VI N H N L M
KHO H
X H I VI T N M
V
Ộ
ĐỖ QU
G SƠ
BẢ ĐẢM QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦ
GƢỜ L
ĐỘNG
TRONG CÁC DOANH NGHI P CÓ VỐ ĐẦU TƢ ƢỚC NGOÀI
THEO PHÁP LUẬT VI T
n : Lu t ến pháp-Lu t Hành chính
s : 9.38.01.02
N
LUẬ
n
T
n
o
nghiên cứu ....................................................................................................... 30
1.4. ơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu .............................................. 32
ƣơn 2:
HỮNG VẤ
ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO
ĐẢM QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦ
GƢỜ
L
ĐỘNG TRONG
DOANH NGHI P CÓ VỐ ĐẦU TƢ ƢỚC NGOÀI ............................ 36
2.1. Khái quát chung về bảo đảm quyền và lợi ích của người lao động trong
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ......................................................... 36
2.2. Bảo đảm quyền và lợi ích của người lao động trong doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài theo pháp luật .................................................................... 45
2.3. Phương thức bảo đảm quyền và lợi ích của người lao động trong doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài .................................................................... 61
ƣơn 3: T ỰC TRẠNG BẢ
GƢỜ L
ĐẢM QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦA
ĐỘNG TRONG DOANH NGHI P CÓ VỐ
K T LUẬN .................................................................................................. 149
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ DANH MỤC
TÀI LI U THAM KHẢO
PHỤ LỤC
D
Ụ
ỮV
T TẮT
UN
ILO
ICCPR
ICESCR
: Liên Hợp quốc
: Tổ chức Lao động quốc tế
: ông ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị
: ông ước quốc tế về quyền kinh tế, văn hóa và xã hội
UDHR
: Tuyên ngôn về quyền con người
HĐLĐ
: Bảo hiểm xã hội
BHTN
BHYT
TVSLĐ
NKT
LĐN
TULĐTT
XHCN
TTLĐ
QHLĐ
: Bảo hiểm thất nghiệp
: Bảo hiểm y tế
: An toàn, vệ sinh lao động
: Người khuyết tật
: Lao động nữ
: Thỏa ước lao động tập thể
: Xã hội chủ nghĩa
: Thị trường lao động
: Quan hệ lao động
T LĐTT
: Tranh chấp lao động tập thể
Ở ĐẦU
1. Tín cấp t ết của đề t
pháp luật, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư của Việt Nam. Do đó, việc bảo
đảm quyền và lợi ích của NLĐ trong các DN VĐTNN phải là vấn đề được các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền cũng như của chính NLĐ quan tâm thỏa đáng trong
khuôn khổ pháp lý hoàn thiện, sao cho vừa bảo đảm được quyền và lợi ích của
1
NLĐ, vừa tiếp tục khuyến khích các DN VĐTNN sản xuất, kinh doanh có hiệu
quả, góp phần vào việc tăng trưởng kinh tế đất nước.
Về bản chất, QHLĐ trong các doanh nghiệp nói chung và DN VĐTNN nói
riêng, được hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận tự nguyện. QHLĐ giữa NSDLĐ và
NLĐ là nhân tố quan trọng bậc nhất ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt
động kinh doanh của NSDLĐ và thu nhập, việc làm của NLĐ. Về phương diện
pháp lý, Việt Nam ban hành nhiều chính sách, pháp luật nhằm xây dựng QHLĐ
trong các doanh nghiệp hài hòa, ổn định và tiến bộ, trong đó quyền và lợi ích của
hai bên trong quan hệ lao động được bảo vệ, bảo đảm. Tuy nhiên, trong QHLĐ,
NLĐ luôn ở vị thế yếu hơn, các quyền và lợi ích chính đáng của họ dễ bị NSDLĐ
xâm hại do họ phụ thuộc và chịu sự quản lý, điều hành của NSDLĐ. Do vậy, phù
hợp với
ông ước quốc tế của Liên hợp quốc (UN) và Tổ chức lao động thế giới
(ILO) về quyền con người trong lĩnh vực lao động, pháp luật nước ta quy định chặt
chẽ các nội dung bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của NLĐ trong QHLĐvới trụ
