CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
BỘ MÔN SINH HỌC LỚP 12
Quảng Bình, tháng 9 năm 2018
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
BỘ MÔN SINH HỌC LỚP 12
Họ và tên: Nguyễn Thị Bình
Chức vụ: giáo viên
Tổ: Sinh- CN
Quảng Bình, tháng 9 năm 2018
2
1. Phần mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Môn Sinh học trong Trường trung học phổ thông là một môn khoa học về
sự sống . Nó là một nhánh của khoa học tự nhiên, tập trung nghiên cứu các cá
thể sống, mối quan hệ giữa chúng với nhau và với môi trường. Nó miêu tả
Với các giải pháp trong đề tài các em lĩnh hội được các kiến thức sinh học
cô động nhất, hướng dẫn các em cách tự học, giúp các em ngày càng tiến bộ
hứng thú với môn học, khắc phục được tình trạng nặng nề đạt chất lượng trong
dạy học.
1.2 Phạm vị áp dụng:
Với đề tài này tôi đã và đang áp dụng ở lớp 12 tôi được phân công giảng
dạy trong năm học 2017-2018( kì II) ; 2018-2019.
2. Phần nội dung
2.1. Thực trạng của nội dung cần nghiên cứu
Thực tế hiện nay, mục tiêu dạy và học môn sinh học bị sai lệch bởi việc
dạy môn này chủ yếu theo nhu cầu trước mắt của học sinh là để thi THPT quốc
gia và thi tuyển sinh đại học , phụ huynh chú trọng để đầu tư học tập “thành tài”.
Trong khi đó, ở các lớp ban KHXH môn sinh không phải là môn thi THPT bắt
buộc; các trường đại học, cao đẳng tuyển sinh khối có môn Sinh lại không
nhiều hoặc có khá nhiều ngành liên quan đến sinh học nhưng chưa thật sự cuốn
hút người học nên dẫn tới thực tế là người học ham mê môn Sinh học ngày càng
giảm.
Một là học sinh học chương trình chính khóa phải học quá nhiều môn, lại
phải học thêm những môn khác do vậy người học có rất ít thời gian để tự nghiên
cứu, tìm hiểu, phần lớn chỉ đơn thuần nhận thông tin một chiều từ giáo viên, tiếp
thu một cách thụ động hoặc lĩnh hội kiến thức đã được giáo viên giảng dạy,
nghiên cứu thay vì học sinh tự tìm tòi nghiên cứu để nâng cao kiến thức.
Mặt khác, giáo viên và học sinh chưa bắt kịp với sự đổi mới phương
pháp dạy và học. Việc dạy môn sinh học trong nhà trường hiện nay mới chỉ
dừng lại ở dạy lý thuyết do điều kiện về thực hành thí nghiệm còn hạn chế,
người học thì lại không có điều kiện tham quan thiên nhiên, sống xa rời với
thiên nhiên...số tiết thực hành quy định trong chương trình và sách giáo khoa rất
hạn chế khiến hiệu quả môn học thấp.
4
Yếu
3.5
4
9.76%
19
46.34%
11
26.83%
7
17.07%
37
90.24%
4
9.76%
2.2. Các giải pháp:
Qua những lần kiểm tra chất lượng các lớp và tìm hiểu trực tiếp các giáo
viên trong trường tôi thấy: học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức- kĩ năng luôn là
vấn đề trăn trở của mỗi giáo viên. Đa số học sinh còn phụ thuộc vào khuôn mẫu,
bắc chước, chưa có ý thức tự giác học tập. Để khắc phục tình trạng học sinh
trạng tương phản, so sánh và nhận xét với thí nghiệm hình 13.1, sau đó giáo viên
nhận xét và cho điểm.
Thay đổi cách đặt vấn đề vào bài mới( hoạt động khởi động)
Trong một giờ học, nếu ngay từ phần vào bài giáo viên đã tạo ra sự hứng
thú cho học sinh, chắc chắn trong những phút tiếp theo, các em sẽ hào hứng hơn
với những hoạt động do giáo viên tổ chức. Do đó phần vào bài có vai trò quan
trọng đến hoạt động dạy cũng như kích thích quá trình tiếp thu kiến thức của học
sinh trong một tiết dạy. Kinh nghiệm của tôi để có cách dẫn dắt vào bài mới hấp
dẫn hơn là: Mở đầu bằng một câu chuyện ngắn vui, li kì, hấp dẫn…; mở đầu
bằng một đoạn phim hay hình ảnh... Một điều cần lưu ý là: khởi động hay góp
phần làm tăng tính hấp dẫn cho bài học, tạo hứng thú cũng như làm cho không
khí học tập trở nên thoải mái hơn. Tuy nhiên, cũng cần chú ý đến thời gian cho
phần vào bài để tránh ảnh hưởng đến thời lượng dành cho bài mới.
