ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ THỊ HÒA
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CHÈ
TẠI HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ THỊ HÒA
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CHÈ
TẠI HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60-62-01-15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN VĂN ĐIỀN
THÁI NGUYÊN - 2018
đồng chí tại địa điểm nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Huyện
Ủy, UBND và các phòng ban chuyên môn của huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đã
tạo điều kiện mọi mặt để tôi hoàn thành nghiên cứu này.
Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè và gia đình đã giúp tôi
thực hiện luận văn này.
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Vũ Thị Hòa
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... ii
MỤC LỤC ............................................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .................................................................... v
DANH MỤC BẢNG BIỂU ................................................................................. vi
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ......................................................................... 3
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn........................................................................... 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................ 5
1.1. Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất cây chè .................................................. 5
1.1.1. Ý nghĩa của việc phát triển sản xuất cây chè .............................................. 5
1.1.2. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất chè .............................................. 10
1.2. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế ................................................................. 17
1.2.1. Quan điểm về hiệu quả kinh tế.................................................................. 17
1.2.2. Hiệu quả kinh tế và tiêu chuẩn đánh giá ................................................... 21
3.3. Một số giải pháp phát triển sản xuất chè cho huyện Phù Ninh - tỉnh
Phú Thọ ..................................................................................................... 68
3.3.1. Phương hướng phát triển cây chè giai đoạn 2017 - 2020 ......................... 68
3.3.2. Các giải pháp phát triển cây chè huyện Phù Ninh .................................... 70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................... 76
PHỤ LỤC
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT
Chữ viết tắt
Ý nghĩa
1
ĐVT
Đơn vị tính
2
PTNT
Phát triển nông thôn
3
VA/IC
Giá trị gia tăng / chi phí trung gian
9
GO/lđ
Tổng giá trị sản xuất / lao động
10
VA/lđ
Giá trị gia tăng / lao động
vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1.
Cơ cấu kinh tế huyện Phù Ninh giai đoạn 2014-2016 .................. 49
Bảng 3.2.
Thu, chi ngân sách trên địa bàn Huyện .................................................... 50
Bảng 3.3.
Bảng 3.12. Số lượt người lao động tham gia đào tạo ........................................ 61
Bảng 3.13. Phương tiện sản xuất chè của các hộ .............................................. 62
Bảng 3.14. Tình hình đất sản xuất nông nghiệp trung bình một hộ .................. 63
Bảng 3.15. Giá trị sản xuất chè của hộ theo giống chè ................................... 63
Bảng 3.16. Chi phí sản xuất bình quân trên 1 ha chè kinh doanh ..................... 65
Bảng 3.17. Kết quả sản xuất chè của hộ............................................................ 66
Bảng 3.18. Các khó khăn hạn chế của hộ trồng chè ......................................... 67
Bảng 3.19. Kế hoạch phát triển cây chè huyện Phù Ninh giai đoạn 2017 -2020 .... 68
Bảng 3.20. Kế hoạch trồng lại chè giai đoạn 2017 - 2020 .......................................... 68
Bảng 3.21. Kinh phí hỗ trợ phát triển chè tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2017 -2020......... 69
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây chè - (Camellia sinensis) là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới và
Á nhiệt đới, sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng và ẩm.
Tuy nhiên, nhờ sự phát triển của khoa học kĩ thuật, cây chè đã được trồng ở
cả những nơi khá xa với nguyên sản của nó. Trên thế giới, cây chè phân bố
từ 42 vĩ độ Bắc đến 27 vĩ độ Nam và tập trung chủ yếu ở khu vực từ 16 vĩ
độ Bắc đến 20 vĩ độ Nam.
