ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HẢI BẰNG
THÈM QUYÒN XÐT Xö CñA TßA ¸N NH¢N D¢N
CÊP CAO
TRONG LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HẢI BẰNG
THÈM QUYÒN XÐT Xö CñA TßA ¸N NH¢N D¢N
CÊP CAO
TRONG LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ THỊ PHƯỢNG
1.1.1. Khái niệm thẩm quyền xét xử của Tòa án.....................................................6
1.1.2. Khái niệm thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp cao.......................10
1.2.
Cơ sở qui định thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp cao
.................................................................................................................... 13
1.2.1. Yêu cầu, định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh và các nguyên
tắc cơ bản của Luật Tố tụng hình sự...........................................................13
1.2.2. Thực tiễn xét xử ở Việt Nam.......................................................................19
1.2.3. Sự phát triển của khoa học pháp lý, yêu cầu hội nhập quốc tế và xu
thế thời đại về Tòa án và xét xử..................................................................23
1.3.
Thẩm quyền xét xử của Tòa án ở một số nước trên thế giới và bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam................................................................24
1.3.1. Mô hình và thẩm quyền của Tòa án một số nước Châu Á..........................24
1.3.2. Mô hình và thẩm quyền của Tòa án một số nước Châu Âu........................27
1.3.3. Kinh nghiệm cho Việt Nam........................................................................33
Kết luận chương 1.................................................................................................34
Chương 2: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN QUI ĐỊNH VỀ THẨM
QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TRONG LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM...........................................................35
2.1.
Giai đoạn từ năm 1945 đến trước 2015...................................................35
3.2.2. Những giải pháp khác.................................................................................86
Kết luận chương 3.................................................................................................94
KẾT LUẬN............................................................................................................95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................97
PHỤ LỤC.............................................................................................................100
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
Bảng 3.1
Thống kê tình hình thụ lý, xét xử phúc thẩm của Tòa án
nhân dân cấp cao
67
Tình hình tiếp nhận, thụ lý đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái
thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao
73
Kết quả giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
của Tòa án nhân dân cấp cao
73
ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; Tòa án phúc thẩm có nhiệm vụ
chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án; Tòa án thượng thẩm
được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; Tòa án nhân dân tối cao
có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật,
phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm.
Thực hiện chủ trương cải cách tư pháp của Đảng, Nhà nước, trong đó có
nhiệm vụ đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, với mục tiêu là xây
dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý,
từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu
quả và hiệu lực cao. Ngày 24 tháng 11 năm 2014, Luật tổ chức Tòa án nhân dân đã
được Quốc hội thông qua với nguyên tắc tổ chức mới được ghi nhận: “Các Tòa án
nhân dân được tổ chức độc lập theo thẩm quyền xét xử” và Tòa án nhân dân cấp
cao được thành lập với ý nghĩa là một cấp trong hệ thống Tòa án.
1
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã qui định một cách tương đối đầy đủ về
thẩm quyền của Tòa án các cấp trong đó có Tòa án nhân dân cấp cao. Tuy nhiên, lần
đầu chúng ta tổ chức Tòa án theo mô hình bốn cấp nên qui định về thẩm quyền xét
xử của Tòa án nhân dân cấp cao vẫn còn bộc lộ một số điểm bất cập, chưa phù hợp
gây khó khăn trong việc thực hiện. Thực tiễn xét xử thời gian qua cho thấy: Còn
nhiều vụ án giải quyết bị kéo dài, để quá thời hạn xét xử, có nhiều vụ án hoãn phiên
tòa nhiều lần, không đảm bảo thời hạn hoãn theo qui định; tỷ lệ giải quyết đơn đề
nghị giám đốc thẩm, tái thẩm thấp, không đạt chỉ tiêu công tác; công tác xét xử
giám đốc thẩm còn có nhiều vụ chưa được giải quyết kịp thời và vi phạm thời hạn
xét xử giám đốc thẩm; chất lượng kháng nghị, quyết định giám đốc thẩm một số vụ
án còn hạn chế… Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu trên là còn
những tồn tại, vướng mắc trong việc thực hiện qui định về thẩm quyền xét xử của
* Những bài viết, công trình liên quan đến thẩm quyền và thực tiễn thi hành
thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp cao
1. Đề tài khoa học cấp sơ sở “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng tổ
chức Bộ máy và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp cao theo qui định của Luật tổ chức
Tòa án nhân dân 2014”. Chủ nhiệm đề tài TS Nguyễn Văn Du; nhóm tác giả Nguyễn
Văn Du, Nguyễn Hải Bằng… Thư ký đề tài Nguyễn Hải Bằng…, Hà Nội năm 2015.
