Hoạt động thu phí và chi trả bảo hiểm tiền gửi của cơ quan Bảo hiểm tiền gửi theo pháp luật Việt Nam hiện nay - Pdf 57

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN THỊ HƯƠNG

HO¹T §éNG THU PHÝ Vµ CHI TR¶ B¶O HIÓM TIÒN GöI
CñA
C¥ QUAN B¶O HIÓM TIÒN GöI THEO PH¸P LUËT VIÖT
NAM HIÖN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


HÀ NỘI - 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN THỊ HƯƠNG

HO¹T §éNG THU PHÝ Vµ CHI TR¶ B¶O HIÓM TIÒN GöI
CñA
C¥ QUAN B¶O HIÓM TIÒN GöI THEO PH¸P LUËT VIÖT
NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380101.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. TRƯƠNG THỊ KIM DUNG

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THU PHÍ,
CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOẠT
ĐỘNG THU PHÍ, CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI.............................7
1.1.

Một số vấn đề lý luận về hoạt động thu phí và chi trả bảo hiểm
tiền gửi.........................................................................................................7

1.1.1. Khái niệm, vai trò của bảo hiểm tiền gửi, chủ thể của quan hệ bảo
hiểm tiền gửi, các loại tiền gửi được bảo hiểm tiền gửi................................7
1.1.2. Khái niệm, mục đích, mô hình hoạt động thu phí bảo hiểm tiền gửi...........18
1.1.3. Khái niệm, mô hình hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi............................22
1.2.

Một số vấn đề lý luận pháp luật về hoạt động thu phí và chi trả bảo
hiểm tiền gửi...............................................................................................26

1.2.1. Khái niệm pháp luật về hoạt động thu phí và chi trả bảo hiểm tiền gửi............26
1.2.2. Nguồn luật điều chỉnh hoạt động thu phí và chi trả bảo hiểm tiền gửi............26
1.2.3. Pháp luật điều chỉnh về mô hình hoạt động thu phí và chi trả bảo hiểm
tiền gửi của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm với
Việt Nam.....................................................................................................28
Kết luận Chương 1................................................................................................40
Chương 2: NỘI DUNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG THU
PHÍ VÀ CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI CỦA CƠ QUAN BẢO
HIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM..............................................................41
2.1.

Pháp luật điều chỉnh hoạt động thu phí bảo hiểm tiền gửi....................41


3.1.3. Hạn chế.......................................................................................................77
3.1.4. Nguyên nhân của những hạn chế................................................................82
3.2.

Những định hướng cơ bản về hoàn thiện pháp luật nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động thu phí và chi trả BHTG của Cơ quan
BHTG ở Việt Nam....................................................................................88

KẾT LUẬN..........................................................................................................104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................105


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BHTG

Bảo hiểm tiền gửi

BHTGVN

Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

CDIC

Tổng công ty BHTG Đài Loan

FDIC

Tổng công ty bảo hiểm tiền gửi Liên bang My



Số hiệu

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1: Số lượng tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm

63

Bảng 3.1: Phí BHTG từ 2010 – 2014

70

Bảng 3.2: Số liệu thu phí BHTG giai đoạn 2001 – 2015

72

Bảng 3.3: Số QTDND và số lượng sổ tiết kiệm đã được BHTG chi trả

73


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Số hiệu

Tên biểu đồ, sơ đồ



64

Sơ đồ 2.2:

Quy trình chi trả của BHTGVN

67

Biểu đồ 2.4:


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để thực hiện mục đích của chính sách bảo hiểm tiền gửi (BHTG), Bảo hiểm
tiền gửi Việt Nam (BHTGVN) cần thiết phải quan tâm phát triển các nghiệp vụ bảo
hiểm của mình, trong đó có: cấp giấy chứng nhận bảo hiểm cho các tổ chức tham
gia BHTG; thu phí bảo hiểm; cung cấp thông tin, tư vấn cho người gửi tiền; thực
hiện nhiệm vụ chi trả bảo hiểm. Có thể nói, hai nhiệm vụ trọng tâm trong định
hướng phát triển nghiệp vụ của BHTGVN là hoạt động thu phí và chi trả bảo hiểm
cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG bị đổ vỡ, nhằm bảo vệ quyền lợi cho
người gửi tiền, ngăn ngừa sự đổ vỡ dây chuyền, ảnh hương đến cả hệ thống ngân
hàng, từ đó tạo sự ổn định chính trị, kinh tế - xã hội, giúp phát triển đất nước.
Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại, đề án Hệ thống phí BHTG trên cơ sơ
rủi ro với hi vọng cơ chế tính phí mới sẽ tạo sân chơi bình đẳng, môi trường cạnh
tranh lành mạnh giữa các định chế tài chính - ngân hàng vẫn chưa đi vào hoạt động.
Hay nói cách khác, trên thực tế Việt Nam hiện vẫn đang áp dụng mức phí BHTG
đồng hạng là 0,15% trên tổng tiền gửi được bảo hiểm cho tất cả các tổ chức tín dụng
(TCTD) tham gia BHTG, hình thức đóng phí này có ưu điểm là không phải đánh
giá phân loại các TCTD. Tuy nhiên, tỷ lệ phí BHTG đồng hạng quy định theo kiểu

còn hạn chế, chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động thu phí và chi
trả bảo hiểm của BHTGVN theo pháp luật Việt Nam, từ đó đưa ra một số giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động thu phí và chi trả bảo hiểm của tổ chức này,
qua đó góp phần nâng cao vai trò của BHTGVN đối với mạng an toàn tài chính
quốc gia.
Những câu hỏi đặt ra cần phải trả lời khi nghiên cứu vấn đề:
(1) Hoạt động thu phí và chi trả bảo hiểm tiền gửi của cơ quan BHTG theo
pháp luật VN hiện nay được quy định như thế nào? Những bất cập trong thực tiễn
thực thi pháp luật về vấn đề này?
(2) Mô hình/hoạt động thu phí, chi trả BHTG đáp ứng được chức năng,
nhiệm vụ, yêu cầu của BHTG đến đâu? Có còn phù hợp thực tiễn hiện nay không?
Kết quả thực hiện? Những mặt còn hạn chế?
(3) Cần đặt ra những giải pháp gì nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động

2


thu phí, chi trả bảo hiểm tiền gửi? Định hướng mô hình phù hợp với Việt Nam?
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Luận văn nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về hoạt động thu phí và
chi trả bảo hiểm của BHTGVN, trên cơ sơ đó tìm ra những bất cập và đề xuất một
số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về phí và hoạt động chi trả tiền bảo
hiểm của BHTGVN.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục đích nghiên cứu chung nêu trên, mục tiêu nghiên cứu cụ
thể đặt ra là:
Nghiên cứu và làm rõ những vấn đề lý luận về mô hình thu phí và chi trả
BHTG ơ Việt Nam và một số nước phát triển trên thế giới như khái niệm, đặc điểm,
phân loại, những ưu nhược điểm của các phương thức này đem lại….

