GVHD: PGS. TS Vũ Văn Gầu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ HỒNG BÀNG
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
TRÌNH BÀY NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CHÍNH DANH
CỦA KHỔNG TỬ VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC
TUYỂN CHỌN CÁN BỘ CÔNG CHỨC VIỆT NAM HIỆN NAY
GVHD: PGS. TS Vũ Văn Gầu
Họ tên: Nguyễn Thị Ngà
MSSV: 156021056
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2012
Trang 1
GVHD: PGS. TS Vũ Văn Gầu
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU.............................................................................................................3
1. Sơ lược tính yêu cầu của đề tài tiểu luận.......................................................................3
2 . Mục đích, nhiệm vụ của tiểu luận.................................................................................5
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.....................................................................6
4. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn:.............................................................................6
PHẦN NỘI DUNG.........................................................................................................7
Chương I: Cơ sở hình thành và quá trình phát triển của tư tưởng trị nước trong triết học
Việt Nam từ thời Bắc thuộc và ảnh hưởng của nó vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay về
phong tục tập quán, đời sống kinh tế xã hội,…...
Mặt khác trong công cuộc đổi mới ở đất nước ta hiện nay mà Đảng và nhà nước xây
dựng đòi hỏi chúng ta một mặt phải nâng cao về mặt đạo đức, mặt khác phải nâng cao hiệu
lực, hiệu quả quản lý của nhà nước. Bởi vì sự nghiệp đổi mới ở nước ta trước hết là đổi
mới tư duy kinh tế, tức là chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình thực hiện nền kinh tế thị trường,
mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước đã không ngừng phát triển đạt
những thành tựu to lớn về khoa học kỹ thuật, đời sống,..
Bên cạnh đó do sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo chiều hướng nhận thức
sai lầm của các lãnh đạo “dởm” đã làm cho không ít cán bộ Đảng viên suy thoái về đạo đức
lối sống, tệ nạn xã hội ngày càng tăng do thị hiếu chạy theo đồng tiền nên các cơ sở sản
xuất gian lận thương mại, trốn thuế, gây ô nhiễm môi trường sinh thái, vi phạm pháp luật
một cách nghiêm trọng điều đó đã in sâu trong nhận thức của thế hệ hiện nay và dần dần
hình thành ngay cả những thế hệ trẻ, đây cũng là một bài toán vô cùng nan giải đối với
nhiều nhà khoa học – nhà tri thức cần có một biện pháp để thay đổi tổng quan về nhận thức
của con người. Để tăng trưởng kinh tế và ổn định chính trị - xã hội thì việc trị nước bằng
đức trị, nhân trị và pháp trị đối với nước ta là việc tất yếu để theo kịp nền kinh tế nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nếu không Việt
Nam sẽ lu mờ đối với thế giới. Tư tưởng trị nước của triết học Trung Quốc cổ đại có ảnh
hưởng nhất định đối với các triều đại phong kiến Việt Nam. Những tư tưởng ấy rất phong
phú và sâu sắc về nội dung do đó đã để lại dấu ấn cho một thời đại, phản ánh một giai đoạn
Trang 3
GVHD: PGS. TS Vũ Văn Gầu
phát triển sôi nổi của lịch sử triết học Trung Quốc đó là thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc, tư
tưởng tiêu biểu của triết học Trung Quốc cổ đại như tư tưởng đức trị của Nho gia, pháp trị
GVHD: PGS. TS Vũ Văn Gầu
thế nào trong xã hội hiện nay? Chúng ta có thể vận dụng như thế nào vào công cuộc xây
dựng Chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là trong công tác tuyển chọn cán bộ công chức ở nước ta?
Để nghiên cứu về tư tưởng chính danh của Khổng Tử là một phạm trù rất rộng để áp
dụng và đời sống thực tế của con người và đất nước, đặc biệt giá trị của nó đối với việc
tuyển chọn cán bộ và công chức hiện nay của đất nước ta. Trong khi đất nước cần một hồi
chuông báo động thì chúng tôi là những người được PGS. TS Vũ Văn Gầu truyền thêm
kiến thức và nắm được triết học là gì? Triết học không hề khô khan mà nó đi vào thực tiễn
rất sâu, với kiến thức và lý luận vô cùng uyên bác của thầy để chúng tôi áp dụng vào thực
tế và cần phải nghiên cứu sâu về nhiều lĩnh vực khác nhau. Nhận thức được vai trò quan
trọng của những tư tưởng trị nước đối với việc ổn định nền kinh tế chính trị - xã hội và đặc
biệt trong công tác tuyển chọn cán bộ công chức hiện nay của đất nước nên tôi chọn đề tài
“Nội dung tư tưởng chính danh của Khổng Tử và giá trị của nó đối với việc tuyển
chọn công chức Việt Nam hiện nay”
2 . Mục đích, nhiệm vụ của tiểu luận.