2. Sách “Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015”,
PGS,TS Nguyễn Hòa Bình chủ biên, nhóm tác giả PGS.TS Nguyễn Hòa Bình,
PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí….
3. Trần Văn Tuân, Nguyễn Hải Bằng, Tăng cường phối hợp giữa TANDCC
với các Tòa án địa phương để nâng cao chất lượng, số lượng giải quyết án giám
đốc thẩm, tái thẩm, Tạp chỉ Tòa án điện tử ngày 29/3/2018.
Mặc dù đã có một số công trình, bài viết được công bố, nhưng cho đến nay
chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, hệ thống về thẩm quyền
của Tòa án nhân dân cấp cao. Đề tài là công trình khoa học bước đầu nghiên cứu về
lý luận cũng như thực tiễn về “Thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp cao
trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam”
3. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
Mục tiêu: Trên cơ sở nghiên cứu các qui định của pháp luật tố tụng hình sự
và văn bản pháp luật có liên quan, thực tiễn xét xử, giải quyết các vụ án hình sự của
3
Tòa án nhân dân cấp cao, mục đích của luận văn nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận và
thực tiễn, bản chất, nội dung thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp cao, chỉ ra
những điểm chưa cụ thể, những vướng mắc có thể xảy ra khi áp dụng, qua đó đề
xuất những giải pháp khắc phục như hướng dẫn hoặc định hướng hoàn thiện các qui
định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp cao.
Nhiệm vụ:
duy vật lịch sử; phương pháp đi từ cái chung đến cái riêng; phương pháp phân tích,
tổng hợp, so sánh, tiếp cận hệ thống, lịch sử, điều tra xã hội học, thống kê…
6. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên khảo với những đóng góp về mặt
khoa học trong việc giới thiệu một cách hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng,
Nhà nước; qui định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân; qui định của Bộ luật tố tụng
hình sự về thẩm quyền xét xử Tòa án nhân dân cấp cao góp phần tiếp tục làm rõ
những vấn đề lý luận về thẩm quyền xét xử hình sự của Tòa án nhân dân cấp cao;
Luận văn phân tích, đánh giá qui định của luật tố tụng hình sự hiện hành về
thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp cao, đánh giá thực trạng khi áp dụng và
chỉ ra những điểm còn hạn chế, bất cập cần khắc phục.
Trên cơ sở nghiên cứu, Luận văn đề xuất những giải pháp, định hướng hoàn
thiện qui định về thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp cao, những biện pháp
kiện toàn tổ chức, cán bộ, những bảo đảm cần thiết về cơ sở vật chất nâng cao hiệu
quả thi hành thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp cao. Vì vậy, Luận văn có
những đóng góp nhất định vào công cuộc cải cách tư pháp đang được thực hiện ở
nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.
5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
1.1. Khái niệm
1.1.1. Khái niệm thẩm quyền xét xử của Tòa án
Đòi hỏi khách quan của Nhà nước, xã hội là cần có một chế định để bảo vệ
sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân… [19, tr.71].
Hiến pháp 2013 xác định bản chất nhiệm vụ của Tòa án nhân dân:
1. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp…3.Tòa án nhân dân có
nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo
vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của tổ chức, cá nhân [26, Điều 102].
Như vậy, Hiến pháp năm 2013 khẳng định Tòa án là cơ quan thực hiện quyền
tư pháp, có chức năng xét xử các vụ án, giải quyết các việc có tranh chấp theo thẩm
quyền qui định. Ngoài Tòa án nhân dân không có cơ quan nào khác được giao phán
xử về các vi phạm pháp luật, các tranh chấp trong xã hội. Hiến pháp 2013 nhấn
mạnh bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân là những nhiệm vụ trước
tiên của Tòa án nhân dân:
Đây là những nhiệm vụ đặc trưng thể hiện cao nhất, tập trung nhất
đối với cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp. Tòa án phải là nơi mà
mọi con người, mọi công dân tìm đến lẽ phải, tìm đến sự thật; Tòa án
nhân dân phải là thiết chế có nhiệm vụ bảo vệ công lý khi quyền, lợi ích
của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm hại [18, tr.164].