5. Tổng quan tài liệu
Các nghiên cứu về cơ chế chính sách BHTG ơ nước ta xuất hiện khá muộn,
sớm nhất là từ năm 2002, sau khi BHTGVN được thành lập năm 1999. Những năm
gần đây, do ảnh hương của hàng loạt các sự kiện biến động nhất là khủng hoảng tiền
tệ, các nghiên cứu trong nước về cơ chế chính sách BHTG cũng ngày một gia tăng.
Các nghiên cứu về thu phí và chi trả BHTG ơ Việt Nam chủ yếu tập trung trên các
mặt của BHTG như Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam, của PGS.TS. Lê Thị
Thu Thủy, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2008 - nghiên cứu mọi vấn
đề của BHTG; Bảo hiểm tiền gửi – nguyên lý, thực tiễn và định hướng, TS. Lê Thị
Kim Oanh, Nhà xuất bản Lao động xã hội, năm 2004; Quy chế pháp lý về bảo hiểm
tiền gửi tại Việt Nam, ThS. Lê Thị Thúy Sen, Viện Nhà nước Pháp luật, năm 2008;
Pháp luật về tổ chức BHTG ở Việt Nam, ThS. Nguyễn Duy Hoàn, Khoa Luật – Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2011; Pháp luật về hoạt động BHTG ở Việt Nam, TS. Hoàng
Thu Hằng, năm 2012;… Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong nước chủ yếu
tập trung nghiên cứu chung về các hoạt động của cơ quan BHTG mà chưa tập trung,
chú trọng nghiên cứu chuyên sâu vào một hoạt động cụ thể nào của cơ quan BHTG
như hoạt động thu phí, chi trả bảo hiểm tiền gửi.
BHTG là lĩnh vực mới nên chưa được nhiều người quan tâm nghiên cứu, biên

4


dịch. Hơn thế nữa, lĩnh vực này khá phức tạp, tài liệu tham khảo trong nước không
nhiều, đặc biệt là sách nghiên cứu về vấn đề này hầu như rất ít. Trong bối cảnh hội
nhập, đặc biệt sau khủng hoảng tài chính – ngân hàng, nước ta đang trong quá trình
hoàn thiện hệ thống pháp luật tài chính – ngân hàng, trong đó có hoàn thiện khung
pháp lý liên quan đến tổ chức và hoạt động, quản trị, điều hành BHTG thì việc
nghiên cứu chuyên sâu đề tài “Hoạt động thu phí và chi trả BHTG của cơ quan
BHTG theo pháp luật Việt Nam hiện nay” thực sự là cần thiết.
6. Nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu

là thông qua quan sát, thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau (báo cáo, thông
tin của các phòng tại BHTGVN). Nguồn dữ liệu thu thập từ bên ngoài bao gồm: các
bài báo, bài nghiên cứu, báo cáo thường niên,… được đăng tải trên các báo, tạp chí,
thông tin từ các website, thông cáo báo chí của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức
có uy tín v.v..
6.3. Địa điểm nghiên cứu
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mơ đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động thu phí, chi trả bảo hiểm tiền
gửi và pháp luật về hoạt động thu phí, chi trả bảo hiểm tiền gửi.
Chương 2: Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động thu phí và chi trả BHTG
của cơ quan BHTG ơ Việt Nam.
Chương 3: Thực trạng pháp luật về hoạt động thu phí, chi trả BHTG của cơ
quan BHTG ơ Việt Nam và hướng hoàn thiện.

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THU PHÍ, CHI TRẢ
BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THU PHÍ,
CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
1.1. Một số vấn đề lý luận về hoạt động thu phí và chi trả bảo hiểm tiền gửi
1.1.1. Khái niệm, vai trò của bảo hiểm tiền gửi, chủ thể của quan hệ bảo
hiểm tiền gửi, các loại tiền gửi được bảo hiểm tiền gửi
1.1.1.1. Khái niệm và vai trò của bảo hiểm tiền gửi
a/ Khái niệm bảo hiểm tiền gửi
Bảo hiểm tiền gửi ra đời khá lâu trên thế giới, tuy nhiên, cho đến gần đây vẫn

