VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LƯƠNG PHƯƠNG QUÂN
VẤN ĐỀ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ
CHUYỂN HÓA” THEO NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4, KHÓA
XII TẠI QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI - 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LƯƠNG PHƯƠNG QUÂN
VẤN ĐỀ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ
CHUYỂN HÓA” THEO NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4, KHÓA
XII TẠI QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Ngành: Chính trị học
Mã số: 8310201
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS VŨ ĐỨC KHIỂN
HÀ NỘI - 2019
trong gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ tôi có thể
hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và nghiên cứu trong suốt thời gian qua./.
Tác giả luận văn
Lương Phương Quân
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: NHẬN THỨC, PHƯƠNG PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG,
CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY .................................................................................................................. 8
1.1. Nhận thức về công tác đấu tranh phòng, chống “Tự diễn biến”, “Tự
chuyển hóa” ở Việt Nam hiện nay. ............................................................... 8
1.2. Phương pháp đấu tranh phòng, chống “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa”
ở Việt Nam hiện nay ................................................................................... 17
Chương 2: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI THỰC HIỆN VẤN ĐỀ ĐẤU
TRANH PHÒNG, CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”
THEO NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4, KHÓA XII TẠI QUẬN 11,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY ............................................... 33
2.1. Đặc điểm, tình hình .............................................................................. 33
2.2. Việc ban hành các văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện ................. 34
2.3. Công tác phổ biến, quán triệt các văn bản có liên quan....................... 36
2.4. Kết quả thực hiện ................................................................................. 38
2.5. Nhận định – Đánh giá .......................................................................... 46
Chương 3: DỰ BÁO TÌNH HÌNH VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CỤ
THỂ GÓP PHẦN THÚC ĐẨY CUỘC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG
“TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TẠI QUẬN 11 ....................... 52
3.1. Dự báo tình hình................................................................................... 52
3.2. Những giải pháp thực hiện cụ thể góp phần thúc đẩy cuộc đấu tranh phòng,
không ít cán bộ, đảng viên của Đảng hiện nay.
Nguyên nhân sâu xa và chủ yếu nhất của “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” là do bản thân một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện,
1
giảm sút ý chí phấu đấu; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang,
dao động trước những tác động từ bên ngoài. Sự chống phá quyết liệt, nhất là
hoạt động “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch cũng là một tác nhân
trực tiếp thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ ta. Từ thực
tiễn cho thấy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đang diễn ra rất phức tạp, khó
nhận biết, không dễ đấu tranh và khắc phục; nếu không có giải pháp ngăn
chặn sẽ gây nguy hại đến sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự
quản lý của nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Xác định rõ mức độ nguy hiểm, hậu quả khôn lường của “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” do tác động bởi mặt trái nền kinh tế thị trường, hội nhập
quốc tế, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch;
phần lớn tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận diện, ngăn chặn,
đấu tranh, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Từ đó, Đảng Cộng
sản Việt Nam xác định: Chủ động đấu tranh, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” là việc làm thường xuyên, liên tục, kiên quyết và toàn diện góp
phần đầy lùi nguy cơ tồn vong của Đảng, bảo đảm cho Đảng thực sự trong
sạch vững mạnh về mọi mặt: tư tưởng, chính trị, tổ chức...
Xuất phát từ thực tế trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Vấn đề đấu tranh
phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo Nghị quyết Trung
ương 4, Khóa XII tại Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” làm đề
tài luận văn thạc sĩ chính trị học với mong muốn đánh giá thực trạng, làm rõ
nguyên nhân và đề ra các giải pháp thực hiện góp phần nâng cao hiệu quả
trong việc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên địa
bàn Quận 11 trong giai đoạn hiện nay.
- Trong bài viết của tác giả Phùng Ngọc Bảo, Phạm Nguyễn Ngọc Anh
trên tạp chí Cộng sản (2017) về vấn đề ““Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về
tư tưởng trong cán bộ, đảng viên; nhận diện và phòng, chống” [1]. Tác giả đã
3
nhận diện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng; đánh giá những hạn
chế, yếu kém, tìm ra nguyên nhân trong quá trình thực hiện “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” và đề ra giải pháp thiết thực để công tác phòng, chống “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên đạt
được hiệu quả cao.