Ví dụ: khi dạy bài 23 mục III tạo giống bằng phương pháp gây đột biến,
tôi đưa ra hình ảnh về sản phẩm giống dưa không hạt, nho không hạt, bí ngô
khổng lồ....và dưa, nho, bí ngô 2n các e thường thấy. Yêu cầu HS nhận xét sự
6
khác nhau, giống quả mới lạ đó là sản phẩm của quá trình tạo giống bằng
phương pháp nào? Quy trình nó ra sao?
Thay đổi cách giao tiếp
Trong hoạt động dạy học luôn đòi hỏi sự tương tác qua lại thường xuyên
giữa thầy và trò. Một trong những điều kiện để học sinh có thể học sâu là các em
phải có cảm giác thoải mái. Trong quá trình giao tiếp với học sinh, giáo viên cần
có thái độ nhẹ nhàng, vui vẻ, tạo cho học sinh cảm giác được yêu thương, nhưng
khi cần vẫn phải nghiêm khắc để học sinh hiểu được giới hạn của sự thoải mái.
Vì nếu quá dễ dãi, học sinh không kính nể sẽ rất khó dạy; quá nghiêm khắc, học
sinh sẽ bị ức chế khó tiếp thu bài học. Hơn ai hết, giáo viên phải nhận thức được
tầm quan trọng của vấn đề trên đối với công tác giáo dục. Khi cảm thấy mình
là không đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Ví dụ: đối với bài tập chương II có 11 bài tập tự luận, chúng ta không thể
hướng dẫn xong trong 1 tiết, giáo viên phải chon lọc các dạng và thiết kế các
hoạt động phù hợp.
Hoạt động 1: khởi động
-Kiểm tra bài cũ : kiểm tra qua vận dụng làm bài tập
- Giáo viên cho học sinh nghiên cứu tình huống.
Liệt kê các quy luật di truyền đã học vào bảng lai một hay nhiều cặp tính trạng?
Lai một cặp tính trạng
-
Lai nhiều cặp tính trạng
-
Hoạt động 2: hình thành kiến thức
1. GV sử dụng câu hỏi trắc nghiệm SGK yêu cầu HS hoàn thành
Tr¾c nghiÖm: 1A, 2C, 3B, 4C, 5A, 6A, 7C, 8A, 9B.
2. -Phân lớp thành5 nhóm
Nhóm 1 : Gv yêu cầu Hs n/c SGK làm bài tập số 2, 6
Nhóm 2: Gv yêu cầu Hs n/c SGK làm bài tập số 2,6
Nhóm 3 : Gv yêu cầu Hs n/c SGK làm bài tập số 2,6
Nhóm 4: Gv yêu cầu Hs n/c SGK làm bài tập số 2,6
Nhóm 5 : Gv yêu cầu Hs n/c SGK làm bài tập số 2,6
- HS làm việc từng cá nhân : HS tự nghiên cứu các nội dung trong SGK, tài liệu
tham khảo, suy nghỉ và làm bài tập
- Làm việc theo nhóm :
8
hình hạt đậu: 1 Mào hình lá thì bố mẹ có thể là:
Trường hợp 1: AaBb(hạt đào) × aabb(hình lá)
Trường hợp 2: Aabb(Hạt đậu) × aaBb(Hoa hồng).