cột chính là nhân quyền của NLĐ. Điều này được thể hiện qua các bản Hiến pháp
năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 (sửa
đổi, bổ sung năm 2001) và Hiến pháp năm 2013 đều ghi nhận các quyền công dân,
quyền của người lao động. Điều 35 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Công dân có
quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc. 2. Người làm công
2. Mục đíc v n ệm vụ nghiên cứu
2.1. Mụ đí
n
ên ứu
Mục đích của luận án là tiếp tục làm sáng tỏ các vấn đề lý luận trong việc
bảo đảm quyền và lợi ích của NLĐ làm việc tại DN VĐTNN theo pháp luật; tổng
hợp, phân tích, làm sáng tỏ nội dung pháp luật thực định và một số vấn đề thực tiễn thi
hành pháp luật về vấn đề này tại Việt Nam. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn
thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi của pháp luật Việt Nam trong việc bảo
đảm quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ trong các DN VĐTNN ở nước ta.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ đặt ra cho luận án là:
Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận về bảo đảm quyền và lợi ích của NLĐ trong
DN VĐTNN: Quan niệm quyền, lợi ích của NLĐ; đặc trưng, nội dung pháp luật
bảo đảm quyền và lợi ích của NLĐ trong DN ĐTNN; phương thức bảo đảm quyền
và lợi ích của NLĐ trong các DN VĐTNN…
Thứ hai, phân tích thực trạng bảo đảm quyền và lợi ích của NLĐ trong
DN VĐTNN theo pháp luật Việt Nam: những kết quả đã đạt được; tồn tại, hạn chế
và nguyên nhân.
Thứ ba, đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm bảo đảm quyền và lợi ích
của NLĐ trong DN VĐTNN theo pháp luật Việt Nam.
3. Đ
tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Về đố t ợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc bảo đảm quyền và lợi ích của NLĐ Việt
thực tiễn pháp luật về bảo đảm quyền, lợi ích của NLĐ làm việc tại DN VĐTNN ở
Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành Luật hiến pháp và Luật hành chính. Kết quả
nghiên cứu của luận án sẽ đóng góp các nội dung cơ bản:
- Luận án tiếp tục hoàn thiện và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận bảo đảm
quyền, lợi ích của NLĐ làm việc tại DN VĐTNN trên cơ sở lý thuyết về nhân
quyền trong lao động và bối cảnh Việt Nam ký kết và gia nhập các FTA thế hệ mới
với những cam kết sâu sắc và toàn diện về lĩnh vực lao động, việc làm;
- Trên cơ sở phân tích, đánh giá về thực trạng bảo đảm quyền, lợi ích của NLĐ
làm việc tại DN VĐTNN theo pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam hiện
hành. Luận án chỉ ra những ưu điểm, tồn tại, hạn chế của việc bảo đảm quyền, lợi ích
của NLĐ tại DN VĐTNN theo pháp luật, cũng như các phương thức, thiết chế bảo
4
đảm quyền, lợi ích của NLĐ làm việc tại DN VĐTNN. Trên cơ sở đó, Luận án nêu ra
những vấn đề cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành để nâng
cao hiệu quả bảo đảm quyền và lợi ích của NLĐ làm việc tại DN VĐTNN;
- Đề xuất phương hướng, kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện việc bảo đảm
quyền, lợi ích của NLĐ làm việc tại DN VĐTNN theo pháp luật Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay.
Hai là, kết quả nghiên cứu mà luận án có được khi triển khai vào thực tiễn có
giá trị giúp nâng cao nhận thức của các chủ thể có liên quan về QHLĐ trong
DN VĐTNN. Kết quả nghiên cứu của luận án là một phương tiện giúp bảo đảm tốt
hơn những quyền, lợi ích chính đáng của NLĐ làm việc tại DN VĐTNN. Qua đó,
luận án cũng góp phần vào hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con người
trong một lĩnh vực cụ thể: Pháp luật lao động và công đoàn.
