ĐẶC điểm DỊCH tễ học BỆNH sởi tại KHU vực MIỀN bắc năm 2018 và một số yếu tố LIÊN QUAN - Pdf 57

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BỘ Y TẾ

PHẠM VĂN KHANG

ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC BỆNH SỞI
TẠI KHU VỰC MIỀN BẮC NĂM 2018
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

HÀ NỘI – 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

PHẠM VĂN KHANG

ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC BỆNH SỞI
TẠI KHU VỰC MIỀN BẮC NĂM 2018
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Chuyên ngành : Y học Dự phòng
Mã số
: 8720163


gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành khóa học.
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn


LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là Phạm Văn Khang, học viên cao học khóa XXVII, chuyên
ngành Y học Dự Phòng, Trường Đại học Y Hà Nội xin cam đoan:
1. Đây là nghiên cứu của tôi, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của
TS. Phạm Quang Thái.
2. Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn trung thực và khách
quan, do tôi tổng hợp và thực hiện.
3. Kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa được đăng tải trên bất kỳ
một tạp chí hay một công trình khoa học nào.

Hà Nội, ngày

tháng

năm 2019

Tác giả luận văn

Phạm Văn Khang


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DTH

Tiêm chủng mở rộng
Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật
Trung tâm y tế dự phòng
Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc
Vệ sinh dịch tễ trung ương
Tổ chức y tế thế giới


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .......................................................3
1.1. Tổng quan chung về bệnh sởi ................................................................3
1.2. Tình hình và sự phân bố bệnh sởi trên Thế giới và ở Việt Nam .........14
1.3. Một số nghiên cứu về Dịch tễ học bệnh sởi và một số yếu tố liên quan......20
1.4. Đặc điểm địa lý, kinh tế, văn hóa xã hội, y tế khu vực miền Bắc .......22
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........23
2.1. Đối tượng nghiên cứu ..........................................................................23
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu .......................................................23
2.3. Phương pháp nghiên cứu .....................................................................24
2.4. Sai số và biện pháp hạn chế sai số ......................................................30
2.5. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu .......................................................30
2.6. Hạn chế nghiên cứu .............................................................................31
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ...................................................32
3.1. Đặc điểm dịch tễ học bệnh sởi khu vực miền Bắc năm 2018 .............32
3.2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến mắc sởi....................................38
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN ...........................................................................47
4.1. Đặc điểm dịch tễ học bệnh sởi khu vực miền Bắc, năm 2018 ............47
4.2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến mắc sởi ...................................55
4.3. Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu ...............................................61
KẾT LUẬN....................................................................................................62

Mối liên quan giữa khả năng mắc sởi và tiền sử tiếp xúc trong
vòng 21 ngày trước phát ban........................................................43
Mối liên quan giữa khả năng mắc sởi và tiền sử di chuyển.........44
Mối liên quan giữa khả năng mắc sởi với các trường hợp sốt phát
ban quanh nơi cư trú.....................................................................44
Mối liên quan giữa tuổi và biến chứng của bệnh sởi ..................45
Mô hình đa biến mối liên quan giữa các yếu tố tới khả năng mắc
bệnh sởi .......................................................................................46


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1:

Phân bố tỷ lệ mắc sởi-rubella/100.000 dân và tỷ lệ tiêm vắc
xin sởi mũi 1, 2 khu vực châu Âu, 1980-2015 .......................16

Biểu đồ 1.2:

Phân bố các trường hợp sởi theo tháng tại các khu vực từ năm
2015-2019 ..............................................................................17

Biểu đồ 1.3:

Phân bố tỷ lệ mắc sởi /100.000 dân và tỷ lệ tiêm vắc xin sởi
mũi 1, 2 tại Việt Nam 1984-2018 ...........................................18

Biểu đồ 3.1:

Tỷ lệ mắc bệnh theo tháng của khu vực đồng bằng và miền
núi, và hệ số mùa dịch theo tháng...........................................34