9
Hoạt động 3: luyện tập, thực hành
- Làm bài số 10 SGK
Hoạt động 4: vận dụng tìm tòi, mở rộng
- Tiếp tục hoàn thiện các bài tập còn lại
- GV hướng dẫn chuẩn bị bài thực hành lai giống
Chuẩn bị đồ dùng dạy học chu đáo cho các tiết dạy
Trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học, giáo viên không thể bỏ
qua vai trò của các đồ dùng, phương tiện dạy học. Việc lựa chọn được những đồ
dùng phù hợp và có chất lượng không chỉ làm tăng hiệu quả của việc khai thác,
phát hiện kiến thức mà còn tạo ra sự thích thú cho học sinh. Ngay từ khâu soạn
bài, giáo viên đã phải xây dựng kèm theo đó là danh sách các đồ dùng dạy học
có liên quan( ngay từ đầu năm học tôi đã lập kế hoạch chi tiết sử dụng ĐDDH
cho cả năm học). Từ danh sách này, giáo viên phải kiểm tra trên thực tế tại các
phòng đồ thiết bị xem các đồ dùng đó có đủ để đáp ứng về số lượng và chất
lượng hay không, nếu không thì phương án giải quyết là gì. Trong nhiều trường
hợp, giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho học sinh chuẩn bị những đồ dùng nhất
định. Khi được tự chuẩn bị, học sinh sẽ phải nghiên cứu tài liệu để hiểu về vấn
đề được giao tức là các em đã được học tập thêm một lần nữa.
Ví dụ: Khi sử dụng tranh hình 56.1, 56.2, 56.3 để khai thác phát hiện
kiến thức mới, giáo viên phải hướng học sinh chỉ ra được: sự giống và khác
nhau trong ba mối quan hệ trên hình. Từ đó, hướng học sinh đến kết luận về
hoạt động mối quan hệ hỗ trợ trong quần xã.
Nhằm tăng cường tính tích cực và trải nghiệm sáng tạo của học sinh, các
phương tiện trực quan và thí nghiệm, thực hành có ý nghĩa rất quan trọng.
với thời gian qui định (theo nhóm 2 học sinh hay nhóm lớn có nhiều học sinh).
Dạy học giải quyết vấn đề: Dạy học giải quyết vấn đề có nghĩa là giáo
viên giới thiệu 1 tình huống có vấn đề hoặc cho 1 bài tập có vấn đề, tạo sự mâu
thuẫn giữa kiến thức cũ với kiến thức mới để kích thích học sinh phải tư duy tìm
ra đáp án, giải thích tại sao lại xảy ra như vậy.
Dạy học theo chủ đề: Dạy học theo chủ đề là quan điểm dạy học gắn lý
thuyết với thực tiễn, trong đó việc dạy học được tổ chức theo một chủ đề phức
hợp gắn với các tình huống thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp. Dạy học theo
11
chủ đề bao gồm dạy học theo chủ đề đơn môn hoặc dạy học theo chủ đề liên
môn.
Dạy học theo chủ đề có nghĩa là giáo viên hệ thống kiến thức lại thành
những chủ đề riêng biệt, các chủ đề này có thể nằm trong chương trình một khối
lớp, hai khối lớp hoặc ba khối lớp. Giáo viên chia nhóm và giao nhiệm vụ cho
mỗi nhóm thảo luận và báo cáo các chủ để của mỗi nhóm, giáo viên nhận xét và
bổ sung kiến thức. Ví dụ sinh học 12, giáo viên có thể sắp xếp mỗi chương là 1
chủ đề để dạy.
Qua việc dạy học theo chủ đề, học sinh có thể vận dụng kiến thức học
được ở 1 môn, 2 môn hoặc 3 môn để giải quyết những tình huống trong thực tiễn
trong cuộc sống.
Ví dụ, giáo viên sắp xếp kiến thức môn Sinh học thành những chủ đề có
liên quan đến những môn học khác (như Vật lí, Hóa học,..) như chủ đề đột biến
nhiễm sắc thể, đột biến gen, gen, prôtêin,....
Dạy học theo dự án: Dạy học theo dự án là hình thức dạy học mà học
sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành các sản phẩm, có sự kết hợp
linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và hoạt động tay chân. Mỗi nhóm cùng nhau
thảo luận tìm kiếm thông tin, hình ảnh, số liệu,… tự lực hoàn thành nhiệm vụ
dụng khác.
Đồng thời, giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy để thiết kế
những hoạt động dạy học phù hợp, có kế hoạch sắp xếp và khai thác hợp lí các
tranh, ảnh, mô hình, băng hình,… sưu tầm được theo trật tự nhất định phù hợp
với nội dung kiến thức từng phần.
Trong quá trình dạy học phải gắn kiến thức với thực tiễn
Sự gần gũi của kiến thức lí thuyết với thực tế giúp học sinh dễ dàng
kiểm chứng, liên hệ đã trở thành một trong những yếu tố thúc đẩy tính tích cực
của học sinh.