Trong nhà nước pháp quyền, mỗi một loại cơ quan nhà nước có chức năng
nhiệm vụ riêng. Phạm vi hoạt động và quyền năng pháp lý của các cơ quan nhà
nước do pháp luật qui định và được hiểu là thẩm quyền của cơ quan nhà nước
đó. Theo Từ điển Tiếng Việt thì “thẩm quyền” được hiểu theo hai nghĩa: “1
quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật”; “tư cách,
quyền hạn về mặt chuyên môn được thừa nhận để có ý kiến có tính chất quyết
định về một vấn đề nào đó” [20, tr.1108].
7
Theo Từ điển Luật học thì thẩm quyền được hiểu là “tổng hợp các quyền và
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, duy trì trật tự chung của xã hội;
b) Hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp là thước đo của nền
công lý trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mà hiệu quả đó
được dựa trên các tiêu chí về tính minh bạch, sự công bằng và độ tin
cậy của người dân đối với hệ thống cơ quan tư pháp; c) Xét dưới góc
độ thể chế nhà nước thì tư pháp là một bộ phận hợp thành quyền lực
nhà nước gắn bó chặt chẽ với quyền lập pháp và hành pháp, tạo thành
quyền lực nhà nước thống nhất. Do vậy, hoạt động tư pháp là một
trong những phương thức thực hiện quyền lực nhà nước thông qua
hoạt động xét xử, hoạt động thực hành quyền công tố, hoạt động điều
tra và hoạt động thi hành án [14, tr.165].
Thẩm quyền xét xử của Tòa án được đề cập trong pháp luật của nhiều nước
trên thế giới. Theo Lemeunier thì thẩm quyền của Tòa án được hiểu là “khả năng
của một Tòa án xem xét một vụ việc trong phạm vi pháp luật cho phép [Lemeunier
(1998), Dictionnaire, La Maison du dictionnaire, Paris, tr. 74,75]. Tương tự, ở Anh
thuật ngữ Jurisdiction được dùng chỉ thẩm quyền hoặc quyền phán quyết về một vụ
việc nào đó của Tòa án trong phạm vi pháp luật cho phép.
Tuy có những cách hiểu khác nhau nhưng tựu trung lại thẩm quyền xét xử của
tòa án được xem xét ở hai nội dung là quyền xét xử và quyền quyết định của tòa án.
Quyền xét xử được hiểu là “sự phân định thẩm quyền xét xử các vụ án giữa
các Tòa án với nhau” [12, tr.459]. Điều 102 Hiến pháp 2013, Điều 2, Điều 3 Luật
tổ chức Tòa án nhân dân 2014 qui định Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân
cấp cao, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, Tòa án quân sự là cơ
quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư
pháp. Trong lĩnh vực hình sự, các Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh và tương đương có nhiệm vụ xét xử sơ thẩm vụ việc theo qui định Bộ
luật tố tụng hình sự. Các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét
góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người và trật tự pháp luật.
1.1.2. Khái niệm thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp cao
Trước hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước, trước yêu cầu
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ công
10
nghiệp hóa, hiện đại hóa và để đáp ứng yêu cầu của việc phòng ngừa, đấu tranh
chống tội phạm ở nước ta trong tình hình hiện nay, đòi hỏi phải đổi mới tổ chức và
hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó việc đổi mới tổ chức và hoạt
động của Tòa án nhân dân là một nội dung quan trọng được thể hiện trong nhiều
Văn kiện, Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp.
Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020, trong đó đề ra nhiệm vụ đổi mới tổ chức và hoạt động
của Tòa án nhân dân. Nghị quyết nêu rõ: Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm
quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp. Trọng tâm là xây dựng
hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân.
Ngày 28/7/2010, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 79-KL/TW về “Đề án
đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra theo
Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020”, trong đó xác định phương hướng tổ chức Tòa án theo thẩm quyền xét xử,
không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm 4 cấp là Tòa án nhân dân sơ thẩm khu
vực, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Tòa án nhân dân cấp
cao và Tòa án nhân dân tối cao.
Ngày 28/11/2013, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, theo đó quy định Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ
công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,
lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
là tổng hợp các quyền, trách nhiệm theo qui định của pháp luật hướng tới việc xét
xử khách quan, công bằng góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người và trật
tự pháp luật.