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Sởi là một trong những bệnh truyền nhiễm cấp tính, bệnh do vi rút sởi
gây ra được lây truyền do tiếp xúc gần với các giọt nước bọt hay chất nhầy
bắn ra từ mũi họng người bệnh. Bệnh có đặc điểm hay gặp ở trẻ nhỏ và dễ
dàng gây thành dịch, đặc biệt là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây
ra tử vong ở trẻ nhỏ do làm suy giảm miễn dịch [1]. Biểu hiện lâm sàng của
bệnh sởi bao gồm các triệu chứng sốt; phát ban; viêm long đường hô hấp trên,
xuất hiện các hạt nhỏ màu trắng (Koplik) ở niêm mạc miệng. Bệnh có thể gây
ra nhiều biến chứng nguy hiểm như: viêm phổi; viêm tai; rối loạn tiêu hóa...
thậm chí có thể viêm não dễ dẫn đến tử vong [2]. Theo số liệu của Tổ chức Y
tế thế giới (WHO), trước khi có vắc xin sởi khoảng 90% trẻ dưới 10 tuổi bị
mắc bệnh sởi, năm 2001 trên toàn thế giới có khoảng 23 triệu người bị hậu
quả do mắc bệnh sởi [3].
Trên thế giới sau khi vắc xin sởi được đưa vào tiêm chủng, từ năm 20002017, vắc xin sởi đã giúp giảm 21,1 triệu trường hợp tử vong do mắc bệnh
sởi. Mặc dù vắc xin sởi an toàn và hiệu quả, trong năm 2017 vẫn còn 110.000
trường hợp mắc sởi tử vong, hầu hết là trẻ dưới 5 tuổi [4].
Với mục tiêu loại trừ bệnh sởi tại 5 khu vực trên thế giới vào năm 2020,
WHO đã đưa ra những chỉ tiêu quan trọng như đạt được độ bao phủ 2 mũi vắc
xin sởi ít nhất là 95%; số trường hợp mắc sởi dưới 1/1.000.000 dân; tỷ lệ
giám sát trường hợp sốt phát ban nghi sởi 2/100.000 dân ở cấp độ huyện và
phải duy trì tỷ lệ đó ít nhất trong 3 năm liền. Đây cũng là mục tiêu của chính
phủ Việt Nam, Chương trình mục tiêu y tế quốc gia của Việt Nam đã đặt ra
mục tiêu loại trừ bệnh sởi vào năm 2012, tuy nhiên do tình hình thực tế nên
mốc thời gian đã được dịch chuyển sang năm 2020 [5].
Theo diễn biến chu kỳ của dịch bệnh sởi theo năm, cứ khoảng 4-5 năm
lại có một vụ dịch: năm 2009-2011 ghi nhận hàng chục nghìn trường hợp sởi


thời gian lúc trẻ bắt đầu nhập học [8]. Sau khi chương trình tiêm chủng mở
rộng được nghiên cứu và đưa vào tiêm cho trẻ nhỏ, hàng năm số lượng trường
hợp sởi và số vụ dịch sởi đã giảm, số trường hợp tử vong do sởi giảm đi rất
nhiều so với những năm trước đó.
Đến năm 2000 sau bốn mươi năm sau khi vắc xin sởi được sử dụng trên
toàn thế giới, tỷ lệ mắc sởi, biến chứng và tử vong do sởi đã giảm tại nhiều
Quốc gia tuy nhiên vẫn còn cao tại các nước đang phát triển. Những năm sau
đó dịch sởi vẫn diễn ra nhưng chu kỳ theo năm xa hơn từ 4-5 năm một lần.
1.1.2. Đặc điểm bệnh sởi
1.1.2.1. Khái niệm bệnh sởi
Sởi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút sởi gây ra. Biểu hiện của
bệnh bao gồm: sốt, phát ban và viêm long đường hô hấp, xuất hiện các hạt
nhỏ màu trắng (Koplik) ở niêm mạc miệng. Bệnh sởi có thể gây ra nhiều biến
chứng nguy hiểm như viêm tai giữa, viêm phổi, tiêu chảy, khô loét giác mạc
mắt, thậm chí có thể viêm não dễ dẫn đến tử vong, bệnh đặc biệt nghiêm
trọng ở trẻ nhỏ, trẻ suy dinh dưỡng. Bệnh sởi rất dễ lây lan và thường gây
thành dịch [2].