5. Ý n
ĩa lý lu n và thực tiễn của Lu n án
Ì
Ê
ỨU
về quyền và lợ í
ủ n
1.1. ác côn trìn n
ên cứu tron nƣớc
1.1.1. Cá
ên ứu tron n
ôn trìn n
G
l o độn
1.1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu là sách chuyên khảo
Nguyễn Linh Khiếu (1999), “Lợi ích động lực phát triển xã hội”. Nxb. Chính
trị quốc gia, Hà Nội. Tác giả đã tổng kết lại nhiều nghiên cứu khác nhau về lợi ích
trong nước và ngoài nước. Tác giả đã đưa ra một cách tiếp cận mới về khái niệm lợi
ích: "Lợi ích chỉ có ý nghĩa là lợi ích trong các quan hệ lợi ích cụ thể. Ngoài quan
hệ lợi ích nó không còn là lợi ích nữa mà chỉ là cái có lợi hay có ích đối với các chủ
giới ngày nay; Các tổ chức quốc tế về quyền con người; Tòa án hình sự quốc tế - một
thiết chế bảo vệ các quyền con người; Luật hình sự quốc tế và việc bảo vệ quyền con
người; Quyền con người và luật nhân đạo quốc tế; ơ chế bảo vệ quyền con người tại
Liên minh Châu Âu; Giám sát Hiến pháp: cơ chế pháp lý bảo vệ quyền con người:
nhìn từ góc độ kinh nghiệm nước ngoài; Quan điểm và giải pháp nâng cao vai trò của
7
pháp luật trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay; Nội luật hóa các
ông ước quốc tế về quyền con người trong pháp luật Việt Nam; Thực hiện quyền
con người vì mục tiêu phát triển con người ở Việt Nam- một số vấn đề lý luận và
thực tiễn; Biện chứng của độc lập dân tộc, pháp trị dân chủ và quyền con người trong
tư tưởng Hồ Chí Minh; Xây dựng nền hành chính đáp ứng nhiệm vụ dân chủ hóa xã
hội và bảo đảm quyền con người ở nước ta hiện nay.
Tập 2 gồm các tham luận: Quyền con người trong pháp luật an sinh xã hội;
hính sách pháp luật Việt Nam với bảo đảm quyền con người trên lĩnh vực kinh tế,
xã hội và văn hóa; Sự tham gia của “công dân” vào các hoạt động quản lý nhà nước,
quản lý xã hội dưới phương diện bảo đảm quyền con người; Bảo vệ quyền con
người và việc xây dựng tòa án Hiến pháp ở Việt Nam; Quyền con người về dân sự ở
Việt Nam; Quyền nhân thân trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam; Quyền con
người về hôn nhân và gia đình; Quyền tự do kinh doanh của công dân và nhà nước
thuế; Pháp luật lao động Việt Nam và việc bảo vệ quyền con người; Mối quan hệ
giữa quyền con người với Luật Hình sự Việt Nam; Vấn đề quyền con người trong
lĩnh vực pháp luật đất đai; Quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam, trong
tố tụng dân sự Việt Nam; Mối quan hệ giữa quyền con người với Luật Thi hành án
hình sự Việt Nam; Bảo vệ quyền con người trong thi hành án dân sự; Bảo vệ quyền
của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong pháp luật Việt Nam và
các hiệp định song phương mà Việt Nam đã ký với một số nước; Những rào cản đối
với việc thực thi pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ
giữa các doanh nghiệp; cơ chế thị trường cũng là mảnh đất nảy sinh chủ nghĩa cá
nhân, tạo cơ hội cho một bộ phận bất chấp lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng, tìm mọi
cách mưu lợi cho bản thân, điều này dẫn đến quyền và lợi ích của NLĐ luôn bị đe
doạ, xâm hại. Vì thế, Đảng và Nhà nước đã có nhiều quy định thành lập nên nhiều cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ, trong đó
công đoàn là một tổ chức có mối quan hệ gần gũi và có những hoạt động thiết thực,
có hiệu quả để bảo vệ NLĐ. Trong bài viết, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về
vai trò của công đoàn trong bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ về khái niệm, tính chất,
chức năng, nguyên tắc tô chức và hoạt động của công đoàn. Ngoài ra, tác giả cũng
đánh giá thực trạng hoạt động của tổ chức công đoàn tại các doanh nghiệp trong bảo
vệ quyền và lợi ích của NLĐ. Từ đó đề xuất những kiến nghị nhằm phát huy vai trò
của công đoàn trong bảo vệquyền và lợi ích của NLĐ.