Chè là cây công nghiệp dài ngày, được trồng khá phổ biến trên thế
giới, tiêu biểu là một số quốc gia thuộc khu vực Châu á như: Trung Quốc,
Nhật Bản, Việt Nam... Nước chè là thức uống tốt, rẻ tiền hơn cafê, ca cao,
có tác dụng giải khát, chống lạnh, khắc phục sự mệt mỏi của cơ thể, kích
thích hoạt động của hệ thần kinh, hệ tiêu hoá, chữa được một số bệnh
đường ruột. Một giá trị đặc biệt của chè được phát hiện gần đây là tác dụng
chống phóng xạ, điều này đã được các nhà khoa học Nhật bản thông báo
qua việc chứng minh chè có tác dụng chống được chất Stronti (Sr) 90 là
một đồng vị phóng xạ rất nguy hiểm, qua việc giám sát thống kê nhận thấy
kê huyện Phù Ninh, 2016) [4]. Tuy nhiên, so với tiềm năng của địa
phương, thì việc sản xuất, chế biến kinh doanh chè còn bộc lộ nhiều tồn tại,
yếu kém. Một số những điểm yếu kém như: Chậm phát hiện, thiếu giải
pháp kiên quyết, đồng thời để giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong
chương trình trồng, chăm sóc, chế biến, tiêu thụ chè. Ngoài ra, hầu hết chè
của Phú Thọ phải bán qua nhiều thị trường, nhiều cấp nên lợi nhuận thấp;
chất lượng tốt, xấu lẫn lộn khó kiểm soát.
Phù Ninh là một trong những huyện trọng điểm chè của tỉnh. Theo
đánh giá sơ bộ về hiệu quả kinh tế của huyện thì cây chè là cây cho thu
nhập tương đối cao và ổn định so với các cây trồng khác… Vậy tại sao diện
3
tích trồng chè chưa được mở rộng như tiềm năng đất đai vốn có, tại sao
năng suất, chất lượng và giá cả chè của huyện còn thấp so với tiềm năng
thế mạnh của vùng. Mặt khác phương thức sản xuất của người dân còn
mang tính nhỏ lẻ thủ công, dựa vào kinh nghiệm là chính. Việc sử dụng
phân bón chưa hiệu quả, cơ cấu giống còn nghèo nàn chủ yếu là giống chè
trồng bằng hạt năng suất, chất lượng còn thấp, nhiều vùng trong huyện chè
ngày một xuống cấp đang rất cần có sự quan tâm của các cấp chính quyền
có liên quan.
Trước những thực tế đó, đòi hỏi phải có sự đánh giá đúng thực trạng, thấy
rõ được các tồn tại để từ đó đề ra các giải pháp phát triển sản xuất - chế biến tiêu thụ chè của vùng, vì vậy việc nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp
nâng cao hiệu quả sản xuất chè tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ” sẽ góp
phần giải quyết các vấn đề trên.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hoá lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất cây chè, cơ sở
lý luận về hiệu quả kinh tế.
- Nghiên cứu thực trạng phát triển, sản xuất chè ở huyện Phù Ninh, từ
đó xác định những điểm mạnh và khó khăn trong sản xuất chè của các hộ trên
là một loại cây công nghiệp, đưa vào sản xuất đại trà với quy mô lớn, khi các
đồn điền chè đầu tiên do người Pháp xây dựng ở Việt Nam. Ngành chè đến
nay đã có lịch sử phát triển gần 90 năm (1918-2007) (Lê Tất Khương, 2000)
[3]. Được coi là một trong những ngành sản xuất có mầm mống công nghiệp
sớm nhất ở nước ta trong số các ngành chế biến công nghiệp dài ngày. Trải
qua gần một thế kỷ tồn tại và phát triển ngành chè đã trở thành ngành sản xuất
rất quan trọng, ta có thể chia thành một số giai đoàn chủ yếu sau:
* Giai đoạn trước năm 1954: Do thấy điều kiện để phát triển sản xuất
chè có nhiều thuận lợi, người Pháp đã có chủ trương xây dựng một số đồn
điền sản xuất chè. Năm 1990 một nhà tư sản người Pháp đã mở một số đồn
điền chè với diện tích 6 ha ở Sông Thao - Phú Thọ ((Lê Tất Khương, 2000)
[3]; sau đó được phát triển ra các địa phương khác. Trong giai đoạn này chè
phát triển rải rác ở các tỉnh miền núi trung du Bắc Bộ, Nam Trung Bộ và Tây
Nguyên. Do canh tác quảng canh nên năng suất sản lượng còn thấp, chủ yếu
là tự sản xuất và tiêu thụ.