Từ khái niệm nêu trên ta có thể khẳng định thẩm quyền xét xử của Tòa án
nhân dân cấp cao gồm các bộ phận cấu thành:
- Quyền xét xử (thường được gọi là thẩm quyền xét xử) những vụ án hình sự
cụ thể nào theo phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ;
- Quyền quyết định khi xét xử phúc thẩm, giải quyết lại vụ án theo thủ tục
giám đốc thẩm, tái thẩm, Tòa án nhân dân cấp cao có quyền quyết định các vấn đề
cụ thể của vụ án như thế nào.
12
- Quyền quyết định những vấn đề để đảm bảo cho việc xét xử phúc thẩm;
việc giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được tiến hành theo đúng
qui định của Bộ luật tố tụng hình sự (áp dụng các biện pháp ngăn chặn, quyết định
áp giải, dẫn giải…)
Quyền xét xử, quyền quyết định về những nội dung cụ thể của vụ án, quyền
quyết định những vấn để để đảm bảo cho việc xét xử có mối quan hệ mật thiết với
nhau tạo thành Thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp cao.
1.2. Cơ sở qui định thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp cao
1.2.1. Yêu cầu, định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh và các nguyên tắc cơ bản
của Luật Tố tụng hình sự
* Yêu cầu, định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây
dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh mà trọng tâm và trung tâm là tòa án và
hoạt động xét xử
Trong lý luận và thực tiễn pháp lý ở Việt Nam, cải cách tư pháp được hiểu
với ý nghĩa chung nhất là sự thay đổi đem lại những điều mới, tích cực cho việc xây
- Phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư
pháp trong hoạt động tư pháp theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho Điều tra
viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng
cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố
tụng của mình.
- Nghiên cứu xác định hợp lý phạm vi thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự
theo hướng chủ yếu xét xử những vụ án về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm
của quân nhân, những vụ án liên quan đến bí mật quân sự.
- Mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các khiếu kiện hành chính.
Đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại Tòa án; tạo điều
kiện cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và cơ
quan công quyền trước Tòa án.
- Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự, tạo điều kiện cho các đương sự
chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
- Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn,
trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng đảm
14
bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các
phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp. Đổi mới thủ tục
hành chính trong các cơ quan tư pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân
tiếp cận công lý.
- Từng bước hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng quy định
chặt chẽ những căn cứ kháng nghị và quy định rõ trách nhiệm của người ra kháng
nghị đối với bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; khắc phục
tình trạng kháng nghị tràn lan, thiếu căn cứ. Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút
gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ Tòa án trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu,
Kết luận số 20-KL/TW ngày 25/5/2012 của Ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa XI về tổng kết việc thi hành Hiến pháp 1992 và những nội dung cơ bản về sửa
đổi Hiến pháp năm 1992 đã xác định những nội dung cơ bản sửa đổi Hiến pháp năm
1992, trong đó định hướng khẳng định trong Hiến pháp bản chất và mô hình tổng
thể của bộ máy nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân; Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.
Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI xác định nhiệm
vụ tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân; cụ thể: Tiếp tục đẩy
mạnh việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tổ chức hệ thống Tòa
án theo thẩm quyền xét xử, đảm bảo cải cách hoạt động xét xử là trọng tâm của hoạt
động tư pháp; mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các khiếu kiện hành
chính, giải quyết tranh chấp về đất đai, đổi mới cơ chế giám đốc thẩm, tái thẩm.
Kết luận 92/KL-TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện
Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị khóa X về Chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020, xác định về tổ chức Tòa án nhân dân: Tiếp tục thực
hiện chủ trương tổ chức Tòa án nhân dân theo cấp xét xử, không phụ thuộc vào đơn
vị hành chính. Tòa án nhân dân được tổ chức bốn cấp như Kết luận số 79-KL/TW
ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị.
Những định hướng chiến lược nêu trên của Đảng ta là kết quả của hoạt động
tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận. Nó phản ảnh khách quan, đúng đắn yêu cầu
đấu tranh phòng chống tội phạm, tạo tiền đề cho những nghiên cứu cụ thể về thẩm
16
quyền của Tòa án. Chính vì vậy, đường lối, chính sách của Đảng là cơ sở quan trọng
hàng đầu khi xây dựng và sửa đổi các qui định về thẩm quyền của Tòa án nói chung
và Tòa án nhân dân cấp cao nói riêng.
* Các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng hình sự Việt Nam