Giúp cho chúng ta hiểu rõ nguồn gốc hình thành và phát triển của Nho giáo, những
tư tưởng cơ bản của Nho giáo, đặc biệt là những tư tưởng trong học thuyết “Chính danh”
của Khổng Tử. Ảnh hưởng và ý nghĩa giá trị của học thuyết “Chính danh” của Khổng Tử
trong việc ứng dụng, phát triển trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam.
Để đạt được mục đích trên, tiểu luận cần thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản sau:
- Chỉ ra tư tưởng cơ bản của Nho giáo là gì, điều kiện ra đời của tư tưởng đó.
- Chỉ ra được chính danh là gì và những nội dung cơ bản của nó.
- Phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng đức trị, nhân trị của Khổng Tử trong triết
học Trung Quốc cổ đại đối với việc tuyển chọn công chức Việt Nam hiện nay.
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
Trang 5
kinh tế xã hội hiện nay.
I. CƠ SỞ KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ NHỮNG THÀNH TỰU KHOA HỌC –
VĂN HÓA HÌNH THÀNH VÀ RA ĐỜI CỦA NHỮNG TƯ TƯỞNG TRỊ NƯỚC
TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC THỜI KỲ CỔ ĐẠI QUA CÁC THỜI KỲ
1.1 Cơ sở kinh tế - xã hội hình thành phát triển tư tưởng trị nước trong triết
học Trung Quốc cổ đại.
Đất nước Trung Quốc có sự phát triển mạnh mẽ được đánh dấu vào thời kỳ Xuân
thu – Chiến quốc, đồng thời đây cũng chính là thời kỳ chế độ chiếm hữu nô lệ bước vào
giai đoạn suy tàn. Có thể xem đây chính là gia đoạn giao thời từ chế độ tông tộc sang chế
độ gia trưởng, vì vậy, những giá trị đạo đức mới đang hình thành, phát triển. Do đó đã tạo
ra sự biến đổi toàn diện và sâu sắc trong rất nhiều các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội…. Đó là tiền đề cho sự giải phóng con người thoát khỏi sự phụ thuộc của thế
giới quan thần thoại tôn giáo đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của triết học. Lịch sử
Trung Quốc cổ đại qua nhiều thiên niên kỷ với những giai đoạn phát triển mạnh mẽ, có
những thành tựu hết sức rực rỡ về mọi mặt.
ạ
Trang 7
GVHD: PGS. TS Vũ Văn Gầu
Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XI trước công nguyên, phía Bắc Trung Quốc xuất hiện
một liên minh thị tộc rộng lớn với một nền sản xuất nông nghiệp, đó là triều đại Ân –
Thương. Dưới thời nhà Thương nghề trồng trọt chăn nuôi rất phát triển, gia đoạn này tiền
tệ đóng vai trò làm vật trung gian trong việc trao đổi sản phẩm. Xã hội thời Ân – Thương
chủ yếu gồm quý tộc chủ nô, nông dân và nô lệ. Quý tộc chủ nô sống rất xa hoa, hưởng lạc
trên nỗi khổ của nhân dân. Nô lệ bị coi như trâu ngựa, là lực lượng lao động chủ yếu và bị
huy động triệt để, thỏa mãn nhu cầu của giai cấp quý tộc. Nô lệ thường bị chôn sống theo
chủ và làm vật hiến tế cho thần linh. Điều đó đã nói lên sự tàn khốc của chế độ chính trị
khổng lồ và các thế lực trong xã hội. Sự phát triển của nền kinh tế đã tại ra điều kiện thuận
lợi cho việc mở rộng quan hệ của tầng lớp thương nhân đã tác động không nhỏ vào nền
chính trị - xã hội đương thời.
Tuy nhiên, vào thời kỳ đó việc kinh doanh buôn bán của họ được xã hội coi trọng,
với quan điểm coi thường nghề nông, đề cao nghề buôn bán đã gây khó khăn rất lớn trong
việc phát triển kinh tế thời kỳ này. Tuy nhiên, sự phát triển của nghề buôn bán với tầng lớp
thương nhân giàu có đã tạo nên sự biến đổi về chính trị trong xã hội, đó là sự cạnh tranh
giành quyền lực của tầng lớp quý tộc mới với tầng lớp quý tộc cũ. Vì thế, sự biến đổi về
quan hệ trong xã hội đã làm nên sự thay đổi về chính trị - xã hội của đất nước Trung Quốc
thời kỳ bấy giờ. Mối quan hệ giữa nhà vua và các nước chư hầu đã có sự biến đổi và dần
trở nên xa lạ, trật tự lễ nghĩa bị đảo lộn. Bởi vậy, quyền lực của nhà vua không được xem
là tối cao, ý của vua không còn được coi là ý của trời như thời kỳ trước đây. Cho nên
những quyền lực trước đây của nhà Chu đối với các nước chư hầu cũng không còn, vì thế
uy tín của nhà vua cũng dần bị giảm sút, các nước chư hầu nhân cơ hội này đã tìm cách
khôi phục nhằm tôn tính những cuộc nội chiến triền miên và hạn hán xảy ra liên tiếp, nạn
đói tràn lan đã dẫn đến nhà Chu ngày càng trở nên suy tàn. Đây cũng chính là nguyên nhân
làm cho địa vị và quyền lợi của các tầng lớp, các giai cấp đã bị thay đổi.
