1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------
LÂM THỊ NGA
ĐẢNG BỘ TỈNH LÀO CAI LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội – 2017
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------
LÂM THỊ NGA
ĐẢNG BỘ TỈNH LÀO CAI LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2015
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60220315
Hà nội, Ngày 18 Tháng 11Năm 2012
Tác giả luận văn
Lâm Thị Nga
5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCH
Ban Chấp hành
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
GDP
Tổng thu nhập quốc nội
HĐND
Hội đồng Nhân dân
HTX
Hợp tác xã
KH&CN
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 8
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ................................................ 9
3. Mục đích, nhiệm vụ……………………………………………………...9
3.1. Mục đích ............................................................................................... 14
3.2. Nhiệm vụ ............................................................................................... 14
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................... 14
4.1. Đối tượng nghiên cứu .......................................................................... 14
4.2. Phạm vi nghiên cứu .............................................................................. 14
5. Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu………………………………..10
5.1. Nguồn tư liệu ........................................................................................ 15
5.2. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 15
6. Đóng góp về khoa học của đề tài ............................................................. 15
7. Kết cấu của Luận văn .............................................................................. 16
Chƣơng 1. CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH LÀO CAI TỪ NĂM 2000 ĐẾN
NĂM 2005 ....................................................................................................... 17
1.1. Những yếu tố tác động đến quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế
nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Lào Cai. .................................................. 17
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng kinh tế nông nghiệp
tỉnh Lào Cai trước năm 2000 ...................................................................... 17
1.1.2. Chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp .................. 27
1.2. Đảng bộ tỉnh Lào Cai lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ
năm 2000 đến năm 2005 ............................................................................ 30
7
1.2.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Lào Cai về phát triển kinh tế nông
nghiệp........................................................................................................... 30
1.2.2. Đảng bộ tỉnh Lào Cai chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp .......... 32
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong
việc phát triển kinh tế ở hầu hết các nước, nhất là ở các nước đang phát triển.
Theo VI. Lênin, muốn giữ được lòng tin với cách mạng phải cải thiện được
đời sống của quần chúng và bắt đầu từ nông dân. Trong suốt cuộc đời hoạt
động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm và nhận thức sâu sắc
nông nghiệp, nông dân và nông thôn về lý luận cũng như thực tiễn dưới ánh
sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Người nhấn mạnh: “Nước ta là một nước
nông nghiệp... Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải
lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính. Nếu không phát triển
nông nghiệp thì không có cơ sở để phát triển công nghiệp” [139, tr.180].
Thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn khẳng định tầm vóc to lớn
và hệ trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Chính vì vậy, Đảng Cộng
sản Việt Nam luôn đặt nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở vị trí chiến lược
quan trọng hàng đầu. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết
nhằm đổi mới chính sách phát triển nông nghiệp. Đảng cũng xác định đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển nông nghiệp theo hướng toàn
diện và bền vững là “một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu”.
Lào Cai là một tỉnh vùng cao, biên giới, có 70% dân số sinh sống ở
nông thôn. Trong đó, người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao. Do đó, việc đẩy
mạnh phát triển nông nghiệp, nông thôn có vai trò vô cùng quan trọng.
Hiện nay, sản xuất nông nghiệp ở Lào Cai được đẩy mạnh toàn diện, đã
phát huy có hiệu quả những lợi thế về đất đai, khí hậu, bước đầu xây dựng các
vùng sản xuất có hiệu quả như: cây chuối cấy mô, rau an toàn, hoa, cây ăn
quả ôn đới. Các tiến bộ khoa học kỹ thuật, ứng dụng công nghệ cao bước đầu
được áp dụng vào sản xuất. Năng suất, sản lượng các loại cây trồng đều tăng,
9
năm sau cao hơn năm trước. Chăn nuôi đại gia súc phát triển theo hướng tập
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và sự chỉ đạo thực hiện trong những
năm qua. Tác giả đã làm rõ những yếu tố tác động đến tư duy của Đảng về
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn, đề
xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong cuốn sách này, tác giả cũng phân tích rõ nội dung công nghiệp hoá hiện
đại hoá trong nông nghiệp.
Cuốn sách “Đẩy mạnh Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, (2007) của Lê Quang Phi đã
khẳng định yêu cầu tất yếu của việc tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn; những vấn đề cơ bản trong việc thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp.
Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương với tựa
đề “Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Nxb Thống
Kê, Hà Nội, (2003) đã đưa ra những định hướng cơ bản cho việc xây dựng và
phát triển kinh tế thị trường ở nước ta giai đoạn hiện nay.
Cuốn sách “Nông nghiệp, nông thôn sau hai mươi năm đổi mới: Quá
khứ và hiện tại”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, (2007) của tác giả Nguyễn
Văn Bích đã khái quát một cách cơ bản về quan điểm đường lối lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam, những thành tựu của nông nghiệp Việt Nam sau 20
năm đổi mới.
Tác phẩm “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn Việt Nam sau 20 năm
đổi mới và phát triển”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, (2006) của tác giả Đặng
Kim Sơn đã làm rõ thực trạng nông nghiệp, nông thôn và người nông dân
hiện nay, chỉ ra những thành tựu và khó khăn, tồn tại, bước đầu đưa ra những
đề xuất, kiến nghị để phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Cuốn sách “Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
nông thôn Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, (2002) do Ban Tư
11
12
Quảng Ninh. Tác giả đã đánh giá thực trạng phát triển thương mại trên hành
lang, đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển thương mại khu vực hành lang
kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng. Trong nghiên cứu này,
tác giả đã bước đầu đánh giá tác động của hành lang kinh tế Côn Minh – Lào
Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh đối với sự phát triển của các ngành
kinh tế trong đó có nông nghiệp.
Cuốn sách “Các khu kinh tế cửa khẩu biên giới Việt Trung và tác động
của nó tới sự phát triển kinh tế hàng hóa ở Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc
gia, (2001) của tác giả Phạm Văn Linh đã đề cập tới sự phát triển của các khu
kinh tế cửa khẩu ở phía Bắc trong đó có Lào Cai. Tác giả đã phân tích vị trí
tầm quan trọng của các khu kinh tế cửa khẩu trong quá trình phát triển kinh
tế hàng hóa.
Cuốn sách “Lào Cai – 25 năm tái lập, đổi mới, phát triển (1991 –
2015)”, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội (2015) do Tỉnh ủy Lào Cai chủ trì
biên soạn. Cuốn sách chia làm 3 phần, gồm 10 chương, là công trình chuyên
khảo mang tính tổng hợp, hệ thống về những vấn đề lý luận và thực tiễn trên
các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng, an ninh của tỉnh
Lào Cai trong 25 năm xây dựng và phát triển. Chương 4 của cuốn sách có
đánh giá sự chuyển biến của kinh tế Lào Cai sau 25 năm tái lập tỉnh trong đó
có lĩnh vực nông nghiệp.
Luận án tiến sĩ “Giải pháp phát triển thương mại của tỉnh Lào Cai
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” của Nguyễn Trường Giang đã đánh
giá thực trạng phát triển thương mại hàng hóa của tỉnh Lào Cai từ năm 2001
đến năm 2012, đề xuất các giải pháp có tính đồng bộ nhằm phát triển thương
mại hàng hóa tỉnh Lào Cai đến năm 2020 trên cơ sở khai thác thế mạnh của
một tỉnh giáp biên, phát triển các lĩnh vực kinh tế như: Nông nghiệp, khai
khoáng, du lịch
3. Mục đích, nhiệm vụ của Luận văn
3.1. Mục đích
Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Lào Cai vận dụng chủ trương, chính
sách của Đảng trong lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiêp trên địa bàn tỉnh
từ năm 2000 đến năm 2015, từ đó đưa ra những nhận xét, đúc rút kinh nghiệm
góp phần thúc đẩy kinh tế nông nghiệp Lào Cai phát triển trong hoàn cảnh
mới.
3.2. Nhiệm vụ
Bước đầu trình bày hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Lào Cai vận dụng
quan điểm, đường lối của Đảng để lãnh đạo, phát triển kinh tế nông nghiệp từ
năm 2000 đến năm 2015
Từ những kết quả đạt được trong lĩnh vực nông nghiệp phân tích, làm
rõ những thành tựu, hạn chế trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp từ
năm 2000 đến năm 2015.
Trên cơ sở đó, rút ra một số kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả sự
lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong phát triển kinh tế nông nghiệp theo đường lối
của Đảng và điều kiện thực tế của địa phương.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Chủ trương và các biện pháp chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của
Đảng bộ tỉnh Lào Cai từ năm 2000 đến năm 2015
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Tỉnh Lào Cai
- Về Thời gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng
bộ tỉnh Lào Cai đối với quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp ở địa phương
từ năm 2000 đến năm 2015 (với 03 nhiệm kỳ lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh).