Vũ Hương Liên (2007), “Quyền lao động trong pháp luật quốc tế và pháp luật
Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học quốc gia. Trong luận văn, tác giả đã
khái quát một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền lao động dưới góc độ pháp luật
quốc tế và pháp luật Việt Nam. Giới thiệu các quy định cơ bản về quyền lao động
theo pháp luật Việt Nam trong tương quan so sánh với pháp luật quốc tế như: quy
định về việc làm và một số quy định chung về bảo đảm điều kiện làm việc cho
người lao động. Thực trạng thực thi pháp luật về việc làm và bảo đảm các điều kiện
9
làm việc cho người lao động tại Việt Nam và đề xuất một số giải pháp nhằm bảo
đảm điều kiện làm việc cho NLĐ: thực hiện có hiệu quả chương trình quốc gia về
việc làm và bảo đảm điều kiện làm việc cho NLĐ, tăng cường đào tạo nghề cho
NLĐ có chất lượng đáp ứng được yêu cầu thực tiễn TTLĐ trong nước và quốc tế,
hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo đảm các điều kiện làm việc cho NLĐ.
Trần Minh Yến (2007), "Đình công, tiền lương - hai vấn đề nổi bật trong lĩnh
vực lao động, việc làm ở nước ta hiện nay", Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 353.
Nam đang đặt ra. Đây cũng là vấn đề phức tạp đã và đang được tranh luận khá sôi
nổi ở một số diễn đàn khoa học trong nước, để góp phần vào việc giảm thiểu xung
đột giữa người lao động và giới chủ, tiến tới loại bỏ đình công, việc tìm hiểu những
nguyên nhân dẫn tới đình công trong các doanh nghiệp, cả nhà nước lẫn tư nhân là
rất cần thiết. Hầu hết các lý do mà công nhân đưa ra để họ tổ chức đình công ở tất
cả các doanh nghiệp đều tập trung vào các vấn đề như làm tăng ca, điều kiện làm
việc, sinh hoạt không bảo đảm, lương thưởng quá thấp, không lo đủ cho cuộc sống,
thực hiện một số nội quy, quy định quá khắc nghiệt đối với NLĐ nên không những
không khuyến khích NLĐ tăng năng suất mà còn có tác động ngược trở lại... Tác
giả đã đưa ra một số nội dung khác như: Bảo đảm trả đúng hạn lương sẽ loại bỏ yếu
tố gây bãi công cao nhất; các chế độ phúc lợi và quyền lợi vật chất, chế độ bảo hộ
lao động, thời gian làm việc, nghỉ ngơi, nội quy lao động trái với quy định của pháp
luật, NSDLĐ không thực hiện đúng những quy định của pháp luật. Để tiếp tục thúc
đẩy sản xuất phát triển, cải thiện, tạo sự hài hòa trong quan hệ lợi ích giữa hai tầng
lớp xã hội, NSDLĐ và NLĐ, tác giả đã đưa ra cần giải quyết một số vấn đề cơ bản
sau: khuyến khích NSDLĐ thu lợi nhuận chính đáng; tăng cường kiểm tra, đẩy lùi
tiêu cực; có chính sách phân chia lợi nhuận công bằng; biểu dương chủ doanh
nghiệp có thành tích cải thiện đời sống NLĐ; quan tâm và giúp đỡ người có thu
nhập thấp; NSDLĐ và NLĐ có sự thống nhất và minh bạch về lợi ích; công đoàn
cần thực hiện đúng vai trò và nhiệm vụ của mình trong doanh nghiệp. Nhìn chung,
các bài viết trên đã đi sâu nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến đình công của NLĐ
trong các doanh nghiệp. Tuy nhiên còn chưa toàn diện sâu sắc, chỉ nêu ra những vấn
đề chung mà người lao động quan tâm là tiền lương, tiền thưởng, một số giải pháp
nêu ra chưa giải quyết được triệt để về điều kiện làm việc, cơ hội thăng tiến trong
nghề nghiệp của NLĐ.
Nguyễn Thanh Hà (2011), “Luật Việt Nam trong tương quan với luật Quốc tế
về lao động”, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong luận văn,
tác giả đã làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về sự tương quan giữa pháp luật Việt Nam
với pháp luật quốc tế với các nội dung như: sự cần thiết, tính phức tạp của mối
tương quan; một số lý thuyết về sự tương quan giữa pháp luật quốc tế và pháp luật
gia QHLĐ trong các doanh nghiệp nói chung và trong DN VĐTNN nói riêng.