người gửi tiền [17]. Cam kết công khai này được thể hiện dưới hình thức một hợp
đồng bảo hiểm gồm có ba đối tượng: tổ chức BHTG, tổ chức tham gia BHTG và
người gửi tiền. Việc phát triển hoạt động BHTG về quy mô nhằm nâng cao hiệu
quả của hoạt động tài chính tiền tệ quốc gia trong nền kinh tế phát triển và hội
nhập là một khách quan.
Hoặc BHTG là loại hình bảo hiểm, theo đó bảo đảm nghĩa vụ chi trả trong
tương lai các khoản tiền gửi cho người gửi tiền tại các tổ chức tham gia BHTG khi
các tổ chức này gặp rủi ro dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán [25, tr.36].
BHTG có thể hiểu là một loại hình bảo hiểm với những đặc điểm riêng khác với các
loại hình bảo hiểm khác. Hiện nay pháp luật về BHTG một số nước (My, Hàn
Quốc, Đài Loan...) không đưa ra khái niệm về BHTG nói chung mà chỉ xác định
mục tiêu, mô hình BHTG, liệt kê các hoạt động của tổ chức BHTG.
Ở nước ta BHTGVN được thành lập trong bối cảnh nền kinh tế nước ta
chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa. Pháp lệnh ngân hàng ban hành năm 1990 chuyển hoạt
động của hệ thống ngân hàng từ một cấp sang hai cấp, theo đó Ngân hàng Nhà nước
(NHNN) thực hiện quản lý nhà nước trong hoạt động ngân hàng, các hoạt động kinh
doanh do các TCTD thực hiện. Sự phát triển nhanh về quy mô, loại hình và hình
thức sơ hữu của các TCTD đã tạo thêm nhiều lựa chọn cho người tiêu dùng nhưng
rủi ro tiềm ẩn cũng tăng lên. Hàng loạt Hợp tác xã tín dụng đổ vỡ đầu thập niên 90
đã để lại hậu quả trong nhiều năm sau đó về mặt kinh tế, chính trị - xã hội tại một số

8


địa phương. Sự không ổn định của hệ thống ngân hàng đã nổi lên như một vấn đề
khó khăn đối với các quốc gia, đặc biệt là ơ các quốc gia đang phát triển và phát
triển, trong đó có Việt Nam. Để đối phó với tình trạng này, Chính phủ nhiều quốc
gia, trong đó có nước ta đã thực hiện những biện pháp để đưa hệ thống ngân hàng
trơ lại trạng thái hoạt động lành mạnh phát triển ổn định. Một trong những biện pháp

đồng thời thúc đẩy sự phát triển chung của hệ thống ngân hàng, BHTG ra đời với
các vai trò cụ thể:
Thứ nhất, BHTG có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ người gửi tiền, nâng
cao niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính quốc gia. Việc bảo vệ người
gửi tiền mà trên hết là những người gửi tiền nhỏ lẻ, ít hiểu biết về tài chính. Khi
người dân thiếu lòng tin vào hệ thống tài chính – ngân hàng thì trước hết hệ thống
tài chính ngân hàng sẽ bị ảnh hương và sau đó là toàn bộ nền kinh tế của quốc gia
cũng bị ảnh hương nghiêm trọng. Người dân sẽ phản ứng bằng cách như rút tiền ồ
ạt từ hệ thống ngân hàng, chuyển sang đầu cơ tích trữ các loại tài sản khác như
vàng, ngoại tệ,… khiến cho dòng tiền không được đổ vào sản xuất, Chính phủ khó
kiểm soát thị trường và gặp vướng mắc trong điều hành chính sách tiền tệ quốc gia.
Bơi lẽ trong nền kinh tế thị trường, bảo bệ người tiêu dùng nói chung và người gửi
tiền nói riêng là yêu cầu đặt ra đối với mỗi chính phủ. Bảo vệ người tiêu dùng là để
đảm bảo quyền lợi của người dân trong xã hội dân sự. Do đó, BHTG là một công cụ
tài chính hữu hiệu được hầu hết các chính phủ sử dụng để bảo vệ tạo sự an toàn cho
người gửi tiền. BHTG giúp xây dựng niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài
chính ngân hàng và đó là yêu cầu đặt ra đối với bất kỳ Chính Phủ nào trên thế giới.
Thực tiễn cho thấy, khi mà người dân không tin tương vào hệ thống tài chính
ngân hàng thì trước hết hệ thống tài chính ngân hàng sẽ bị ảnh hương và sau đó là
toàn bộ nền kinh tế của quốc gia cũng bị ảnh hương nghiêm trọng. Một minh chứng
cho thấy cuộc khủng hoảng tài chính My từ năm 2008 đến nay chính là cuộc khủng
hoảng niềm tin của người dân vào khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương
mại, họ đã rút tiền ồ ạt, không gửi tiền vào các ngân hàng nữa và điều này đã chứng
minh rõ nét vai trò của người gửi tiền đối với sự tồn tại, sự phát triển của hệ thống
ngân hàng. Lịch sử hoạt động tài chính ngân hàng đã xảy ra khá nhiều vụ rút tiền ồ
ạt, gây ra sự tê liệt và đổ vỡ của các ngân hàng như ơ My vào những năm 1920 1930 hay ơ châu Á năm 1997 và gần đây nhất là Anh, My (ngân hàng Northern Rock
của Anh và ngân hàng Contrywide của My). Do đó, nền kinh tế của các quốc gia
này đã bị chao đảo bơi hệ quả của khủng hoàng tài chính - ngân hàng này.