* Giai đoạn từ 1954-1975: Năm 1954 hoà bình được lập lại, miền Bắc
đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, hàng loạt các nông trường quốc doanh được
thành lập. Diện tích trồng chè ở miền Bắc đạt 28,1 vạn ha. Đặc biệt chú ý ở
giai đoạn này là liên hiệp chè lần đầu tiên được thành lập ở nước ta vào năm
1974, đánh dấu một bước phát triển quan trọng của ngành chè. Thời kỳ này
6
công nghiệp chế biến bắt đầu phát triển, nhiều nhà máy chè đen thiết bị của
Liên Xô, có công suất từ 14- 40 tấn chè búp tươi/ngày, nhà máy chè xanh
thiết bị của Liên Xô, Trung Quốc công suất 6-12 tấn chè búp tươi/ngày đã
được xây dựng. Diện tích chè cả nước năm 1955 là 10.600 ha, năng suất 4,9
tạ/ha, sản lượng chè khô 5.194 tấn; năm 1960 diện tích là 17.200 ha, năng
suất 4,2 tạ ha, sản lượng 7.224 tấn; năm 1971 diện tích đã lên tới 31.300 ha,
năng suất đạt 4,9 tạ ha, sản lượng là 15.337 tấn (Lê Tất Khương, 2000) [3].
khẩu, trong đó Tổng Công ty chè Việt Nam chiếm 46,5% về khối lượng và
67,23% về tổng giá trị trên tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu. Tỷ trọng các thị
trường trong tổng số 42.000 tấn xuất khẩu chia ra như sau: Châu Á và Trung
Đông là 36.226 tấn bằng 86,25%. Trong đó Irắc là lớn nhất với số lượng
16.412 tấn, sau đó là Đài Loan 9.071tấn, Singapo 1.617 tấn. Châu Âu là 5.044
tấn bằng 12%, còn lại là Hoa Kỳ, Canada, Châu Úc, Châu Phi và một số nước
khác (Lê Tất Khương, 2000) [3]. Qua đây cho thấy ở Việt Nam cây chè có
một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nó thuộc nhóm ngành kinh
tế mũi nhọn. Do đó phát triển trồng chè ở nước ta không những phát huy được
vai trò kinh tế của hộ gia đình, lợi thế của từng vùng, từng đơn vị để áp dụng
các tiến bộ về giống, kỹ thuật canh tác chế biến mà còn góp phần to lớn trong
việc sử dụng có hiệu quả đất đai, lao động nông nghiệp, nông thôn, thúc đẩy
sản xuất phát triển. Góp phần nâng cao đới sống vật chất, văn hoá tinh thần
người dân. Chính điều đó càng khẳng định việc đầu tư phát triển cho ngành
chè là một hướng đi đúng của các địa phương, các công ty, các cơ sở sản xuất
kinh doanh trong cả nước.
Các vùng Chè ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng gió mùa Đông nam á, cái nôi của cây chè.
- Khí hậu đất đai rất thích hợp với sinh trưởng cây chè. Lượng nước
mưa dồi dào 1700-2000 mm/năm. nhiệt độ 21-22,6 0C, ẩm độ không khí 8085 %. Đất đai trồng chè gồm 2 loại phiến thạch sét và bazan màu mỡ(Nguyễn
Hữu Khải, 2005) [1].
8
- Chè trồng ở vĩ tuyến B 11.5-22.5 0;, chia thành 3 vùng: vùng thấp
dưới 300 m, vùng giữa 300-600 m, vùng cao 600-trên 1000 m, nên chất lượng
chè rất tốt.