- Phan Huy Hùng (2019), “Nhận diện và phòng chống “tự diễn
biến”,”tự chuyển hóa” trước thềm Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt
Nam” [28]. Tác giả đã chỉ rõ nguyên nhân, lý do vì sao Trung ương phải ban
hành Nghị quyết Trung ương 4; dự báo, tình hình những diễn biến trước sự
kiện Đại hội XIII của Đảng tới đây (2021) là một trọng điểm. Theo đó, tác giả
đã đề ra các giải pháp đồng bộ trong công tác phòng, chống “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” vừa là yêu cầu, vừa là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng,
toàn dân và toàn quân trước thềm Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Một số bài viết vừa nêu trên cho thấy vấn đề đấu tranh, phòng, chống
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều tác
giả; song song đó cũng còn nhiều bài viết, công trình nghiên cứu có liên quan
như:
Quốc Bình (2018) “Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” [2],
Phiếm Đình (2018) “Cảnh giác với những kẻ lợi dụng lòng yêu nước của
nhân dân để kích động chống phá chế độ” [11], Phạm Ngọc Hiền (2014)
Nhận thức và phòng, chống “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa” [12], Vũ Văn
Hiền (2013) “Quyền lực của nhân dân” [13], Dương Quang Hiển (2018)
“Phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu
hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên hiện nay” [14],
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” ở Quận 11 hiện nay; nhận diện thực trạng và các nhân tố tác
5
động đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trên cơ sở đó, luận văn dự báo,
nhận định xu hướng, đề ra mục tiêu, quan điểm và đề xuất giải pháp chủ yếu
góp phần thúc đẩy đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
trên địa bàn quận trong thời gian tới đạt hiệu quả cao nhất.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về vấn đề phòng, chống “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” ở Việt Nam và trên địa bàn Quận 11 hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về vấn đề đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” trên địa bàn Quận 11 từ năm 2017 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận, quan điểm của Đảng, Nhà
nước ta nói chung và Đảng bộ, cơ quan nhà nước quận 11 nói riêng về vấn đề
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu được tác giả thực hiện nhiều phương pháp nghiên
cứu khác nhau như: phương pháp luận nghiên cứu khoa học, phân tích, tổng
hợp, lôgic, chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các phương pháp
khoa học cụ thể của khoa Chính trị học, Xã hội học, Sử học...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận về
“TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Nhận thức về công tác đấu tranh phòng, chống “Tự diễn biến”,
“Tự chuyển hóa” ở Việt Nam hiện nay.
1.1.1. Nhận diện và phòng, chống “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa”
của Đảng Cộng sản Việt Nam:
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không phải bây giờ mới có, nó đã xuất
hiện ngay từ cuối thế kỷ thứ XIX trong Phong trào Cộng sản Quốc tế và điển
hình là ở Liên Xô và các nước Xã hội Chủ nghĩa Đông Âu vào thập niên 90
của thế kỷ thứ XX. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là hai khái niệm, hai quá
trình có quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau. Trong đó, “tự diễn
biến” là cơ sở, tiền đề dẫn tới “tự chuyển hóa” và ngược lại, “tự chuyển hóa”
sẽ thúc đẩy quá trình “tự diễn biến” nhanh hơn, toàn diện hơn. “Tự diễn biến”
được hiểu là sự tự thân vận động về tư tưởng, lập trường theo hướng tiêu cực
do sự tác động, can thiệp của các thế lực thù địch dẫn đến làm thoái hóa, biến
chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong tổ chức Đảng, cơ quan Nhà
nước. Còn “tự chuyển hóa” là xu hướng thay đổi về chất, được biểu hiện ở lập
trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị của bộ phận cán bộ, đảng viên hoặc của cơ
quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, từ khẳng định chế độ xã hội chủ nghĩa
sang lựa chọn chế độ tư bản chủ nghĩa. Như vậy, ở Việt Nam trước sự chống
phá quyết liệt, nham hiểm của các thế lực thù địch thì “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” có thể diễn ra trong nội bộ Đảng, chính quyền Nhà nước và
trong xã hội, nhưng chủ yếu và nguy hiểm nhất là trong đội ngũ cán bộ, đảng
viên cấp cao, cán bộ chiến lược, nhất là người đứng đầu các cơ quan trọng
yếu của Đảng và Nhà nước. Điều đáng nói là, cán bộ, đảng viên có vị trí càng
cao thì hậu quả của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” càng lớn, thậm chí có thể
8
làm tan rã một đảng, sụp đổ cả một chế độ chính trị của quốc gia. Thực tiễn
cho thấy, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thường có diễn biến phức tạp, trên
đảng viên là quá trình tự thay đổi tư duy, nhận thức của cán bộ, đảng viên
theo chiều hướng tích cực sang tiêu cực, từ đúng thành sai, từ tin tưởng đến
hoài nghi, phủ định tính đúng đắn, tính khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp
luật của Nhà nước để chuyển sang sùng bái, tin theo các luận điểm tư sản, sai
trái, phản động.