4

1.1.2.2. Tác nhân gây bệnh
Vi rút sởi thuộc loài Morbillivirus họ Paramyxoviridae có cấu trúc hình
cầu với đường kính 120-250nm, vật liệu di truyền là sợi ARN đơn, nó chỉ có
một type huyết thanh duy nhất và bền vững nhờ vậy hiệu quả của vắc xin
phòng bệnh là cao, miễn dịch quần thể với sởi có thể đạt trên 90% nếu quần
thể được tiêm đủ 2 liều vắc xin [9], [10].
Vi rút sởi có sức chịu đựng kém với môi trường bên ngoài và nhanh
chóng bị bất hoạt bởi nhiệt độ, ánh sáng, PH a xít, ete, tríp xin. Nó có thể tồn
tại một thời gian ngắn (ít hơn 2 giờ) ở không khí, vật thể hoặc các bề mặt [9].

thuộc vào lượng kháng thể được truyền qua trong quá trình mang thai và tỷ lệ
suy giảm kháng thể. Nhiều nghiên cứ và lượng tồn dư của kháng thể từ mẹ
truyền cho con đã đưa ra được kết luận về lịch tiêm sởi mũi một cho trẻ. Tiêm
chủng cho trẻ lúc 9 tháng tuổi thường đạt khoảng 95% (94-98%) trẻ có đáp
ứng miễn dịch, có khoảng dưới 5% trẻ không có đáp ứng miễn dịch đối với
mũi vắc xin sởi đầu tiên do nhiều nguyên nhân khác nhau như do còn có
kháng thể thụ động từ mẹ, vắc xin chưa đảm bảo chất lượng hoặc do những
nguyên nhân khác. Tuy nhiên trong thơi gian gần đây, những trẻ mắc sởi
chiếm tỷ lệ cao dưới 9 tháng hoặc dưới 6 tháng tuổi, cần phải có điều chỉnh
thời gian tiêm sởi mũi một cho trẻ trong hoàn cảnh có số lượng trường hợp
sởi nhiều. Việc tiêm mũi hai vắc xin sởi có thể đạt tỷ lệ miễn dịch lên đến
99%, do vậy cần tiêm mũi thứ 2 để tăng cường miễn dịch trong cộng đồng
[7], [9], [11].
Vi rút sởi có khả năng lây truyền mạnh và nhanh nên có thể nhanh chóng
phát hiện ra khối cảm nhiễm mới xuất hiện hoặc nhóm cảm nhiễm còn sót lại
ở bất cứ nơi nào (lỗ hổng miễn dịch). Khi lỗ hổng miễn dịch đủ lớn vi rút sởi
có thể gây dịch. Ngay cả những nơi có tỉ lệ tiêm chủng cao, tỉ lệ cảm nhiễm
thấp nhưng đông dân hoặc tập trung đông người như trường học, doanh trại


6

quân đội…cũng có thể có dịch sởi. Để cắt đứt được sự lây truyền của bệnh, tỉ
lệ miễn dịch bảo vệ đặc hiệu sởi tại cộng đồng phải đạt mức ≥ 95% [12].
1.1.3.4. Tính chất chu kỳ của bệnh sởi
Trước khi có vắc xin, sởi cũng là một bệnh lưu hành địa phương trong
cộng đồng dân cư đặc biệt là tại các đô thị lớn dịch có tính chu kỳ khoảng 1-2
năm [8]. Sau khi có chương trình tiêm vắc xin sởi, chu kỳ dịch kéo dài hơn từ
4 - 5 dịch sởi thường quay lại do phần lớn khối cảm nhiễm đã có miễn dịch
với vi rút sởi. Và lỗ hổng miễn dịch cần nhiều thời gian hơn để tích tụ lại