10

tiết kiệm thông qua hệ thống ngân hàng có tầm quan trọng đặc biệt, nhất là đối với
những nước có nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển lớn trong khi vốn huy động tiết

11


kiệm còn hạn chế.
1.1.1.2. Chủ thể của quan hệ bảo hiểm tiền gửi
Như đã nêu ơ trên, hoạt động BHTG được thực hiện với ba chủ thể: tổ chức
BHTG, tổ chức tham gia BHTG và người được BHTG.
a/ Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
Người tham gia BHTG ơ đây chính là tổ chức tham gia BHTG. Chủ thể
(người) tham gia bảo hiểm là tổ chức, cá nhân đứng ra yêu cầu bảo hiểm và giao kết
hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm. Theo quy định của pháp luật, người
tham gia bảo hiểm cần có các điều kiện nhất định như năng lực chủ thể, bảo đảm
được các quy định về quyền lợi có thể được bảo hiểm. Trong hoạt động BHTG, chủ
thể tham gia BHTG là TCTD hoặc tổ chức tài chính khác được thành lập theo quy
định của pháp luật, nhận tiền gửi của cá nhân, tổ chức trong xã hội tham gia quan hệ
bảo hiểm tiền gửi với tổ chức BHTG.
Tương ứng với hai mô hình BHTG bắt buộc và tự nguyện trên thế giới hiện
nay là hai mức độ tham gia BHTG của các tổ chức tham gia BHTG. Tùy thuộc vào
mục đích của hệ thống bảo hiểm tiền gửi ơ mỗi nước mà sự tham gia bảo hiểm là
bắt buộc hay tự nguyện. Có hai giới hạn về tổ chức tham gia BHTG: Thứ nhất, nếu
mục đích của BHTG chỉ nhằm bảo vệ hệ thống thanh toán thì đối tượng tham gia
BHTG chỉ nên giới hạn ơ các ngân hàng thương mại và các tổ chức nhận tiền gửi
được phép mơ các tài khoản thanh toán. Thứ hai, nếu mục đích của hệ thống BHTG
đa dạng hơn, không chỉ là bảo vệ hệ thống thanh toán mà còn bảo vệ người gửi tiền
nhỏ, khuyến khích người dân tiết kiệm, ổn định hệ thống tài chính thì sự tham gia
BHTG là bắt buộc đối với mọi tổ chức có nhận tiền gửi.
Với một hệ thống BHTG công khai thì sự tham gia của các tổ chức tín dụng