1.1.2. Nguyên nhân:
Từ những vấn đề trên cơ sở lý luận, thực tiễn nêu trên chúng ta có thể
nhận thấy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên trong hệ
thống chính trị có nhiều nguyên nhân rất phức tạp về mặt khách quan và chủ
quan như sau:
Thứ nhất, là do tác động của chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ
nghĩa đế quốc, các thế lực thù địch trên các lĩnh vực về kinh tế, tư tưởng,
chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh với nhiều thủ đoạn thâm độc,
nguy hiểm nhằm làm suy thoái, biến chất, thoái hóa của cán bộ, đảng viên về
tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống.
Thứ hai, là do tác động mặt trái của nền thị trường, hội nhập kinh tế,
quốc tế; những thử thách đó đặt ra đối với cách mạng nước ta là không nhỏ;
đồng thời nền kinh tế của nước ta còn kém phát triển; đời sống nhân dân nói
chung và đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng còn gặp nhiều khó khăn; cùng
với những tiêu cực, tệ nạn xã hội, sự phân hóa giàu nghèo..v..v đang hàng
ngày, hàng giờ tác động mạnh mẽ đến nhận thức, suy nghĩ, hành động của đội
ngũ cán bộ, đảng viên; từ những nguyên nhân đó dễ dẫn đến sự “tự diễn
biến”, “tự chuyển hoá” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.
10
Thứ ba, là do tác động của vấn đề bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia,
biển đảo; Trong những năm qua, từ khi Trung Quốc tăng cường thái độ, hành
trong đội ngũ văn sĩ, trí thức. Đối với mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên về mặt
tư tưởng đó là những sai lầm, ngộ nhận về chân lý và lẽ phải..v..v.. dựa trên
những quan niệm chủ quan hoặc chủ nghĩa kinh nghiệm cá nhân. Căn cơ
nguyên nhân sâu xa của hành vi “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” về tư tưởng
chính trị là tư duy sai lầm, ngộ nhận: trái thành phải, sai thành đúng, ác thành
thiện, tốt thành xấu; hại dân, hại nước thành “ích nước lợi dân”..v..v..; mặt
khác là do cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, học tập để chủ nghĩa
cá nhân chi phối, phát triển làm xói mòn bản chất tốt đẹp của những người
đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
1.1.3. Một số hình thức và biện pháp của các thế lực thù địch sử
dụng để thúc đẩy tiến hành “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ
Đảng ta:
Các thế lực thù địch sử dụng mọi hình thức, biện pháp để thúc đẩy “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, tập trung
những hình thức chúng cho là khách quan, khoa học như: Hội thảo khoa học,
diễn đàn Quốc tế, phát tán tài liệu về Việt Nam; phổ biến thông tin về dân chủ
và nhân quyền thông qua hình thức “phiếu cung cấp thông tin”, thư điện tử và
các trang mạng xã hội (Internet, Facebook..); “viết thư góp ý”, “hồi ký”;
xuyên tạc các bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và của cán
bộ cách mạng lão thành...