63% chưa được tiêm vắc xin sởi [7]. Cũng theo nghiên cứu của Rong-Qiang
Zhang và cộng sự cho thấy tỷ lệ mắc sởi ở TP Xianyang -Trung Quốc trong
giai đoạn 2000-2014 cao dần ở các nhóm đối tượng: tiêm từ 2 mũi vắc xin trở
lên, tiêm 1 mũi, không rõ tình trạng tiêm chủng, không tiêm chủng. Việc thiếu
vắc xin dẫn tới tiêm chủng muộn hay chưa được tiêm vắc xin cũng là một
trong những yếu tố nguy cơ dẫn tới mắc bệnh sởi ở trẻ từ 8 tháng tới 14 tuổi ở
Trung Quốc [15].
Theo nghiên cứu của Đặng Thị Thanh Huyền và cộng sự, mặc dù
chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR) đã được triển khai định kỳ và bao
phủ xuống tận tuyến xã phường, tiêm 2 mũi vắc xin sởi cho trẻ 9 và 18 tháng
tuổi đạt tỷ lệ trên 90% tuy nhiên trên thực tế cộng đồng vẫn có dịch sởi xảy ra
[16]. Các bệnh truyền nhiễm nói chung, đặc biệt là bệnh sởi thường xảy ra khi
khối cảm thụ bệnh (những người chưa có miễn dịch) đủ lớn tồn tại trong cộng
đồng tạo thành một lỗ hổng miễn dịch. Khi lỗ hổng miễn dịch tích lũy đủ lớn
sẽ tạo thành dịch. Nguyên nhân dẫn đến sự tích lũy của lỗ hổng miễn dịch có
thể do:
Tỷ lệ tiêm chủng vắc xin không đạt 100%. Mặc dù các địa phương
thường báo cáo hàng năm tỷ lệ tiêm chủng đạt trên 90-99% nhưng đây là tỷ lệ
bao phủ ở cấp độ tuyến tỉnh. Trên thực tế khi điều tra tiêm chủng tại các cấp


8

độ tuyến dưới tỉnh thì tỷ lệ tiêm chủng chưa đạt được như thế (đặc biệt là
thôn-bản, xã). Bên cạnh đó tại những khu vực thành thị nơi có biến động dân
cư lớn, không thể quản lý được hết đối tượng tiêm chủng và có một lượng đối
tượng không được cơ hội nhận vắc xin sởi nhưng không được đưa vào báo
cáo. Như vậy thực tế hàng năm vẫn có một lượng trẻ không được tiêm chủng
và có nguy cơ mắc sởi.
Nếu tiêm đúng lịch mũi 1 cho trẻ lúc 9 tháng tuổi, hiệu lực trung bình

phòng chống loại trừ bệnh sởi, vì nhóm lứa tuổi dưới 6 tháng còn chưa có chỉ
định tiêm vắc xin sởi.
1.1.4.3. Tiền sử tiêm chủng hoặc mắc bệnh sởi của mẹ
Trẻ em sinh ra được nhận miễn dịch thụ động từ mẹ truyền qua nhau thai
kể từ khi sinh ra đến khi lượng kháng thể này giảm dần, quá trình này phụ
thuộc vào lượng kháng thể được truyền từ mẹ trong quá trình mang thai [1].
Nghiên cứu của Đặng Thị Thanh Huyền và cộng sự ở nhóm 405 trẻ từ 2-9
tháng tuổi tại tỉnh Hải Dương cho thấy Bà mẹ đã từng mắc sởi truyền kháng
thể cho con cao hơn 2,5 lần các bà mẹ chưa từng mắc sởi và chưa từng tiêm
vắc xin sởi. Tỷ lệ trẻ có kháng thể bảo vệ ở nhóm trẻ 2 tháng tuổi là 35,1%,
nhóm 3-5 tháng tuổi là 21,3% và ở nhóm 6-9 tháng tuổi là 0,5%. Tất cả
(100%) trẻ từ 7-9 tháng tuổi không còn kháng thể bảo vệ [16].
Nghiên cứu của Mark Papania về tăng tính nhạy cảm với bệnh sởi ở trẻ
sơ sinh tại Mỹ cho thấy những trẻ sơ sinh được sinh ra bởi những bà mẹ sinh
từ năm 1963 về sau (là năm vắc xin sởi được đưa vào tiêm chủng) có nguy cơ
dễ bị mắc sởi hơn so với những đứa trẻ có mẹ sinh trước năm 1963 vì chúng
nhận được ít kháng thể từ mẹ hơn. Nguy cơ mắc sởi ở trẻ sơ sinh cũng cao
hơn ở những trẻ có mẹ bị mắc sởi sau khi sinh do những bà mẹ này không có
kháng thể mẹ truyền qua cho con trong thời kỳ mang thai [19].
1.1.4.4. Tình trạng miễn dịch