Bước vào thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc (770 – 221 TCN), triều đại nhà Chu suy
tàn. Thời Xuân thu (770 – 476 TCN) việc sử dụng đất công không còn nữa, cho nên đã dẫn
đến tình trạng tầng lớp quý tộc ngày càng ra sức bóc lột nhân dân lao động, đẩy họ rơi vào
tình trang vô cùng khốn khó. Thêm vào đó là những cuộc chiến tranh xâm lược, dẫn đến
những cảnh chết chóc đau thương, các gia đình phải sống trong cảnh chia ly do chiến tranh
thường xuyên xảy ra. Nhân dân lao động nghèo đã khó khăn thì càng ngày trở nên khó
khăn bởi vì phải chịu cảnh thiên tai, dịch bệnh, hạn hán mất mùa thường xuyên. Trong khi
đó, tầng lớp quý tộc tham lam lại càng ra sức bóc lột bằng cách thu thuế nặng để đổ lên đầu
những người nông dân nghèo. Vào thời kỳ Xuân thu đã xảy ra rất nhiều cuộc chiến tranh
dành địa vị và thôn tính lẫn nhau giữa các nước. Đến cuối thời kỳ Xuân thu thì các quốc
Trang 9
triển mạnh mẽ. Cùng với sự phát triển về nền kinh tế thì các cuộc chiến tranh cũng phát
triển không ngừng, khi nhận định về vấn đề này Mạnh Tử viết: “Đánh nhau dành đất, giết
người thây chết đầy đồng, đánh nhau tranh thành, giết người thây chết đầy thành” (Tranh
Trang 10
GVHD: PGS. TS Vũ Văn Gầu
địa dĩ chiến, sát nhân doanh dã. Tranh thành dĩ chiến, sát nhân doanh thành). Vì thế, đã dẫn
đến sự tan rã của chế độ công xã nông thôn ngày càng trở nên nhanh chóng hơn, chế độ
chiếm hữu tư nhân về ruộng đất trở thành quan hệ sở hữu thống trị đã tạo nên sự biến đổi
lớn. Trong đó chính sách thu thuế cũng có sự thay đổi, trước đây dựa vào sản lượng thì nay
lại thay bằng việc tính theo số lượng, đồng thời việc mua bán ruộng đất cũng trở nên dễ
dàng hơn, điều đó đã tạo cơ hội cho tầng lớp địa chủ giàu có thay nhau thâu tóm đất đai
vào tay mình, đẩy những người nông dân nghèo phải làm thuê kiếm sống. Do đó đã dẫn
đến thực tế là những người nông dân ngày càng rơi vào tình cảnh vô cùng nghèo khó,
không thể vươn lên được trong xã hội. Những mâu thuận xã hội trong lòng xã hội phong
kiến Trung Quốc vào thời kỳ này, chính là nguyên nhân làm cho đất nước không thể phát
triển được, đưa nền kinh tế ngày càng đi vào suy thoái và càng đẩy tầng lớp nhân dân lao
động trong xã hội vào tình trạng nghèo khổ, lạc hậu. Muốn đẩy lùi được thực trạng trên thì
điều quan trọng lúc này chính là đất nước cần có những chính sách cai trị đúng đắn, phù
hợp với tình hình của đất nước, nhằm khắc phục sự rối loạn xã hội vào thời điểm này.
Nhận thức được nguy cơ trật tự xã hội bị đảo lộn, cho nên gia cấp thống trị đã sử dụng một
số biện pháp như áp dụng “biến pháp” vào một số nước. Đồng thời, vào thời gian này trong
các quốc gia “lục quốc” thì nhà Tần được xem là hùng mạnh nhất vào năm 362 trước công
nguyên, do Tần Hiếu Công làm vua.
Nước Tần hùng mạnh không thể không nói đến những công lao mà Tần Hiếu Công
đã góp trong việc thực hiện khôi phục và phát triển nền kinh tế của đất nước. Chính vì việc
phát triển nền kinh tế có vai trò quan trọng trong cải thiện đời sống của một bộ phận không
Hoàng. Chính sách hà khắc của nhà Tần đã tạo cơ hội cho những người nông dân đứng lên
đấu tranh giành độc lập tự do và giải phóng cho mình thoát khỏi kiếp trâu ngựa. Vào năm
206 trước Công nguyên, cuộc khởi nghĩa do Lưu Bang đứng đầu đã lật đổ nhà Tần, xây
dựng một nhà nước mới và đây chính là thời kỳ nhà Hán đã ra đời.