15
16
– 2015. Từ thực tiễn đó, Luận văn làm rõ sự chuyển biến, thành tựu nổi bật
cũng như những hạn chế trong phát triển nông nghiệp dưới sự lãnh đạo, chỉ
đạo của Đảng bộ tỉnh Lào Cai.
Từ những chuyển biến trong kinh tế nông nghiệp của tỉnh Lào Cai,
Luận văn góp phần khẳng định sự đúng đắn của những chủ trương, đường lối
đổi mới của Đảng và Nhà nước lấy nông nghiệp làm “mặt trận hàng đầu”,
làm “khâu đột phá” trong phát triển kinh tế xã hội thông qua việc nghiên cứu
tại một địa phương cụ thể.
Luận văn góp phần cung cấp thêm tư liệu cho việc giảng dạy lịch sử ở
địa phương; cung cấp thêm tài liệu cho quá trình biên soạn lịch sử đảng bộ
tỉnh.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của
Đảng bộ tỉnh Lào Cai từ năm 2000 đến năm 2005
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Lào Cai tăng cường lãnh đạo phát triển kinh tế
nông nghiệp từ năm 2006 đến năm 2015
Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm
17
Chƣơng 1
CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG
NGHIỆP CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH LÀO CAI TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005
1.1. Những yếu tố tác động đến quá trình lãnh đạo phát triển kinh
tế nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Lào Cai.
104 38’21’’ kinh độ Đông. Phía tây giáp tỉnh Lai Châu với điểm cực Tây ở xã
0
Y Tý, huyện Bát Xát có toạ độ 22 36’ vĩ độ Bắc, 103 31’ kinh độ Đông [116,
0
0
tr.49-50].
Địa hình Lào Cai thuộc khối nâng kiến tạo mạch, hai dãy núi chính là
Hoàng Liên Sơn và dãy Con Voi cùng có hướng Tây Bắc – Đông Nam nằm
về phía Đông và phía Tây tạo ra các vùng đất thấp, trung bình ở giữa hai dãy
núi. Bên cạnh đó, có nhiều dãy núi nhỏ phân bố đa dạng, chia cắt tạo thành
những tiểu vùng khí hậu và sinh thái khác nhau. Dọc sông Hồng và Sông
Chảy thuộc các đai độ cao thấp, địa hình ít hiểm trở, nhiều vùng đồi đất thoải,
18
thung lũng, ruộng nước rộng là địa bàn thuận lợi cho sản xuất nông – lâm
nghiệp.
Khí hậu của Lào Cai là kiểu khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mùa đông lạnh,
biến động mạnh và phân hoá đa dạng. Do sự chênh lệch địa hình lớn giữa các
vùng nên nền nhiệt giữa các vùng cũng có sự chênh lệch tương đối lớn. Ở khu
vực vùng núi, nhiệt độ trung bình thấp hơn các khu vực khác. Riêng huyện Sa
Pa với độ cao 1.500m so với mực nước biển, nền nhiệt trung bình của Sa Pa là
15,3 c, nhiệt độ tháng cao nhất đạt 21,8 c, thấp nhất là 3,8 c. Vào thời điểm
0
0
khoáng sản, nước... Đó chính là nguồn tiềm năng phát triển nền kinh tế toàn
diện, vững chắc của Lào Cai.
Về đất đai, Lào Cai có diện tích tự nhiên rộng 638.389 ha [59, tr.25].
Đất đai ở Lào Cai có độ phì cao, màu mỡ, đa dạng, bao gồm 30 loại đất, chia
thành 10 nhóm: Đất phù sa, đất lầy, đất đen, đất đỏ vàng, đất mùn vàng đỏ,
đất mùn alít trên núi, đất đỏ vàng bị biến đổi do trồng lúa, đất xói mòn mạnh
trơ sỏi đá và đất dốc tụ. Trong đó có một số nhóm đất có độ phì tự nhiên khá
cao đang được sử dụng như: Nhóm đất phù sa, chiếm khoảng 1,47% diện tích
tự nhiên, phân bố chủ yếu dọc sông Hồng và sông Chảy, thích hợp đối với các
loại cây lương thực, cây công nghiệp; nhóm đất đỏ vàng phân bố khắp địa bàn
toàn tỉnh ở độ cao 900 m trở xuống, chiếm trên 40% diện tích tự nhiên, thích
hợp với cây công nghiệp dài ngày, cây hằng năm. Nhóm đất mùn vàng đỏ,
chiếm trên 30% diện tích tự nhiên, phân bố ở hầu hết các huyện trong tỉnh.