Trong quá trình dạy học, ngay từ khâu soạn bài, giáo viên phải luôn đặt
cho mình câu hỏi: Mỗi nội dung kiến thức có trong bài được gắn với những vấn
đề nào trong cuộc sống? Làm thế nào để học sinh nhận thấy sự liên quan đó?
Với bài dạy cụ thể trên lớp, giáo viên tìm cách để cho học sinh kết nối kiến thức
vừa tìm hiểu với chính thực tiễn cuộc sống, nhờ đó một lần nữa khắc sâu kiến
thức của bài học.
13
Ví dụ: khi dạy các bài trong phần sinh thái học. Giáo viên có thể hỏi
học sinh: vì sao trong hồ nuôi cá ta có thể thả các loài cá khác nhau? Vì sao
động vật ở đới lạnh thường có kích thước cơ thể lớn, bộ lông thay đổi theo
mùa...
Đối với hình thức thi trắc nghiệm, với mỗi nội dung cần truyền đạt
giáo viên chọn phương án giảng dạy theo trình tự:
+ Bước 1: Giảng dạy lý thuyết cơ bản theo yêu cầu của bài.
+ Bước 2: Dạy nâng cao, hướng dẫn hình thành, chứng minh các công
thức và lồng ghép bài tập tự luận tương ứng.
+ Bước 3: Giao bài tập trắc nghiệm (từ cơ bản đến nâng cao, thông
thường giao bài tập phù hợp để giáo viên có thể hướng dẫn giải trong một tiết)
cho học sinh tự giải ở nhà.
C. 6 × 106.
D. 3 × 106.
Câu 3: Thể lệch bội nào dưới đây dễ xảy ra hơn?
A. Thể hai (2n + 2).
B. Thể một (2n – 1 - 1).
C. Thể ba (2n + 1)
D. Thể không (2n - 2).
Câu 4: Những tế bào mang bộ NST lệch bội nào sau đây được hình thành trong
nguyên phân?