Tăng cường sự chống phá, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội
bộ ta về vấn đề dân tộc và tôn giáo, các thế lực thù địch lập ra ở hải ngoại một
số tổ chức phản động và đều có kẻ đứng đầu như: “Việt Nam canh tân cách
mạng đảng”, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, “Triều Đại Việt”, “Tổ
chức Tôn giáo – Chính trị”, “Trung ương bảo tồn văn hóa người H’mông”,
12
“Trung tâm chim én đưa tin”... Thông qua những tổ chức phản động đó, các
thế lực thù địch từ nước ngoài đã chuyển về Việt Nam nhiều tài liệu có nội
“Tự diễn biến, tự chuyển hóa” của cá nhân nếu không ngăn chặn kịp
thời sẽ rất nguy hiểm dẫn đến tổ chức bị suy thoái và tự tan rã. Khi mức độ
diễn ra ở tầm vĩ mô dẫn đến sự chuyển hóa làm chệch hướng xã hội chủ
nghĩa. “Tự diễn biến” xảy ra ở 2 phạm vi: đối với tổ chức và đối với cá nhân.
“Tự diễn biến” ở phạm vi tổ chức là có những thay đổi ở tầm quản lý
vĩ mô về đường lối, chủ trương, pháp luật, làm thay đổi bản chất chính trị,
thậm chí làm suy yếu và tan rã tổ chức đó.
“Tự diễn biến” đối với cá nhân là sự thay đổi về nhận thức chính trị xã hội, thay đổi về quan điểm, tư tưởng của cán bộ, đảng viên theo chiều
hướng tiêu cực, xấu đi; tự bản thân cán bộ, đảng viên nhận thức chính trị và
hành động xa rời, thậm chí đi ngược lại chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm, tư tưởng của Đảng. ”Tự diễn biến” của cá nhân có thể
dẫn đến sự thay đổi của tập thể, tổ chức. ”Tự diễn biến” của tổ chức chi phối,
áp đặt, điều khiển đối với cá nhân trong tổ chức đó. ”Tự diễn biến” do nhiều
nguyên nhân khác nhau, nhưng ở đây chủ yếu nói đến nguyên nhân chủ quan
của cán bộ, đảng viên như: lập trường tư tưởng không vững vàng, thiếu bản
lĩnh chính trị, hoang mang, dao động trước tác động của các yếu tố bên ngoài;
thiếu tu dưỡng rèn luyện bản thân thường xuyên; không chủ động học tập,
nghiên cứu sâu sắc chủ nghĩa Mác Lênin, học tập và làm theo tư tưởng, đạo
đức, phong cách Hồ Chí Minh...
“Tự chuyển hóa” là hậu quả tất yếu của quá trình ”tự diễn biến” nếu
không được phát hiện và ngăn chặn kịp thời. Đó là thời điểm đã diễn ra sự
chuyển hóa, thay đổi về bản chất. Biểu hiện chuyển hóa chính trị ở Việt Nam
xuất hiện từ 2 hướng: Một là âm mưu và hoạt động tác động chuyển hóa
chính trị của các thế lực thù địch; mặt khác, đó là sự ”tự chuyển hóa” chính
14
trị của nội bộ. Tuy nhiên 2 hướng này có quan hệ chặt chẽ, biện chứng với
nhau. Yếu tố bên ngoài thúc đẩy tạo điều kiện cho yếu tố bên trong; yếu tố
bên trong tạo sự chú ý và điều kiện thuận lợi cho yếu tố bên ngoài. Trong
biến để tập hợp lực lượng chống đối.
Mặt khác, yếu tố ”tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ được thể hiện
cụ thể là: Xuất hiện các quan điểm, tư tưởng lệch lạc, trái chiều trong nội bộ;
sự mất lòng tin đối với sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; sự
xuống cấp về đạo đức, thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên
phai nhạt lý tưởng cách mạng, mơ hồ, hoài nghi về con đường đi lên Chủ
nghĩa xã hội, muốn theo hướng phát triển Tư bản chủ nghĩa; công tác quản lý
cán bộ, đảng viên còn nhiều sơ hở thiếu sót, tình trạng mất đoàn kết nội bộ
trong các cơ quan, tổ chức; một bộ phận trong đội ngũ trí thức, luật sư, báo
chí, văn nghệ sỹ bộc lộ tư tưởng muốn thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng.