Phạm Minh Huân (2015) “Chính sách bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng
cho người lao động”, Tạp chí cộng sản, số tháng 6/2015. Bài viết đã đánh giá
những kết quả đạt được trong việc thực hiện chính bảo đảm quyền và lợi ích cho
NLĐ thời gian qua. Cụ thể như: Thứ nhất, đã thể chế hóa chủ trương, đường lối của
Đảng thành hệ thống chính sách, pháp luật về lao động; Thứ hai, công tác quản lý
nhà nước về lao động tiếp tục được tăng cường; Thứ ba, hệ thống chính sách, pháp
luật về lao động được ban hành và áp dụng trong thực tiễn đã góp phần tăng việc
làm cho NLĐ, thúc đẩy TTLĐ phát triển, tăng cường kết nối cung - cầu lao động,
nâng cao chất lượng và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao
động, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ và NSDLĐ; Thứ tư, hệ thống
chính sách pháp luật của Nhà nước cơ bản phù hợp với các ông ước về Quyền con
người của Liên hợp quốc và công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) mà Việt
12
Nam đã phê chuẩn, tạo điều kiện, thúc đẩy quá trình hội nhập khu vực và hội nhập
quốc tế của Việt Nam cũng như tham gia ký kết các hiệp định thương mại song
phương, đa phương thúc đẩy quá trình hội nhập của Việt Nam với các nước trong
khu vực và trên thế giới; Thứ năm, nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của NLĐ
được nâng lên, vai trò của tổ chức công đoàn, nhất là công đoàn cơ sở trong việc đại
diện kiến nghị yêu cầu NSDLĐ tôn trọng và thực hiện đúng quy định pháp luật lao
động ở nhiều nơi được khẳng định và đã bảo vệ quyền lợi chính đáng của NLĐ.
Thứ sáu, đời sống vật chất và tinh thần của NLĐ từng bước được nâng lên do sự
điều chỉnh mặt bằng lương tối thiểu của Nhà nước, mức tăng tiền lương trên thị
trường lao động cũng như việc cạnh tranh nguồn nhân lực giữa các doanh nghiệp
ngành, nghề đã dẫn đến việc các doanh nghiệp phải điều chỉnh mức tiền lương thỏa
thuận với NLĐ. Tuy nhiên, cũng theo tác giả tuy đã đạt được nhiều kết quả nhưng so
với yêu cầu thực tế thì các hệ thống chính sách đó vẫn chưa bảo đảm chính vì vậy phải
được xem xét ở cả hai khía cạnh, đó là “chi phí” và “lợi ích”. Lao động là yếu tố đầu
vào, nó có ảnh hưởng tới chi phí tương tự như việc sử dụng các yếu tố khác. Vì vậy,
lao động cũng bao hàm những lợi ích tiềm tàng góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời
sống, giảm đói nghèo. Theo tác giả, để quyền lợi NLĐ được bảo đảm và phúc lợi tốt
hơn tại nhiều doanh nghiệp là điều không dễ dàng, thường có hai vấn đề xảy ra “không
có chi phí, kinh phí" hay "không có thời gian để làm việc đó". Ngoài ra, vai trò của lao
động cũng còn được thể hiện ở khía cạnh thứ hai đó lao động là một bộ phận của dân
số, là người được hưởng thụ lợi ích của quá trình phát triển. Như vậy, người lao động
phải được tạo các cơ hội trở thành lao động sáng tạo, có năng suất, được tôn trọng và
được bảo đảm quyền con người. Thu nhập không phải là tất cả cuộc sống của NLĐ. Do
đó cần đẩy mạnh an sinh xã hội và phúc lợi xã hội đối với NLĐ một cách toàn diện,
đồng bộ và hiệu quả. ũng trong bài viết của mình, tác giả cũng đề cập đến một số vấn
đề mang tính bắt buộc cần thực hiện để bảo đảm quyền lợi của NLĐ.