- Giống chè bản địa gồm 2 giống Trung Du và Shan, làm được chè
xanh và chè đen; đặc biệt giống chè Shan miền núi có búp nhiều lông tuyết
trắng, được thị trường quốc tế rất ưa chuộng. Ngoài ra còn những giống chè
bởi cây chè có tuổi thọ cao có thể sinh trưởng, phát triển và cho sản phẩm có
giá trị cao và đều đặn trong khoảng 50 - 60 năm, do vậy nó sẽ tạo ra một
nguồn thu đều đặn lâu dài và có giá trị kinh tế cao, giúp các hộ cải thiện đời
sống, nâng cao mức sống của người dân. Mặt khác, cây chè là loại cây trồng
thích hợp với các vùng đất miền núi và trung du, những vùng đất cao, khô
thoáng. Hơn thế nữa nó còn gắn bó keo sơn ngay cả với những vùng đất đồi
dốc khô cằn sỏi đá. Chính vì vậy trồng chè không chỉ mang lại giá trị kinh tế
cao, mà nó còn góp phần bảo vệ môi trường, phủ xanh đất trống đồi trọc, tạo
ra cảnh quan đẹp. Kết hợp trồng chè với trồng rừng sẽ tạo nên những vành đai
chống xói mòn, rửa trôi, giữ lại lớp màu mỡ cho đất, cải tạo đất tăng độ phì
cho đất bạc màu, góp phần bảo vệ môi trường phát triển một nền nông nghiệp
bền vững.
Ngoài ra trồng chè và sản xuất chè còn cần một lực lượng lao động lớn,
cho nên nó sẽ tạo ta công ăn việc làm cho nhiều lao động nhàn rỗi ở nông
thôn, tạo điều kiện cho việc thu hút và sử dụng lao động, điều hoà lao động
được hợp lý hơn. Đồng thời nó còn tạo ra một lượng của cải vật chất lớn cho
xã hội, tăng thu nhập cho người dân, cải thiện mức sống của khu vực nông
thôn, tạo sự thay đổi lớn cho bộ mặt các vùng nông thôn, nhất là trong giai
đoạn đổi mới hiện nay, việc phát triển sản xuất chè góp phần đẩy nhanh công
cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn, đẩy nhanh tốc độ phát triển
kinh tế của khu vực nông thôn, nâng cao mức sống của các vùng nông thôn,
thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn.
10
1.1.2. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất chè
1.1.2.1. Đặc điểm
Cây chè có đặc điểm từ sản xuất đến chế biến đòi hỏi phải có kỹ thuật
khá cao từ khâu trồng, chăm sóc, thu hoạch đến chế biến và bảo quản. Vì thế
để phát triển ngành chè hàng hóa đạt chất lượng cao cần phải quan tâm, chú
chè ngon thì cây chè cũng phải được trồng ở nơi có đất tốt, phù hợp với đặc
điểm sinh vật học của nó. Qua nghiên cứu của các chuyên gia cho thấy đất
trồng chè tốt phải đạt yêu cầu sau: độ pH từ 4,5 - 5,5; hàm lượng mùn 2% 4%; độ sâu ít nhất 0,6 - 1m; mực nước ngầm phải dưới 1m; kết cấu của đất tơi
xốp sẽ giữ được nhiều nước, thấm nước nhanh, thoát nước tốt, có địa hình dốc
từ 10 - 200 (Lê Tất Khương và Đỗ Ngọc Quỹ, 2000) (3).
Thời tiết và khí hậu: Độ ẩm, nhiệt độ và lượng mưa là những yếu tố
ảnh hưởng lớn đến cây chè. Để cây chè phát triển tốt thì nhiệt độ bình quân là
22 - 280C, lượng mưa trung bình là 1500 - 2000mm/năm nhưng phải phân đều
cho các tháng, ẩm độ không khí từ 80 - 85%, ẩm độ đất từ 70 - 80%, cây chè
là cây ưa sáng tán xạ, thời gian chiếu sáng trung bình 9 giờ/ngày (Lê Tất
Khương, 2000)..
Nhiệt độ không khí ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và
phát triển của cây chè. Cây chè ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ không khí
dưới 100C hay trên 400C. Mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, mùa
xuân bắt đầu phát triển trở lại. Thời vụ thu hoạch chè dài, ngắn, sớm, muộn
tuỳ thuộc chủ yếu vào điều kiện nhiệt độ. Tuy nhiên các giống chè khác nhau
có mức độ chống chịu khác nhau.
