thân
và kỹ năng xin việc.
Các cơ sở đào tạo du lịch cần thành lập trung tâm hỗ trợ hướng nghiệp, tư
vấn cho sinh viên trong và sau khi tốt nghiệp. Trung tâm này cung cấp các dịch
vụ giúp sinh viên rút ngắn khoảng cách giữa kiến thức được học ở trường với
8
nghề nghiệp tương lai. Đồng thời, trên cơ sở định hướng nghề nghiệp đúng đắn,
cần định hướng và xây dựng được lòng yêu nghề trong mỗi học sinh sinh viên
để có thể tạo được đội ngũ nhân lực có tâm huyết, tránh hiện tượng chuyển đổi
nghề chỉ sau thời gian ngắn làm việc do áp lực công việc không phù hợp.
Các cơ sở đào tạo cần tổ chức trao đổi, gặp gỡ định kỳ với doanh nghiệp
bằng cách tổ chức những buổi hội thảo, hội nghị để nắm bắt nhu cầu và định
hướng đào tạo, nghe ý kiến về chất lượng làm việc của sinh viên đang thực tập
hoặc làm việc tại doanh nghiệp; tạo cơ chế để những cựu sinh viên đang làm
những đề tài, vấn đề khó mà doanh nghiệp đang có nhu cầu...
Chủ động phối hợp với các cơ sở đào tạo trong việc biên soạn giáo trình, nội
dung và phương pháp giảng dạy, bảo vệ đồ án, luận văn tốt nghiệp... để chương
trình đào tạo “ăn khớp” với nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội. Chủ trương
đưa các doanh nhân vào hội đồng nhà trường thời gian gần đây được nhìn nhận
là một bước tiến trong chiến lược xã hội hóa giáo dục cũng như đào tạo theo nhu
cầu xã hội.
Doanh nghiệp cần cử đại diện theo dõi, tham gia vào kiểm định, đánh giá
chất lượng đầu vào và đầu ra của học viên; cung cấp thông tin về nhu cầu nhân
lực của mình cho cơ sở đào tạo, hỗ trợ tài chính và tham gia vào quá trình đào
tạo, xây dựng chương trình đào tạo, tiếp nhận sinh viên thực tập. Không chỉ đào
tạo nguồn nhân lực mới, các cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp còn có thể phối
hợp trong bồi dưỡng, đào tạo lại theo yêu cầu của doanh nghiệp. Đây cũng là
hoạt động có thể gắn kết chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, đảm
bảo mục tiêu đào tạo theo địa chỉ.
4.3. Đối với các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch
Các cơ quan quản lý và các hiệp hội nghề nghiệp trong ngành du lịch cần
vận động, tuyên truyền để các doanh nghiệp nhận thức đúng mức vai trò và tầm
quan trọng của việc phối hợp với các cơ sở đào tạo trong việc đào tạo bồi dưỡng
nguồn nhân lực; từ đó chủ động và sẵn sàng phối hợp với các cơ sở đào tạo, tích
cực tham gia vào các hoạt động liên quan đến đào tạo, nhằm nâng cao kiến thực
thực tiễn cho học sinh sinh viên tạo nguồn đầu ra có chất lượng đáp ứng tốt hơn
yêu cầu của thực tiễn doanh nghiệp.
Thường xuyên thống kê cung - cầu nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng
cao để điều tiết lĩnh vực giáo dục - đào tạo cho phù hợp. Hoàn thiện cơ chế hoạt
10
động của các trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục trên tinh thần cạnh tranh,
độc lập tự chủ, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật.
được các chủ thể nhìn nhận một cách thấu đáo, sự liên kết giữa nhà trường và
doanh nghiệp diễn ra khá hời hợt, manh mún, hiệu quả chưa cao, hệ quả là tạo
nên sự mất cân đối nghiêm trọng về cung - cầu nhân lực cho sự phát triển ngành
du lịch.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2010), Báo cáo “Đào tạo nhân lực du
lịch theo nhu cầu xã hội”, Hà Nội.
[2]. Nguyễn Thành Nam (2016), “Đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực trong lĩnh vực dịch vụ du lịch”, Tạp chí Tài chính, số 6/2016.
[3]. Tổng cục Du lịch (2013), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt
Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Hà Nội.
12