Trần Nguyên ường (2017), “Bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện hành”, luận
án tiến sĩ chuyên ngành Luật kinh tế, Học viện Khoa học xã hội. Luận án đã trình
bày và phân tích một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền của NLĐ làm việc tại các
DN VĐTNN như: khái niệm, đặc điểm của DN VĐTNN, sự cần thiết bảo vệ
quyền của NLĐ làm việc tại DN VĐTNN; khái niệm và đặc điểm, nguyên tắc, nội
dung, ý nghĩa của pháp luật bảo vệ quyền của NLĐ làm việc tại DN VĐTNN. Về
phương diện thực tiễn Luận án đã phân tích, đánh giá về thực trạng pháp luật và
thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ quyền của NLĐ làm việc
tại DN VĐTNN. Luận án phân tích, đánh giá, nêu ra những ưu điểm cũng như hạn
chế, bất cập của pháp luật bảo vệ quyền của NLĐ tại DN VĐTNN. Luận án nêu ra
các định hướng và giải pháp sửa đổi, bổ sung một số hạn chế trong các quy định
pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền của NLĐ làm việc tại DN VĐTNN, có luận
giải cụ thể, nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam bảo đảm vừa bảo vệ quyền và lợi
14
ên ứu l ên qu n trự t ếp đến
á
o n n
ệp ó vốn đầu
m
1.1.2.1. Nhóm các công trình nghiên cứu là sách chuyên khảo, tham khảo
Bùi Anh Tuấn (2000), “Tạo việc làm cho người lao động qua đầu tư trực
tiếp nước ngoài ở Việt Nam”, Nxb Thống kê. Tác giả đã đánh giá tác động của
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong việc tạo thị trường lao động
cho người lao động, đánh giá, phân tích những thành tựu mà đầu tư trực tiếp
nước ngoài mang lại trong việc nâng cao thu nhập, trình độ kỹ thuật và điều kiện
làm việc cho người lao động. Tuy nhiên, tác giả cũng đánh giá những rủi ro, hạn
chế tác động đến quyền và lợi ích của người lao động làm việc trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Theo tác giả, để bảo đảm quyền và
lợi ích hợp pháp của người lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài, chính phủ Việt Nam cần xây dựng hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật đầy đủ, phù hợp với thong lệ quốc tế và những cam kết của Việt Nam
trong bảo vệ quyền con người.
Trong số các nghiên cứu liên quan quyền con người phải kể đến hai công
trình tiêu biểu của Viện Khoa học xã hội Việt Nam: Bộ sách về quyền con người
được triển khai trong khuôn khổ dự án “Diễn đàn giáo dục về quyền con người” do
15
thành phố Hồ Chí Minh và những nguyên nhân cơ bản của việc tồn tại những bất
đồng, mâu thuẫn và tranh chấp. Từ thực trạng đã phân tích, luận văn đã đưa ra
những phương hướng cùng giải pháp về hoàn thiện luật pháp, về nâng cao vai trò
của các tổ chức công đoàn, về giải quyết tranh chấp lao động ở doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài… để giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa NLĐ và
NSDLĐ trong các DN VĐTNN tại thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, những cơ
16
sở pháp lý được luận văn sử dụng để phân tích và đánh giá thực trạng mối quan hệ
lợi ích giữa nguời lao động và nguời sử dụng lao động trong các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài đã cũ, hiện nay có nhiều văn bản quy phạm pháp luật mới đã
được ban hành. Ngoài ra, phạm vị nghiên cứu của luận văn chỉ đề cập đến quan hệ
lợi ích và giới hạn phạm vị nghiên cứu ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Trần Nguyên ường (2009), “Một số vấn đề pháp lý cơ bản bảo vệ quyền và
lợi ích của người lao động Việt Nam tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài”, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học quốc gia Hà Nội. Trong luận văn, tác giả
đã nghiên cứu khái quát DN VĐTNN, nghiên cứu các quy phạm pháp luật về bảo
vệ quyền lợi của NLĐ tại các DN VĐTNN. Nghiên cứu tình hình triển khai thực tế
các quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi của NLĐ Việt Nam tại các
DN VĐTNN. Nghiên cứu kinh nghiệm thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi của
NLĐ của các nước trên thế giới. Thông qua việc nghiên cứu thực tiễn việc triển
khai các quy định pháp luật Việt Nam và pháp luật các nước điển hình tiên tiến trên
thế giới sẽ rút ra những hạn chế trong các quy định pháp luật Việt Nam và những ưu
điểm trong quy định của pháp luật các nước điển hình tiên tiến trên thế giới để
hướng tới hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam trong việc bảo vệ quyền
lợi NLĐ tại các DN VĐTNN. Theo tác giả việc bảo vệ quyền lợi của NLĐ Việt
Nam tại các DN VĐTNN phải là vấn đề được quan tâm thỏa đáng nhiều hơn của
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng như của chính NLĐ, trong khuôn khổ
cũng đánh giá những ưu điểm, nhược điểm trong việc thực hiện vai trò bảo vệ
quyền lợi NLĐ của công đoàn trong các DN VĐTNN ở Việt Nam. Từ đó, đưa ra
một số kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi
NLĐ tại các DN VĐTNN.