Cây chè vốn là cây thích nghi sinh thái vùng cận nhiệt đới bóng râm,
ẩm ướt. Lúc nhỏ cây cần ít ánh sáng, một đặc điểm cũng cần lưu ý là các
giống chè lá nhỏ ưu sáng hơn các giống chè lá to.
b) Nhóm nhân tố về kỹ thuật
Ảnh hưởng của giống chè: Giống chè ảnh hưởng rất lớn đến năng
suất, chất lượng, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Mỗi một điều kiện sinh
12
thái, mỗi vùng lại thích hợp cho một giống chè hay một số giống nhất định.
Vì vậy để có nguyên liệu phục vụ chế biến, tạo ra chè thành phẩm có chất
lượng cao và để góp phần đa dạng hoá sản phẩm ngành chè, tận dụng lợi thế
so sánh của các vùng sinh thái đòi hỏi phải có nguồn giống thích hợp.
xạ. Vì vậy mà các nước như Ấn Độ, Nhật Bản thường áp dụng trồng cây che
bóng mát cho cây chè, nên năng suất và sản lượng chè thường cao.
Đốn chè: Đốn chè cũng ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng và chất lượng
chè, đốn chè là cắt đi đỉnh ngọn của các cành chè, ức chế ưu thế sinh trưởng
đỉnh và kích thích các trồi ngủ, trồi nách mọc thành lá, cành non mới tạo ra
một bộ khung tán khoẻ mạnh, làm cho cây luôn ở trạng thái sinh trưởng dinh
dưỡng hạn chế sự ra hoa, kết quả có lợi cho việc ra lá, kích thích sinh trưởng
búp non, tăng mật độ búp và trọng lượng búp, tạo bộ khung tán to có nhiều
búp, vừa tầm hái tăng hiệu suất lao động, cắt bỏ những cành già tăm hương,
bị sâu bệnh thay bằng những cành non mới sung sức hơn giữ cho cây chè có
bộ lá thích hợp để quang hợp.
Các dạng đốn chè:
+ Đốn phớt: Hai năm sau khi đốn tạo hình, mỗi năm đốn trên vết đốn
cũ 5cm sau đó mỗi năm đốn cao thêm 3-4cm, khi đốn vết đốn cuối cùng cao
70cm thì hàng năm đốn thêm 1-2cm. Sự thay đổi cách đốn sẽ làm tăng sản
lượng và chất lượng chè (Lê Tất Khương, 2006) [2]
+ Đốn đau: Những cây chè đã được đốn nhiều năm, cây chè phát triển
kém, năng suất thấp, giảm rõ rệt thì đốn cách mặt đất 40 - 50cm bón phân hữu
cơ và lân theo quy trình một năm trước khi đốn đau. Sau khi đốn đau cần tiến
hành hái chè theo phương pháp nuôi tán, chỉ hái búp chè cao hơn 65cm còn
chừa lại nuôi tán (Lê Tất Khương, 2006) [2]. Theo như nghiên cứu ở
Inđônêxia cho thấy rằng: Hàm lượng Caphêin của nguyên liệu chè thu hoạch
ở cây chè đốn đau cao hơn ở nguyên liệu chè chưa đốn, như vậy chè đốn đau
và chè đốn liên tục sẽ cho sản lượng và chất lượng tăng, đốn chè có tác dụng
14
tạo khung tán cho chè để có mật độ búp cao, tạo chiều cao hợp lý thuận lợi
cho việc chăm sóc và thu hoạch (Ngô Quang Trung, 2009].