Đại hội XII của Đảng đã nhận định: ”Bốn nguy cơ mà Hội nghị Đại biểu toàn
quốc giữa nhiệm kỳ, khóa VII của Đảng (năm 1999) nêu lên vẫn tồn tại, có
mặt diễn biến phức tạp, như tham nhũng lãng phí, “diễn biến hòa bình” của
các thế lực thù địch...Đại hội XII của Đảng dự báo “Bốn nguy cơ mà Đảng ta
đã chỉ ra vẫn tồn tại nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các
nước trong khu vực và trên thế giới. Nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các
thế lực thù địch nhằm chống phá Nhà nước ta; tình trạng suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức lối sống; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và tệ quan
liêu tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp; khoảng cách giàu nghèo; phân
hóa xã hội ngày càng tăng; đạo đức xã hội có mặt xuống cấp đáng lo ngại,
làm giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng và Nhà
nước” [9, tr.74].
16
1.1.4.2. Bản chất của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ
đảng viên hiện nay
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên là sự thay đổi
tin của nhân dân đối với Đảng. Đảng ta xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà
nước và xã hội. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ và vị thế như ngày
nay.
Nghị quyết cũng đã đánh giá những ưu điểm trong thực hiện Nghị
quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện
nay”: Đã tạo được những chuyển biến tích cực trong hệ thống chính trị. Quá
trình tự phê bình và phê bình đã góp phần đấu tranh với những suy nghĩ và
hành vi sai trái nhằm cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, từng bước ngăn chặn, đẩy
lùi tham nhũng, tiêu cực. Nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp đã
được phát hiện và tập trung chỉ đạo điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh,
được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình
trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đạt được một số kết quả; tích
cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng đã chỉ ra công tác xây dựng Đảng còn không ít
hạn chế, khuyết điểm: Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nghiên cứu, tổng
kết thực tiễn, giảng dạy và học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh chưa đáp ứng yêu cầu. Nội dung sinh hoạt đảng ở nhiều nơi còn đơn
điệu, hình thức, hiệu quả chưa cao. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của
không ít tổ chức đảng còn thấp, thậm chí có nơi mất sức chiến đấu. Công tác
tổ chức, cán bộ và quản lý cán bộ, đảng viên còn yếu kém. Nhiều cán bộ,
đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương
mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở.
Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng chưa đủ sức răn đe, ngăn chặn,
đẩy lùi sự suy thoái.
18
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, một số việc chưa đạt mục
tiêu, yêu cầu đề ra. Tự phê bình và phê bình nhiều nơi mang tính hình thức;
vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm; một số cán bộ, đảng viên
chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn,
thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc
lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân. Củng
cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng [10]
1.2.2. Tình hình của Đảng Cộng sản Việt Nam về đấu tranh phòng,
chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng ta hiện nay
Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua gần 90 năm chiến đấu, xây dựng,
phấn đấu, trưởng thành; vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách mà vẫn luôn
giữ kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục
tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; luôn giữ vững bản lĩnh
chính trị; bản chất cách mạng khoa học; gắn bó mật thiết với nhân dân;
thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn Đảng và phát triển ngày càng lớn mạnh.
Với bản lĩnh là một tổ chức đảng chân chính; đảng ta đã đúng đắn, sáng suốt
lãnh đạo, tổ chức và phát huy sức mạnh to lớn của toàn Đảng và cả dân tộc;
giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác trong sự nghiệp cách mạng và
đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử to lớn, thực hiện thắng lợi nhiệm
vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc góp phần giữ vững ổn định chính trị; phát
triển kinh tế, xã hội; đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước; tăng cường quốc phòng, an ninh; mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao
vị thế của nước ta trên trường quốc tế và củng cố niềm tin của nhân dân đối
với tổ chức Đảng và cơ quan Nhà nước. Vì vậy, mà ngày nay đất nước ta có
được cơ đồ và vị thế trên trường quốc tế. Đó là kết quả những nổ lực phấn đấu
20