1.2. Những thành tựu văn hóa – khoa học là cơ sở hình thành tư tưởng trị nước
trong triết học Trung Quốc cổ đại.
Sự biến động của đất nước Trung Quốc không làm cho các lĩnh vực khác cửa đời
sống xã hội giảm sút, mà còn phát triển rất đa dạng và phong phú. Trong đó phải kể đến
một số lĩnh vực tiêu biểu như văn hóa, khoa học… có ý nghĩa rất lớn đối với đất nước vào
thời kỳ này, tạo tiền đề để hình thành tư tưởng trị nước trong triết học Trung Quốc cổ đại.
Những thành tựu trong khoa học như việc làm ra lịch của nhà Ân, đánh dấu sự phát triển
lớn của lịch sử Trung Quốc thời kỳ này. Đồng thời, với việc sáng tạo ra chữ viết cũng được
coi là có ý nghĩa lớn trong việc chinh phục thiên nhiên của con người, quan sát sự vận hành
của mặt trăng và các vì sao, tính được chu kỳ và tính chất của nước sông dâng lên, quy luật
Trang 12
GVHD: PGS. TS Vũ Văn Gầu
sinh trưởng của cây trồng để tính Âm lịch. Ngoài ra họ còn tính được một năm có hai mùa
và mỗi tháng có 30 ngày như cách tính của chúng ta ngày nay. Có thể nói, phát minh trong
khoa học được coi là sớm nhất của đất nước Trung Quốc chính là làm ra lịch, đồng thời tri
thức về khoa học tự nhiên được xem là phát triển tương đối hoàn thiện vào thời kỳ này.
Cũng như một số quốc gia ở phương Đông, những phát minh khoa học của thời kỳ
cổ đại cũng chịu ảnh hưởng của tôn giáo. Vì thế, nền kinh tế có sự phát triển cao đặc biệt
về nông nghiệp, chăn nuôi và săn bắt. Trong thời kỳ này quan hệ sản xuất là chế độ gia
trưởng với trình độ thấp, điểm khác biệt của thời kỳ này đó chính là chưa có sụ phân biệt
về khái niệm sở hữu với tư liệu sản xuất và lao động. Có thể nói đây là thời kỳ xã hội
Trung Quốc đã có sự phân hóa sâu sắc giữa thành thị và nông thôn, sự phân chia này chính
Trị nước là hoạt động trung tâm của toàn bộ quá trình tổ chức và thực hiện những công
việc của đất nước. Vì thế, quan niệm trị nước cũng được hiểu theo những ý nghĩa rất khác
nhau. Ở Trung Quốc có hai đường lối trị nước cơ bản đó là đức trị và pháp trị. Xã hội
Trung Quốc cổ đại thì trong một chính thể quân chủ tuyệt đối, quyền lực nhà nước tập
trung trong tay nhà vua. Quyền lực của nhà vua luôn luôn được xem là quyền lực tối cao
nhất. Nhà vua trực tiếp ban hành pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và xét xử những
người vi phạm pháp luật. Cho nên về mặt ý thức, trong tư tưởng của những nhà triết học
chư thể có quan niệm trị nước theo nghĩa hẹp như chúng ta hiểu ngày nay. Chính vì vậy, tư
tưởng trị nước trong triết học Trung Quốc cổ đại được hiểu theo nghĩa rộng nghĩa là chỉ
hoạt động tổ chức thực hiện quyền lực của nhà nước nói chung. Có thể xem quyền lực của
nhà nước luôn đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với một quốc gia và không thể thiếu
trong việc ổn định nền chính trị - xã hội của chính quốc gia ấy.
Vì thế, khi coi chính trị là việc lớn lao của đạo làm người quân tử thì triết học Trung
Quốc cũng đồng thời coi việc trị nước là công việc cơ bản của đời sống xã hội, bởi vì trị
nước là lĩnh vực thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà triết học Trung Quốc cổ
đại. Điều đó, khiến cho nhiều người cảm thấy rằng không có dân tộc nào xem chính trị
quan trọng như dân tộc Trung Hoa. Bởi vì với họ, việc trị dân , trị nước phải là sứ mệnh
của kẻ sĩ, mà nếu không gặp thời, bất đắc dĩ phải “độc thiên” thì kẻ sĩ ít nhất cũng phải
truyền cái đạo của tiên vương, tiên thánh cho đoàn hậu sinh.