Nhóm đất này thích hợp trồng các loại cây dược liệu quý, cây ăn quả và nhiều
loại rau ôn đới quan trọng của tỉnh. Đồng thời, nhóm đất này có thảm thực vật
rừng phong phú, đa dạng bậc nhất của tỉnh. Nhóm đất mùn alit trên núi, chiếm
11,42% diện tích tự nhiên, tập trung ở huyện Sa Pa, Văn Bàn... có thảm rừng
đầu nguồn khá tốt, thích hợp với một số loại cây như: Trúc cần câu, đỗ quyên,
trúc lùn, rừng hỗn giao. Nhóm đất đỏ vàng bị biến đổi màu do trồng lúa, đây
là các loại đất feralitic hoặc mùn feralitic ở các sườn và chân sườn ít dốc,
được con người bỏ nhiều công sức tạo thành các ruộng bậc thang để trồng trọt
hoa màu, chiếm khoảng 2% diện tích tự nhiên phân bố rải rác ở các huyện tạo
nên những cảnh quan ruộng bậc thang rất đẹp mà tiêu biểu là hai huyện Bắc
Hà và Sa Pa. Có thể nói, đất đai ở Lào Cai đa dạng, phong phú, có độ phì tự
nhiên khá cao, chất lượng đồng đều, là điều kiện thuận lợi cho việc trồng
nhiều loại cây có giá trị kinh tế khác nhau, có thể phát triển thành các vùng
20
Nậm Thi trữ lượng 12,8 triệu tấn, mỏ Molipden ở Ô Quý Hồ trữ lượng 15,4
ngàn tấn. Ngoài những loại khoáng sản có trữ lượng lớn, Lào Cai còn có hàng
chục loại khoáng sản quý hiếm như: Vàng, bạc, đá quý, chì, thiếc, kẽm,
mangan, crôm, các loại thuộc nhóm vật liệu xây dựng như: Đất sét, đá vôi và
nguyên liệu gốm, sứ, thuỷ tinh.... Nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú kể
trên là tiềm năng to lớn để Lào Cai phát triển các ngành công nghiệp khai
khoáng, công nghiệp chế biến thành ngành công nghiệp mũi nhọn và phát
triển ngành thủ công nghiệp truyền thống.
Tài nguyên nước của Lào Cai cũng khá phong phú. Tỉnh Lào Cai có hệ
thống sông suối dày đặc được phân bố khá đều trên địa bàn tỉnh với 2 con
sông lớn chảy qua là sông Hồng và sông Chảy. Nước mặt có dòng chảy hàng
năm khoảng 9,5 tỷ m , phân bố không đồng đều, phụ thuộc chủ yếu vào địa
3
hình, mưa, lớp phủ bề mặt đệm,… vào mùa kiệt khả năng khai thác tối đa là
0,9 tỷ m , trữ lượng nước mặt ngầm xấp xỉ 30 triệu m , trữ lượng động 4.4448
3
3
triệu m với chất lượng khá tốt, ít bị nhiễm khuẩn.
3
Nguồn tài nguyên nước dồi dào, phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho
trồng trọt và chăn nuôi.
*Về kinh tế xã hội
Trong thời kỳ đổi mới, với sự chủ động và tích cực tỉnh Lào Cai đã
triển khai có hiệu quả chính sách của Chính phủ, có các giải pháp phù hợp,
linh hoạt trong chỉ đạo điều hành nền kinh tế của tỉnh vượt qua nhiều khó
tiếp tục được tăng cường, chương trình xây dựng đời sống văn hóa, thể thao ở
khu dân cư tiếp tục được củng cố và phát triển. Công tác đưa thông tin về cơ
sở được đổi mới về nội dung và nâng cao chất lượng để tuyên truyền chủ
trương, đường lối chính sách của Đảng đến với đồng bào các dân tộc.
Hoạt động thể thao thành tích cao và thể thao quần chúng đều thu được
nhiều kết quả đáng mừng. Phong trào tập luyện thể thao được mở rộng trong
đông đảo quần chúng nhân dân.