Bón phân: Bón phân cho chè nhất là chè kinh doanh là một biện pháp
lượng. Như vậy sản phẩm chè của Việt Nam mới đủ điều kiện đáp ứng được
nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước.
c) Nhóm nhân tố về kinh tế
Thị trường và giá cả:
+ Thị trường là yếu tố quan trọng và có tính quyết định đến sự tồn tại
của cơ sở sản xuất kinh doanh chè, của các đơn vị sản xuất trong nền kinh tế
thị trường: mỗi nhà sản xuất, mỗi cơ sở sản xuất kinh doanh và mỗi cá nhân
đều phải trả lời 3 câu hỏi của kinh tế học đó là: sản xuất cái gì, sản xuất như
thế nào và sản xuất cho ai. Câu hỏi sản xuất cái gì được đặt lên hàng đầu,
mang tính định hướng. Để trả lời được câu hỏi này người sản xuất phải tìm
kiếm thị trường, tức là xác định nhu cầu có khả năng thanh toán của thị
trường đối với hàng hoá mà họ sẽ sản xuất ra. Thị trường đóng vai trò là khâu
trung gian nối giữa sản xuất và tiêu dùng .
Khi tìm kiếm được thị trường, người sản xuất phải lựa chọn phương
thức tổ chức sản xuất như thế nào cho phù hợp, sao cho lợi nhuận thu được là
tối đa. còn việc giải quyết vấn đề sản xuất cho ai, đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ
được thị trường, xác định rõ được khách hàng, giá cả và phương thức tiêu thụ.
Muốn vậy phải xem xét quy luật cung cầu trên thị trường. Ngành chè
có ưu thế hơn một số ngành khác, bởi sản phẩm của nó được sử dụng khá phổ
thông ở trong nước cũng như quốc tế. Nhu cầu về mặt hàng này khá lớn và
tương đối ổn định. Hơn nữa chè không phải là sản phẩm tươi sống, sau khi
chế biến có thể bảo quản lâu dài, chè mang tính thời vụ cũng ít gắt gao hơn
các loại cây ăn quả. Chính nhờ những ưu điểm trên dễ tạo ra thị trường khá ổn
định và khá vững chắc, là điều kiện, là nền tảng để kích thích, thúc đẩy sự
phát triển của ngành chè.
16
+ Giá cả: Đối với người sản xuất nông nghiệp nói chung, của người
trồng chè nói riêng thì sự quan tâm hàng đầu là giá chè (giá chè búp tươi và
1.2. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế
1.2.1. Quan điểm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt
động kinh tế. Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho
lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh
tế. Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất
xã hội xuất phát từ những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng.
Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của các
hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được
các mục tiêu kinh tế của một thời kỳ nào đó. Nếu đứng trên phạm vi từng yếu
tố riêng lẻ thì chúng ta có phạm trù hiệu quả kinh tế, và xem xét vấn đề hiệu
quả trong phạm vi các nông hộ thì hiệu quả kinh tế chính là hiệu quả kinh
doanh của một nông hộ. Hiểu theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh tế là
hệ số giữa kết quả thu về và chi phí bỏ ra để đạt được hiệu quả đó. Trong đó
kết quả thu về chỉ là kết quả phản ảnh những kết quả kinh tế tổng hợp như là:
doanh thu, lợi nhuận, giá trị sản lượng công nghiệp... nếu ta xét theo từng yếu
tố riêng lẻ thì hiệu quả kinh tế là thể hiện trình độ và sử dụng các yếu tố đó
trong quá trình sản xuất kinh doanh, nó phản ảnh kết quả kinh tế thu được từ
việc sử dụng các yếu tố tham gia vào quá trình kinh doanh.
Trong thực tiễn không phải ai cũng hiểu biết và quan niệm giống nhau
về hiệu quả kinh tế và chính điều này đã làm triệt tiêu những cố gắng, nỗ lực
của họ mặc dù ai cũng muống làm tăng hiệu quả kinh tế. Như vậy khi đề cập
đến hiệu quả kinh tế chúng ta phải xem xét một cách toàn diện cả về mặt thời
gian và không gian trong mối quan hệ với hiệu quả chung của toàn bộ nền
kinh tế quốc dân, hiệu quả đó bao gồm cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
a. Về mặt thời gian
Sự toàn diện của hiệu quả đạt được trong từng giai đoạn không được
làm giảm hiệu quả khi xét trong thời kỳ dài, hoặc hiệu quả của chu kỳ sản