Có thể nói, các nhà triết học Trung Quốc cổ đại dù ở những mức độ khác nhau, đều
bàn đến vấn đề trị nước. Vì thế, nó đã được rất nhiều nhà triết học quan tâm nghiên cứu,
ngay cả nhà tư tưởng thuộc trường phái triết học Danh gia như Công Tôn Long mặc dù đã
đưa ra những lý thuyết phù phiếm như “bạch mã phi mã”, nhưng cũng không thể bỏ qua
vấn đề trị nước. Trường phái Danh gia, mặc dù bàn về những lý thuyết khiến người ta
Trang 14
GVHD: PGS. TS Vũ Văn Gầu
Trang 15
GVHD: PGS. TS Vũ Văn Gầu
dung không đồng nhất, mỗi quan điểm, học thuyết đều đưa ra cách giải thích riêng để bảo
vệ quan điểm của mình. Chính vì vậy, người ta gọi đây là thời kỳ “bách gia tranh mình”,
trăm nhà đưa tiếng, đồng thời sự phong phú và đa dạng của các tư tưởng thời kỳ này khi
tìm cách bảo vệ quan điểm của mình đã làm cho hệ thống triết học ngày càng trở nên hoàn
chỉnh hơn. Có những quan điểm khác nhau như thế nên đã dẫn đến sự phân chia thành các
trường phái triết học khi giải thích các quan điểm của mình, trong các trường phái đó tiêu
biểu phải kể đến đó chính là Nho gia, Pháp gia, Đạo gia…
Tư tưởng của trường phái Nho gia với một số nhà triết học tiêu biểu như Khổng Tử,
Mạnh Tử, Tuân Tử… Trong đó, Khổng Tử là người sáng lập, ông cho rằng cai trị xã hội
bằng pháp luật thì dân sợ nhưng không phục, Khổng Tử (551 – 479 tr.CN), họ Khổng tên
Khâu, tự Trọng Ni nguyên quán ở làng Xương Bình, nước Lỗ đời Chu. Nay là huyện Khúc
Phụ, tỉnh Sơn Đông. Cha tên là Lương Khúc Ngột, là một người anh dũng nhưng bị mất
sớm khi Khổng Tử mới lên ba tuổi. Mẹ tên là Nhan Thị, khi cha mất đi chẳng bao lâu thì
mẹ cũng qua đời, ông trở thành đứa con mồ côi cả cha lẫn mẹ và sống trong một gia đình
nghèo khó, nhưng Khổng Tử lại là một người có tướng mạo khác thường, rất hiếu học, trở
thành người nổi tiếng, có trí tuệ uyên thâm từ khi ông mới bước sang tuổi ba mươi. Khổng
Tử là người đầu tiên mở trường học và ông cũng là người có rất nhiều học trò theo học.
Ông sống vào thời kỳ mà chế độ tông pháp nhà Chu sắp bị băng hoại, suy tàn bởi các nước
chư hầu phản tranh từ thời Xuân thu cho đến khi chuyển sang thời kỳ Chiến quốc. Thời đại
của ông chính là thời đại “vương đạo suy vi”, trật tự lễ nghĩa của nhà Chu bị đảo lộn. Là
người có trí tuệ uyên bác, Khổng Tử chủ trương lập lại trật tự lễ nghĩa của nhà Chu, theo
cách của mình để phù hợp với tình hình chính trị - xã hội lúc bấy giờ. Khi ông mở trường
dạy học thì ông luôn khát khao được thực hiện lý tưởng chính trị của mình, ông đi nhiều
nơi và mong muốn tìm được vị vua nào đó thực hiện lý tưởng của mình, Khổng Tử bằng
nhiều cách đã tìm cách tuyên truyền lý tưởng của mình chẳng hạn như tranh luận với các
Kinh Thi, Kinh Thư, đồng thời ông đã ghi chép và tổng hợp thành bộ sách có tên gọi là
Mạnh Tử. Cuốn sách này đời sau đã đánh giá là tác phẩm kinh điển của trườn phái triết học
Nho gia.
Có thể nói, những đóng góp của Mạnh Tử đối với triết học Nho gia còn phải kể đến
đó là công việc ông đã đấu tranh để chống lại những quan điểm của những trường phái triết
học khác nhau vào thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc. Để kế thừa và phát triển những tư tưởng
của Khổng Tử, ông đã cho ra đời hệ thống triết học duy tâm chủ nghĩa dựa trên nền tảng tư
tưởng như “Thiên mệnh”, “sinh nhi tri chi”, ”nội tỉnh”, “chính tâm thành ý” của triết học
Khổng Tử và Tử Tư, Tăng Sâm với danh nghĩa bảo vệ Nho giáo, đồng thời Mạnh Tử đã
phát triển những tư tưởng này lên đến đỉnh cao. Tuy nhiên, những tư tưởng của Mạnh Tử
lại dựa trên lập trường, tư tưởng của giai cấp quý tộc chủ nô đang sắp chuyển hóa thành
Trang 17
GVHD: PGS. TS Vũ Văn Gầu
giai cấp địa chủ phong kiến nên những tư tưởng của ông trở nên bảo thủ và không phù hợp
với thời kỳ lịch sử lúc bấy giờ. Vào cuối thời kỳ Xuân thu những cuộc đấu tranh giai cấp
ngày càng gay gắt hơn, những mâu thuận xã hội càng trở nên trầm trọng hơn bao giờ hết.