A. 2n + 1, 2n – 1, 2n + 2, 2n – 2.
B. 2n + 1, 2n – 1, 2n + 2, n – 2.
C. 2n + 1, 2n – 1, 2n + 2, n + 2.
D. 2n + 1, 2n – 1, 2n + 2, n + 1.
Câu 5. Gen B 3600 liên kết hidro và tỉ lệ A: G = 3: 2 bị đột biến ở 1 căp
nuclêôtit thành alen bcó 3599 liên kết hidro nhưng chiều dài không đổi. Số
lượng từng loại nuclêôtit trong gen b là
A. A= T= 600; G = X = 900
B. A= T= 900; G = X = 600
C. A= T= 901; G = X = 599
D. A= T= 601; G = X = 899
* Một phân tử AND dài 1,02mm thực hiện nhân đôi 3 đợt. Sử dụng dự kiện này
để trả lời từ câu 6 đến 11
Câu 6. Số lượng các ADN con được hình thành là
A. 2 phân tử B. 4 phân tử
C. 6 phân tử D. 8 phân tử
Câu 7. Số lượng các ADN con trong cấu trúc còn chứa mạch đơn của ADN mẹ
là
A. 1 phân tử
B. 2 phân tử
C. 3 phân tử D. 4 phân tử
15
Câu 15.Khi có 5 riboxom cùng tham gia trượt trên mARN được phiên mã từ gen
b. Số lượng các chuổi polypeptit được hình thành là
A. 1 polypeptit B. 5 polypeptit
C.10 polypeptit
D. 32 polypeptit
Câu 16. Trình tự các axitamin của các chuổi polypeptit được dịch mã từ gen b
gồm
A. 1 loại
B. 2 loại
C. 5 loại
D 10 loại
Câu 17. Số lượng axitamin tụ do môi trường nội bào cần thiết cung cấp cho
toàn bộ quá trình dịch mã của polyxom là
A.398
B.1995
C.399
D.2000
Câu 18, Số lượng axitamin cấu trúc nên mỗi chuổi polypeptit hoàn chỉnh là
A.1900
B.990
C.399
D.398
19: Một loài sinh vật có bộ nhiễm sắc thể 2n = 24. Có thể dự đoán số lượng
nhiễm sắc thể trong thể tứ nhiễm (2n + 2) của loài này là
A. 48.
B. 28.
C. 1350
D. 900
Câu 23: Khối lượng của một gen là 372600 đvC. Gen phiên mã 5 lần, mỗi bản
phiên mã đều có 8 ribôxom trượt qua, mỗi riboxom đều dịch mã 2 lượt. Số lượt
phân tử tARN tham gia quá trình dịch mã là:
A. 16560
B. 16480
C. 16400
D. 3296
Câu24: Một phân tử mARN có hiệu số giữa G và A bằng 5%, giữa X và U bằng
15% số ribonu của mạch. Tỉ lệ % nu của gen tổng hợp nên mARN trên:
A. A = T = 35%; G=X= 15% B. A=T=15%; G=X= 35%
C. A=T= 30%; G =X = 15%
D. A=T=20%; G=X=30%
Câu 26: Ở một loài thực vật, gen A qui định thân cao là trội hoàn toàn so với
thân thấp do gen a qui định. Cây thân cao 2n + 1 có kiểu gen AAa tự thụ phấn
thì kết quả phân tính ở F1 sẽ là
A. 35 cao: 1 thấp.B. 5 cao: 1 thấp.C. 3 cao: 1 thấp.D. 11 cao: 1 thấp.
16
Câu 27: Cơ thể mà tế bào sinh dưỡng đều thừa 2 nhiễm sắc thể trên 2 cặp tương
đồng được gọi là
A. thể ba.B. thể ba kép. C. thể bốn.
D. thể tứ bội
Câu 28: Ở một loài thực vật, gen A qui định thân cao là trội hoàn toàn so với
thân thấp do gen a qui định. Cho cây thân cao có kiểu gen Aaa giao phấn với
cây thân cao có kiểu gen Aaa thì kết quả phân tính ở F1 sẽ là
A. 35 cao: 1 thấp.B. 5 cao: 1 thấp.C. 3 cao: 1 thấp.D. 11 cao: 1 thấp.
Câu 29: Ở một loài thực vật, gen A qui định thân cao là trội hoàn toàn so với
A. 2/9
B. 1/4
C. 1/8
D. 1/2.
Câu 36: Một tế bào sinh dưỡng của một loài có bộ nhiễm sắc thể kí hiệu:
AaBbDdEe bị rối loạn phân li trong phân bào ở 1 nhiễm sắc thể kép trong cặp
Dd sẽ tạo ra 2 tế bào con có kí hiệu nhiễm sắc thể là:
A. AaBbDDdEe và AaBbddEe.
B. AaBbDddEe và AaBbDEe.
C. AaBbDDddEe và AaBbEe.
D. AaBbDddEe và AaBbddEe.
Câu 37: Xét 2 cặp gen: cặp gen Aa nằm trên cặp NST số 2 và Bb nằm trên cặp
NST số 5. Một tế bào sinh tinh trùng có kiểu gen AaBb khi giảm phân, cặp NST
số 2 không phân li ở kì sau I trong giảm phân thì tế bào này có thể sinh ra những
loại giao tử nào?
A. AaBb, O. B. AaB, b. C. AaB, Aab, B, b.
D. AaB, Aab, O.
Dành nhiều thời gian cho công tác ôn tập ở cuối năm (trước khi dự thi
THPT QG). Việc tự học của học sinh trong thời gian này quan trọng hơn bao giờ
hết, giáo viên cần giao nhiệm vụ trọng tâm và phù hợp với nhóm đối tượng.
17
Cần thiết phải có bộ đề thi thử phù hợp với đề minh họa của Bộ GD, đề
phải được xây dựng, chuẩn hóa và bổ sung cập nhật hằng năm. Với bản thân tôi
đây cũng là một trong những yếu tố quan trong quyết định kết quả ôn thi.
+ Khi bắt đầu luyện đề, với 3 đề đầu tiên giáo viên cần sửa sai kịp thời
cho học sinh (thậm chí cần xem từng học sinh đề xem học sinh nào yếu phần
kiến thức nào để động viên các em về nhà tự ôn tập lại).
+ Trong mỗi đề thi yêu cầu đủ dạng toán theo đề thi hằng năm của Bộ
Dựa vào đề thi minh họa cũng có thể thấy, đề thi gồm: lý thuyết chiếm 62,5%,
bài tập chiếm 37,5% trong đó câu hỏi khó chỉ chiếm khoảng 10% và không có
câu hỏi quá khó.
Kết hợp giữa học chính khoá và học chuyên đề (Học thêm, phụ đạo)
Bộ GD&ĐT đã cho phép các trường tổ chức học thêm để nâng câo chất
lương dạy học các môn nói chung và môn Sinh học nói riêng. Vì thế khi tổ chức
18
các lớp học chuyên đề giáo viên phải biết lựa chon những kiến thức cơ bản nhất
để dạy có hiệu quả và gây sự hứng thú học tập bộ môn.