10

Những người bị suy giảm miễn dịch như: trẻ em suy dinh dưỡng, người
mắc hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) hoặc bẩm sinh...những
đối tượng dễ bị tác động như trẻ em, phụ nữ có thai… dễ có nguy cơ bị mắc
sởi và các biến chứng của sởi hơn [1].
1.1.4.5. Tiền sử tiếp xúc, di chuyển, môi trường sống
Tại những nơi tập chung đông người như: ở các thành phố lớn, doanh

sau tai), sưng đau khớp [3].
1.1.5.2. Chẩn đoán Phòng xét nghiệm
Trường hợp xác định sởi phòng xét nghiệm: Là trường hợp được chẩn
đoán xác định mắc sởi bằng một trong các xét nghiệm sau:
- Xét nghiệm ELISA có kháng thể IgM đặc hiệu kháng vi rút sởi.
- Xét nghiệm RT-PCR xác định được đoạn gen đặc hiệu của vi rút sởi.
- Phân lập được vi rút sởi.
1.1.5.3. Chẩn đoán dịch tễ học
Trường hợp xác định sởi dịch tễ học: trường hợp nghi sởi không được
lấy mẫu nhưng có liên quan dịch tễ với trường hợp sởi được chẩn đoán xác
định phòng xét nghiệm hoặc trường hợp sởi được chẩn đoán xác định bằng
dịch tễ học (có tiếp xúc hoặc có khả năng tiếp xúc tại cùng một không gian và
thời gian, trong đó khoảng cách giữa ngày phát ban của hai trường hợp từ 7 21 ngày) [3].
1.1.5.4. Chẩn đoán phân biệt
Cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh có phát ban dạng sởi:
- Rubella: Phát ban không có trình tự, ít khi có viêm long và thường có
hạch cổ.


12

- Enterovirus: phát ban không có trình tự, thường nốt phỏng, hay kèm
rối loạn tiêu hóa.
- Kawasaki: sốt cao khó hạ, môi lưỡi đỏ, hạch cổ, phát ban không theo
thứ tự.
1.1.5.5. Biến chứng
Biến chứng đường hô hấp: viêm tai giữa, viêm thanh quản, viêm phế
quản phổi, viêm phổi tiên phát do virus sởi hoặc bội nhiễm vi khuẩn thứ phát.
Biến chứng thần kinh: viêm não hoặc viêm màng não- não và tủy.
Viêm não gặp ở khoảng 1/1000 trẻ mắc sởi, đây là biến chứng nặng nhất có

Biện pháp dự phòng không đặc hiệu:
Đeo khẩu trang, cách ly tránh lây lan cho người xung quanh, tiến hành
khử trùng, tăng cường thông khí nơi ở, nơi làm việc.
Giáo dục, tuyên truyền cộng đồng về bệnh sởi để người dân biết cách
nhận biết và phòng chống.
Nâng cao sức đề kháng cơ thể bằng: ăn uống đủ chất dinh dưỡng, bổ
sung hợp lý các vitamin và khoáng chất.
Bổ sung globuline miễn dịch, bằng cách này có thể phòng bệnh hoặc
giảm mức độ nặng của các biến chứng do sởi.
Biện pháp dự phòng đặc hiệu:
Tiêm vắc xin sởi là biện pháp phòng bệnh quan trọng và hiệu quả nhất.
Mỗi trẻ em cần được tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch
2 mũi vắc xin sởi. Tiêm chủng bổ sung cho các nhóm nguy cơ cao, vùng
nguy cơ cao, những người đi vào vùng dịch. Có thể sử dụng vắc xin dạng đơn
hoặc dạng phối hợp sởi-rubella (MR) hoặc sởi-quai bị-rubella (MMR) [3].