Tầng lớp quý tộc mới ở thời kỳ này ngày càng phô trương thanh thế của mình, trong khi đó
tầng lớp quý tộc cũ thì ngày càng mất dần vị thế thống lĩnh. Đây cũng chính là nguyên
nhân chính làm cho những tư tưởng của các nhà triết học có sự chuyển biến rõ nét và có
những quan điểm khác nhau, Mạnh Tử khi quan niệm về thế giới, ông lại cho rằng trời là
đấng anh minh tối cao, sáng tạo và chi phối vạn vật trong vũ trụ. Chính điều này để ổn định
nền chính trị - xã hội của đất nước, Mạnh Tử đề cao mệnh trời và cho ra đời học thuyết
“Nhân chính”, nhằm đem lại bình yên cho nhân dân mà không cần sử dụng vũ lực.
Cùng quan điểm của các nhà triết học thuộc trương phái Nho gia, thì học thuyết bản
tính ác của con người mà Tuân Tử và Hàn phi là tiền đề lý luận của chủ trương Pháp trị của
trường phái Pháp gia. Tuân Tử họ Tuân tên thường gọi là Huống, tên tự là Khanh người
cho rằng kẻ giỏi về quân sự là phải biết “thiện phụ dân”, nghĩa là cần phải biết dựa vào sức
mạnh của dân một cách hiệu quả. Theo Tuân Tử, người thành công chính là người biết dựa
vào sức mạnh của dân không thể nắm chắc phần thắng, đặc biệt là khi đất nước có chiến
tranh xảy ra điều này lại càng trở nên vô cùng quan trọng. Ông cho rằng “thiện phụ dân”
chính là sức mạnh của người cầm quyền, người điều binh khiển tướng. Tuy nhiên, những
tư tưởng của ông cũng không được trọng dụng ngay trên mảnh đất quê hương của mình,
nên ông đã sang Sở vào khoảng năm 250 Tr.CN, tại đây ông đã dược vị tướng là Xuân
Thân Quân bổ nhiệm làm huyện lệnh và sinh sống ở đây đến cuối đời mà không trở về quê
hương nữa.
Sau hai nhà triết học lớn Khổng Tử và Mạnh Tử, Tuân Tử được xem là nhà triết học
thuộc trường phái Nho gia lớn vào cuối thời kỳ Chiến quốc. Có thể nói, đây chính là thời
kỳ có rất nhiều nhà tư tưởng với rất nhiều nhà học thuyết khác nhau như Nho gia, Đạo gia,
Mạc gia… Vì thế, đây là thời kỳ có nhiều học thuyết phát triển và nở rộ, mỗi học thuyết
đều có thế giới quan và nhân sinh khác nhau, kế thừa và đối lập với nhau. Trong những nhà
tư tưởng ấy, Tuân Tử là người đã dựa trên quan điểm của mình đó chính là thế giới duy vật
và lập trường lý luận của mình để chống lại những quan điểm của các trương phái triết học
khác như quan điểm về “đạo” của Lão – Trang rồi học thuyết về “tính thiện” của Mạnh
Tử…. Những quan điểm của Tuân Tử thực sự có ý nghĩa rất lớn với thời kỳ bấy giờ và
điều đó đã làm cho các nhà tư tưởng thời kỳ đó không thể phủ nhận trình độ nhận thức vô
cùng uyên bác của ông. Quá trình nghiên cứu những tư tưởng triết học của Khổng Tử có
thể cho thấy ông có sự kế thừa rất lớn trong những quan điểm triết học của Khổng Tử như
việc đề cao nhân, nghĩa, lễ, nhạc, ông chủ trương “chủ nghĩa chính danh”, trọng vương
khinh bá; nhưng quan điểm của ông cũng có phần đối lập với tư tưởng của Khổng Tử và
Trang 19
GVHD: PGS. TS Vũ Văn Gầu
Mạnh Tử không chỉ về thế giới quan mà còn cả về triết học chính trị - xã hội, ngoài ra,
GVHD: PGS. TS Vũ Văn Gầu
gọi là danh . Chính danh là thực nào thì hợp với danh đó, và danh nào là để chỉ thực đó.