tiền gửi của cá nhân, tổ chức trong xã hội. Pháp luật của hầu hết các nước đều quy
định các tổ chức này phải tham gia BHTG. Nói cách khác, chủ thể tham gia BHTG
theo cách thức bắt buộc. Việc các tổ chức nhận tiền gửi sử dụng tiền gửi huy động
từ công chúng nhằm thực hiện các hoạt động tín dụng và các hoạt động kinh doanh
khác để tìm kiếm lợi nhuận có thể gặp rủi ro, từ đó dẫn đến gây thiệt hại về tài sản
của người gửi tiền do vậy quy định các tổ chức tham gia BHTG bắt buộc phải nộp
phí BHTG trong trường hợp này là thực sự cần thiết nhằm đảm bảo quyền lợi hợp
pháp cho người gửi tiền. Từ quy định này cũng thấy được sự khác biệt giữa hoạt

13


động bảo hiểm thương mại với hoạt động BHTG. Trong hoạt động bảo hiểm thương
mại thì còn tùy thuộc vào nhận thức vào rủi ro đối với con người hoặc tài sản mà cá
nhân, tổ chức có thể tham gia bảo hiểm hoặc không tham gia. Việc tham gia bảo
hiểm thương mại không có sự ràng buộc mà hoàn toàn xuất phát từ sự tự nguyện
tham gia quan hệ bảo hiểm, tự do thể hiện ý chí của mình trên cơ sơ pháp luật nhằm
đạt các mục tiêu của mình. Cùng với sự bắt buộc tham gia khi nhận tiền gửi là sự
bắt buộc nộp phí đối với các khoản tiền gửi được bảo hiểm. Đây là một đặc điểm
đặc trưng trong quan hệ BHTG.
b/ Người được bảo hiểm tiền gửi
Khi nghiên cứu các chủ thể tham gia quan hệ BHTG, cần thiết phải phân biệt
chủ thể tham gia BHTG với chủ thể thụ hương từ hoạt động này. Khác với quan hệ
bảo hiểm thương mại hay quan hệ bảo hiểm xã hội, chủ thể thụ hương trong quan
hệ BHTG không phải là chủ thể tham gia BHTG – chủ thể đã nộp phí BHTG – mà
là người gửi tiền tại các tổ chức tham gia BHTG. Người gửi tiền tại các tổ chức tài
chính nhận tiền gửi có thể là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác. Mục đích gửi tiền
của các chủ thể cũng rất đa dạng như để thực hiện nghĩa vụ thanh toán, tiết kiệm,
tích lũy... Sơ dĩ chủ thể được hương quyền lợi bảo hiểm không phải là các tổ chức
tham gia BHTG đã nộp phí BHTG theo quy định của pháp luật BHTG mà chính là

tham gia bảo hiểm tiền gửi dưới hình thức tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ
hạn, tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu của cá nhân...; và
không áp dụng cho các loại tiền gửi tại tổ chức tín dụng của cá nhân là người sơ
hữu trên 5% vốn điều lệ của chính TCTD đó,... Mặc dù được hương quyền và lợi
ích thông qua hoạt động BHTG nhưng dưới góc độ pháp lý, chủ thể được hương
quyền lợi BHTG lại không liên quan đến những quy định hay có bất cứ nghĩa vụ
nào phải thực hiện trong quá trình thực thi nghiệp vụ BHTG.
c/ Tổ chức bảo hiểm tiền gửi
Tổ chức BHTG được pháp luật quy định có tư cách pháp nhân, có các quyền
và nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ pháp luật BHTG. Các quyền và nghĩa vụ pháp lý
này được quy định trong văn bản pháp luật về hoạt động BHTG. Tùy theo quy định
pháp luật của các quốc gia, tổ chức BHTG có thể chỉ thực hiện hoạt động bảo hiểm
thuần túy hoặc tổ chức còn có quyền kiểm tra, giám sát tổ chức tham gia BHTG,
cảnh báo sớm những rủi ro có nguy cơ xảy ra đối với tổ chức tham gia BHTG, hỗ
trợ tài chính cho tổ chức tham gia BHTG... Tổ chức BHTG thực hiện hoạt động thu

15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status