14

1.1.6.3. Biện pháp chống dịch
Đối với bệnh nhân: Cách ly trường hợp nghi mắc bệnh trong vòng 7
ngày kể từ khi phát ban. Trường hợp bệnh nhẹ cho cách ly tại nhà (nghỉ học,
nghỉ làm việc, không tham gia các hoạt động tập thể, tập trung đông người).
Đối với cộng đồng: thực hiện tuyên truyền, yêu cầu tăng cường vệ sinh
cá nhân, hạn chế tiếp xúc với người bệnh (đeo khẩu trang y tế và các trang bị
phòng hộ cá nhân, hạn chế tập trung đông người, hội họp, đặc biệt tại những
phòng chật hẹp, ít thông khí ở khu vực ổ dịch). Khử trùng bằng các chất tẩy
rửa thông thường và vệ sinh thông khí. Xử lý ổ dịch, tăng cường công tác
giám sát phát hiện trường hợp mới, triển khai tiêm vắc xin chống dịch, thực
hiện các biện pháp kiểm dịch đối với những người đi ra, đi vào vùng dịch.

1.2.1.2. Sau khi có vắc xin sởi
Những năm đầu thập kỷ 80 của thể kỷ 20, ước tính hàng năm có khoảng
2,5 triệu trẻ tử vong do sởi. Tới năm 1994, số trường hợp tử vong đã giảm
đáng kể xuống còn 750.000 trẻ.
Kể từ khi vắc xin sởi ra đời năm 1963 và được đưa vào sử dụng rộng rãi
ở nhiều nước, mô hình dịch tễ của sởi có sự thay đổi lớn. Tại Mỹ trước khi có
vắc xin sởi có khoảng 10% những trường hợp mắc sởi trên 10 tuổi và phần
lớn là đối trượng dưới 10 tuổi mắc sởi, đến năm 1989 theo thống kê có đến
54% số trường hợp mắc sởi trên 10 tuổi. Những lứa tuổi thấp hơn đã được
bảo về bằng vắc xin nên đã giảm được số trường hợp mắc [21]. Tại Châu Phi
nhờ việc thực hiện các chiến lược kiểm soát, tỷ lệ mắc và tử vong do sởi trong
giai đoạn 2000 - 2008 đã giảm đáng kể. Độ bao phủ vắc xin của khu vực tăng
từ 54% năm 2001 lên 73% năm 2008 [22]. Số trường hợp tử vong do sởi giảm
92% [23]. Năm 2009, nhiều đợt bùng phát sởi xảy ra với tỷ lệ mắc cao ở trẻ


16

lớn và người lớn. Nghiên cứu của Abyot Bekele Woyessa và cộng sự năm
2012 về vụ dịch tại hai huyện thuộc Bale Zone, Ethiopia xảy ra 11/2010 2/2011 cho thấy có 329 trường hợp nghi ngờ sởi và 30 trường hợp tử vong
chiếm tỷ lệ 9,1%, chủ yếu là trẻ dưới 5 tuổi. Tỷ lệ mắc cao ở những người độ
tuổi 15. Tỷ lệ tiêm chủng thấp (42.6% trường hợp không được tiêm vắc xin
phòng sởi) và tủ lạnh bảo quản vắc xin không được sử dụng (5/7 chiếc) góp
phần vào sự bùng nổ dịch sởi ở hai huyện này. Thực hiện các hoạt động tiêm
chủng bổ sung, nâng cao tỷ lệ tiêm chủng thường xuyên, cải thiện hoạt động
và bảo trì dây chuyền lạnh là cần thiết để giảm tỷ lệ mắc sởi [24].
Giai đoạn 2000-2016, ước tính vắc xin sởi đã ngăn ngừa được trên 20
triệu trường hợp tử vong do sởi (giảm 84% từ 550.100 trường hợp xuống còn
89.780). Tương ứng với tỷ lệ bao phủ vắc xin sởi mũi 1 trong tiêm chủng
thường xuyên tăng từ 72% trong năm 2000 lên 85% trong năm 2016 [4].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status