Danh và thực (phận) hợp nhau là chính danh; danh và thực (phận) không hợp nhau là
không chính danh, là loạn danh. Cho nên trong Luận ngữ, thiên Nhan Uyên khi Quý
Khương Tử hỏi Khổng Tử về việc chính trị, Khổng Tử đáp rằng: “Chữ chính (cai trị) do
chữ chính (ngay thẳng, đúng đắn) mà ra. Cai trị tức là làm cho dân trở nên ngay thẳng,
đúng đắn. Nay đại phu là bậc dẫn đầu trong dân chúng mà tự mình ngay thẳng, chính đáng,
thì ai dám không chính đáng?” Trong thiên Chính danh, Tuân Tử cũng đã nói: “ Danh dĩ cử
thực”. Xã hội Trung Hoa, thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc, nhiều tư tưởng học thuật đối chọi
nhau, xã hội hỗn loạn, theo các nhà triết học, là do loạn danh thực vậy.
Thuyết Chính danh được đề xướng đầu tiên trong tác phẩm Luận ngữ và Xuân thu
của Khổng Tử. Khổng Tử sở dĩ chủ trương chính danh là vì: 1. Trật tự xã hội thời kỳ Xuân
thu – Chiến quốc đảo lộn, đây là giai đoạn tan rã của chế độ tông pháp nhà Chu, chế độ
phong kiến sơ kỳ đang hình thành, xã hội phân quyền loạn lạc; 2. Lễ nhạc băng hoại; 3.
Đạo đức, luân lý và trật tự lễ nghĩa suy đồi, nhưng những chuẩn mực luân lý đạo đức và
trật tự lễ nghĩa của xã hội mới còn đang manh nha, thiên hạ vô đạo khiến Tề Cảnh Công
phải than rằng: “Quân bất quân, thần bất thần, phụ bất phụ, tử bất tử; tuy hữu túc, ngô đắc
nhi thực chư – Nghĩ như vua không ra vua, tôi không ra tôi, cha không ra cha, con không ra
con, dẫu ta có lúa đầy kho, có chắc ngồi yên mà ăn được chăng? ” . Vì vậy, Khổng Tử đã
đề xuất chủ trương chính danh nhằm khôi phục lại trật tự lễ nghĩa và thể chế chính trị xã
hội của nhà Chu, có thêm bớt, do xã hội, thời cuộc đã có sự biến chuyển.Tư tưởng Chính
danh, sau đó được phát triển khá sâu sắc, đặc biệt là về mặt nhận thức luận và lôgíc học
ngoài ý nghĩa chính trị, xã hội qua tư tưởng của Tuân Tử, trong thiên Chính danh, và các
Danh gia, Biện giả và cả trong thuật trị nước của Pháp gia, Hàn Phi Tử. Ý nghĩa chính trị,
xã hội của Chính danh: Khổng Tử, trong Luận ngữ, thiên Tử Lộ, viết: “Ông Tử Lộ hỏi
rằng: “Nếu vua nước Vệ đợi thầy về giúp ngài cai trị, thầy làm gì trước tiên?”. Khổng Tử
đáp: “Ắt phải chính danh đã”. Tử Lộ lại hỏi: “Có vậy sao? Thầy nói vu khoát vậy (viển
vông, không thực tế), lẽ gì chỉ sửa cho ngay thẳng, đúng đắn mà có thể trị được thôi sao?
các mối quan hệ đó, Khổng Tử đặc biệt chú ý hai mối quan hệ chính là vua tôi, cha con; và
từ hai mối quan hệ này, ông đã giải quyết nhiều vấn đề chính trị - xã hội mà thời đại ông
đặt ra. Thi Tử (cùng thời Thương Ưởng) trong phần Phân (sự phân biệt) viết: “Sự trị dân
của bậc minh chủ, việc làm ít mà công lao, sự nghiệp nhiều, thân yên vui, an nhàn mà nước
bình trị, nói ít mà mệnh lệnh thi hành thông suốt; là chính danh vậy. Bậc quân nhân ví nếu
có thể chính danh, thì kẻ ngu dốt và người thông minh trí tuệ đều tận tình hết mình, nắm
giữ cái duy nhất dùng sự tĩnh tại, mà thanh danh, danh tiếng hay lệnh danh tự chính đáng,
ngay thẳng, mệnh lệnh việc làm tự định, việc thưởng phạt tùy thuộc, căn cứ vào danh, thì
dân không ai không kính trọng”. Quản Tử, trong Quân thần hạ, viết: “Có sự loạn trong
Trang 22
GVHD: PGS. TS Vũ Văn Gầu
cung thất, có sự loạn trong anh em, có sự loạn của đại thần, có sự loạn của trung dân, có sự
loạn của kẻ tiểu nhân, năm điều đó cùng xảy ra thì là điều nguy hại cho kẻ bên trên vậy…