23
Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân đã được triển khai có hiệu
quả. Lào Cai đã kịp thời khống chế được các dịch bệnh nguy hiểm. Chất
lượng phục vụ và hoạt động tại các bệnh viện đã ổn định và nâng lên, tạo điều
kiện cho mọi người dân, nhất là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số,
người có công được tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ y tế có chất lượng,
từng bước tạo sự công bằng trong khám, chữa bệnh.
Tất cả tình hình trên là cơ sở cho Đảng bộ tỉnh đề ra những chủ trương,
chính sách phát triển kinh tế - xã hội nói chung và kinh tế nông nghiệp nói
riêng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của địa phương.
1.1.1.2. Thực trạng kinh tế nông nghiệp Lào Cai trước năm 2000
Ngay sau khi tái lập tỉnh (năm 1991), xác định xây dựng và phát triển
nông nghiệp để ổn định đời sống nhân dân là nhiệm vụ hàng đầu, Đảng bộ
tỉnh Lào Cai đề ra chủ trương: Coi trọng việc vận dụng mọi khả năng đất đai,
khả năng thâm canh trong sản xuất lương thực để tự giải quyết tại chỗ ở mức
cao nhất, đồng thời khắc phục khuynh hướng sản xuất lương thực bằng mọi
giá, giải quyết cân đối lương thực trên cơ sở phát huy thế mạnh của địa
phương; đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ, tăng cường cải tiến cơ cấu giống, cơ
cấu mùa vụ và áp dụng tiến bộ kĩ thuật, chủ động về phân bón, xác định cây
trồng, vật nuôi phù hợp với từng vùng, từng thời gian, tăng dần tỉ trọng cây
Diện tích cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày đều tăng lên. Các
giống mía mới ROC, các giống đậu tương AK, DT được mở rộng diện tích
gieo trồng ở từng vùng sinh thái thích hợp và trồng trong diện tích tương đối
tập trung, bước đầu hình thành các vùng nguyên liệu tập trung cho sản xuất
hàng hóa. Diện tích cây chè, cà phê, bông giảm nhưng do được chia, bán cho
người lao động, được đầu tư chăm sóc hơn nên sản lượng các loại cây trồng
này vẫn tăng bình quân hằng năm là 4,29% [116, tr. 165].
Cây ăn quả từ 1991 đến 2000 có chiều hướng tăng về diện tích và sản
lượng, mang lại nguồn thu nhập khá cao cho người sản xuất, góp phần xóa
25
đói giảm nghèo. Trong đó, diện tích và sản lượng cây dứa và chuối tăng đột
biến, hình thành các vùng sản xuất nguyên liệu ở huyện Bảo Thắng và Mường
Khương cho nhà máy ép nước dứa và xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.
Trong thời gian này, một số cây ăn quả ôn đới như táo, nho, mận, đào, dâu
tây, hồng được trồng thử nghiệm tại hai huyện Bắc Hà và Sa Pa. Từ năm
1998, ngành nông nghiệp Lào Cai đã tiến hành tuyển chọn các giống cây tốt,
thích nghi với từng vùng sinh thái để hình thành nên các vùng chuyên canh
như vùng cây ôn đới gồm mận Tam Hoa Bắc Hà, đào gốc Pháp ở Sa Pa, Bắc
Hà, lê Mường Khương, Sa Pa; vùng cây nhiệt đới như nhãn (Xuân Quang,
Phong Niên), vải (thị xã Lào Cai), xoài (Bát Xát), dứa, chuối (thị xã Lào Cai,
Mường Khương), lê Trung Quốc trồng ở Sa Pa; cây giống lê Kim Hoa, lê
Hoàng Hoa, quýt Ôn Châu đã được nhập vào trồng ở Mường Khương.
Lâm nghiệp Lào Cai cũng chuyển đổi dần theo hướng “Tập trung đầu
tư theo chương trình, dự án khoanh nuôi bảo vệ và phát triển rừng phòng
hộ...”. Từ 1991 đến 2000, việc trồng rừng tập trung, trồng cây phân tán được
đẩy mạnh trên phạm vi toàn tỉnh, việc chăm sóc, tu bổ rừng cũng được chú
trọng. Đặc biệt, từ năm 1996 trở đi, lâm nghiệp đã có sự chuyển biến từ hoạt