Nguyễn Hữu Dũng (2012), “Định công trong doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài ở Việt Nam: Thực trạng và một số khuyến nghị”, Tạp chí Sự kiện và
Nhận định số 1/2012. Trong bài viết tác giá đã phân tích, đánh giá thực trạng đình
công trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư ở Việt Nam qua đó đưa ra những nhận
định cơ bản về QHLĐ trong DN VĐTNN ở Việt Nam. Từ đó, đề xuất những
khuyến nghị trong việc xây dựng QHLĐ trong DN VĐTNN ở Việt Nam theo
hướng hài hòa, ổn định và tiến bộ nhằm giải quyết tranh chấp về quyền, lợi ích của
NLĐ và vấn đề đình công.
Lê Anh Nhân (2013), “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ
quyền lợi của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng”, Trang thông tin điện tử của BHXH Đà Nẵng. Trong
phạm vi bài viết, tác giả đã phản ảnh thực trạng tình hình về hoạt động đầu tư và việc
chấp hành pháp luật lao động của các DN VĐTNN trên địa bàn tỉnh Đà Nẵng. Trong
đó, phân tích những kết quả tích cực đã đạt được và những tồn tại, hạn chế trong việc
thực hiện chính sách Lao động - Tiền lương - Bảo hiểm xã hội - Bảo hiểm y tế. Từ đó,
đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của NLĐ trong các
18
DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Theo tác giả, để khắc phục những tồn
tại, hạn chế trong việc thực hiện quyền và lợi ích của NLĐ cần đề ra được những giải
pháp phù hợp với thực tiển, từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo ra môi
trường sản xuất kinh doanh lành mạnh để tiếp tục thu hút các nhà đầu tư và bảo vệ
quyền lợi hợp pháp của NLĐ. Tuy nhiên, bài viết mới chỉ đánh giá kết quả thực hiện
việc bảo đảm quyền và lợi ích của NLĐ, từ đó đề xuất những giải pháp bảo đảm quyền
Phạm Thị Hương (2016), “Quyền của người lao động tại các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật lao động Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật
học, Học viện khoa học xã hội. Luận văn đã luận giải một số vấn đề về cơ sở lý luận
về quan hệ lao động tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng như quyền
lợi hợp pháp của NLĐ theo pháp luật Việt Nam. Phân tích các quy định pháp luật
và thực tiễn áp dụng các điều luật về quyền của NLĐ trong các DN VĐTNN theo
pháp luật Việt Nam. Từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật
về quyền của NLĐ trong các DN VĐTNN. Tuy nhiên, luận văn chỉ đề cập đến
quyền của NLĐ chưa đề cập đến lợi ích của NLĐ. Vấn đề này sẽ được tác giả
nghiên cứu sâu và hoàn thiện ở luận án của mình.
Như vậy, chúng ta thấy vấn đề bảo đảm quyền và lợi ích của NLĐ trong
DN VĐTNN theo pháp luật Việt Nam là vấn đề mới nên chưa có nhiều công
trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này. Các công trình nghiên cứu trên mới
nghiên cứu về quyền hay lợi ích của NLĐ hoặc nghiên cứu về quyền và lợi ích
của NLĐ trong một phạm vi hẹp. Hiện chưa có công trình nào nghiên cứu toàn
diện vấn đề bảo đảm quyền và lợi ích của NLĐ trong DN VĐTNN theo pháp
luật Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành luật Hiến pháp – luật Hành chính. Nội
dung này sẽ được nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu trong luận án
của mình. Ngoài ra, các công trình khoa học trên chủ yếu tiếp cận quyền và lợi
ích của NLĐ trong DN VĐTNN dưới góc độ kinh tế, xã hội. Một số nghiên cứu
đã xem xét vấn đề này dưới góc độ luật học song chủ yếu tiếp cận dưới phương
diện quy định pháp luật mà chưa đi sâu phân tích việc thực hiện pháp luật về bảo
đảm quyền và lợi ích của NLĐ trong DN VĐTNN theo pháp luật Việt Nam trên
thực tế nên khi nghiên cứu vấn đề này nghiên cứu sinh sẽ phải tiếp cận dưới góc
độ luật học cả về phương diện quy định pháp luật và thực hiện pháp luật để làm
sáng tỏ cơ sở lý luận về bảo đảm quyền và lợi ích của NLĐ trong DNCVĐTNN
theo pháp luật Việt Nam.
1.2. ác côn trìn n
ên cứu ở nƣớc n o