Khi dạy học cần quan tâm nhiều hơn đến việc kiểm tra, đánh giá vì dạy
chuyên đề có nhhiều thời gian so với dạy chính khoá.
Ở mỗi khối lớp, cần chia theo các nội dung lớp để giảng dạy cho có hệ
thống
VD: chuyên đề cơ chế di truyền và biến dị, các quy luật di truyền, di
truyền quần thể, di truyền người...
Phối hợp chặt chẽ với, nhà trường, với GVCN
Thông báo cho Ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm về tình hình học tập
chung của học sinh, nhất là những học sinh chưa chịu khó, chưa tích cực đề xuất
các hình thức khen thưởng, kỉ luật kịp thời.
Kết hợp gia đình học sinh
Phối hợp với gia đình để nâng cao chất lượng dạy - học để gia đình đôn
đốc nhắc nhở, kiểm tra học sinh giúp học sinh chăm chỉ tích cực hơn nhằm nâng
cao chất lượng học tập bộ môn. Có thể đề nghị nhà trường tổ chức họp phụ
huynh từng lớp hoặc theo đối tượng học sinh (Trung bình, Yếu) để thông báo
với gia đinh, bàn với gia đình những biện pháp nâng cao chất lượng học tập.
2.2.2. Đối với học sinh
Sinh học là một trong những môn học sinh tự chọn thi THPT QG. Học
Kém
0
46.67%
42
93.33%
3
6.67%
5
11.63%
11
25.58%
15
34.88%
11
25.58%
37
86.05%
Vì lợi ích trăm năm trồng người”
Qua việc vận dụng đề tài này vào thực tiễn rất nhiều học sinh tỏ ra đam
mê, yêu thích môn học, đặc biệt nhiều học sinh có sự chuyển biến thật sự trong
học tập, có tinh thần tự giác, tích cực học tập. Kết quả đạt được là mục tiêu của
lãnh đạo nhà trường và của giáo viên, học sinh lẫn phụ huynh học sinh. Bởi
chính kết quả ấy thể hiện rõ khả năng học tập, lĩnh hội và vận dụng kiến thức
của học sinh; thể hiện công sức đầu tư của thầy cô giáo, cũng qua đó thể hiện
khả năng vượt trội của một số học sinh trong từng bộ môn, từ đó tài năng của
học sinh có điều kiện để phát triển trong tương lai qua từng lĩnh vực mà các em
yêu thích .
3.2. Kiến nghị, đề xuất:
Hiện nay giáo viên ở các trường THPT rất tích cực trong công tác giảng
dạy, được xem như là bước đi quan trọng nhằm thúc đẩy phong trào thi đua dạy
tốt, học tốt trong mỗi nhà trường, khơi dậy truyền thống hiếu học và phát huy
tiềm năng phát triển trí tuệ của mỗi người và tạo nên nhân tài phục vụ cho sự
nghiệp công nghiệp hóa, xây dựng đất nước.
Tuy nhiên, việc nâng cao chất lượng bộ môn được đánh gia qua kì thi
hiện nay cũng gặp phải những khó khăn nhất định như điều kiện dạy học còn
nhiều hạn chế, do lượng kiến thức nhiều song thời gian cho môn sinh không
nhiều, đa số học sinh ko đăng kí học thêm. Vì vậy tôi xin có một vài đề xuất nhỏ
như sau:
Đối với ngành giáo dục:
Cần nâng cao chất lượng GV toàn diện, đẩy mạnh các hoạt động nội
khoá, ngoại khóa làm cơ sở vững chắc cho việc áp dụng các biện pháp có hiệu
quả. Tăng thời lượng các tiết thực hành, thực tế gắn liền với thiên nhiên. Rút gọn
lượng kiến thức trong mỗi bài học, gắn liền với vận dụng.
Đối với nhà trường:
21
Bộ Giáo dục – Đào tạo (2012), “Sách giáo viên Sinh học 12”, NXB Giáo
dục
4.
Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn sinh học( Bộ giáo dục – Vũ Đức Lưu chủ
biên).
5.
Tài liệu những điều giáo viên cần biết để giáo dục kỹ năng sống
23
ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TRƯỜNG
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
XẾP LOẠI : ...................................................
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
24
MỤC LỤC
25