Cho nên sự chính danh phải xem xét nghi hoặc, thì bên trong sẽ định vậy”. Trong tác phẩm
Lã thị xuân thu, thiên Chính danh, cũng đã nói: “Danh chính thì trị, danh mất thì loạn. Kẻ
làm cho mất danh, là kẻ nói, chủ trương quá mức. Nói, chủ trương quá mức độ, tức là biến
cái có thể, cho phép thành cái không có thể, không cho phép, nên cái phải biến thành cái
không phải; biến cái đúng thành cái không đúng nên cái sai thành không sai. Cho nên lời
nói, chủ trương của người quân tử, đủ để nói thành thực về người hiền tài, không nói quá
sự thực về những cái giống nhau mà thôi; đủ để giải thích cho rõ chỗ sai lầm của trị và
nguyên do của loạn mà thôi; đủ để biết cái tình của sự vật, chỗ con người giành được để
sinh tồn mà thôi. Phàm mọi sự loạn, là do hình danh không đúng vậy”. Xuân thu phồn lộ,
thiên Ngọc anh, viết: “Bắt đầu của việc trị nước là ở chính danh”. Lưu Dực (thời Hán –
Ngụy), trong Chính danh cũng viết: “Phàm danh không ngay thẳng, chính đáng thì mọi
việc sẽ sai lầm; vật mà không có sự tiết chế, thì công dụng của nó sẽ quá mức. Sai lầm thì
sẽ không biết được thực chất của nó, quá mức đó tất sẽ không ngăn cấm được sự sai trái
giống nhau vậy. Cho nên vạn vật tuy nhiều, lúc muốn chỉ sự vật bao gồm thì gọi là “vật”;
vật là một “đại công danh” (danh chung) vậy. Suy rộng ra để cộng thêm, cộng rồi lại cộng
thêm nữa cho đến không cộng được nữa mới thôi. Khi muốn riêng chỉ về một loại như gọi
là “điểu thú”; điểu thú là một “đại biệt danh = danh riêng biệt nhất” vậy. Suy rộng ra mà
phân biệt cho đến lúc không còn phân biệt nữa mới thôi. Danh vốn không có sự đúng sẵn,
ta dùng quy ước mà đặt ra. Sự quy ước lệ ấy đã định, đã quen, thì gọi là đúng. Khác với cái
quy ước ấy ắt gọi là không đúng. Cái danh vốn có cái thực sẵn, ta lập ra quy ước mà đặt ra
thực. Cái quy ước đã định, đã quen thì gọi là thực danh. Danh vốn là cái rất hay, vì chúng
gọn gàng, trỏ ngay vào sự vật, dễ hiểu mà không gây lầm lẫn gọi là thiện danh… Đó là
điểm then chốt nhất của việc chế danh”. Phương tiện để thực hiện chính danh: Chính danh,
thực chất là khôi phục lại và duy trì trật tự lễ nghĩa, đẳng cấp danh phận xã hội, do đó để
thực hiện chính danh, Khổng Tử đã đề cao lễ, coi lễ là phương tiện để thực hiện chính
danh. Lễ ở Khổng Tử đó là lễ tiết nhà Chu, nhưng do sự biến chuyển của thời cuộc, nó đã
được chế định, thêm bớt.Trong Luận ngữ, thiên Bát dật, tiết 14, Khổng Tử nói: “Triều đại
nhà Chu soi xét hai triều đại đã qua mà chế định lễ tiết, nhờ vậy lễ trở nên rực rỡ biết bao!
Vậy ta theo lễ nhà Chu”, “nhà Ân nối nhà Hạ nương theo lễ nhà Hạ, nhưng có thêm bớt;
những chỗ thêm bớt ấy ta có thể dò theo sử mà biết vậy. Sau này có triều đại nào nối tiếp
nhà Chu, cũng nương theo nhà Chu, nhưng có thêm bớt”. Lễ vốn là việc kính quỷ thần cầu
phúc, là sự thuận theo trật tự của tự nhiên áp dụng vào trật tự xã hội. “Lễ là do các tiên
vương thuận theo đạo trời đất, lấy làm tình cảm để trị dân” (Lễ ký, thiên Lễ vận). “Nhạc là
hòa cùng trời đất, lễ là thuận theo trật tự của trời đất” (Lễ ký, thiên Nhạc ký). Ngoài
Trang 24
GVHD: PGS. TS Vũ Văn Gầu
nguyên nhân trên, lễ sản sinh còn do sự cần thiết để tiết chế nhân tính, tức tiết chế “thất
tình” gồm hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục, “thập nghĩa” của nhân tình gồm cha từ, con hiếu, anh
lương, em kính, chồng tình nghĩa, vợ thuận tòng, lớn ân, bé thuận, vua huệ, tôi trung.Lễ