ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN HUY
NGHIÊN CỨU TÍNH
ĐA DẠNG LOÀI CÂY DƯỢC LIỆU TẠI KHU
BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NÀ HẨU TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC
THÁI NGUYÊN - 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN HUY
NGHIÊN CỨU TÍNH
ĐA DẠNG LOÀI CÂY DƯỢC LIỆU TẠI KHU
BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NÀ HẨU TỈNH YÊN BÁI
Ngành: Lâm học
Mã số ngành: 8620201
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. HỒ NGỌC SƠN
THÁI NGUYÊN - 2018
Cuối cùng, tôi xin cam đoan các kết quả, số liệu được trình bày trong luận văn
là trung thực, khách quan.
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Văn Huy
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ i
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................ii
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ........................................................................ vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU ......................................................................................vii
DANH MỤC HÌNH ................................................................................................ viii
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................... 1
2. Mục tiêu của đề tài .................................................................................................. 2
3. Ý nghĩa của đề tài .................................................................................................... 2
Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU .............................................................. 3
1.1.
Cơ sở lý luận của đề tài .................................................................................... 3
1.1.1. Khái niệm dược liệu và cây dược liệu.............................................................. 3
1.1.2. Khái niệm đa dạng sinh học ............................................................................. 4
1.1.3. Khái niệm suy thoái đa dạng sinh học ............................................................. 4
1.1.4. Bảo tồn đa dạng sinh học ................................................................................. 4
1.2.
2.3.
Nội dung nghiên cứu ...................................................................................... 31
2.4.
Phương pháp nghiên cứu ................................................................................ 31
2.4.1. Phương pháp kế thừa tài liệu .......................................................................... 31
2.4.2. Phương pháp phỏng vấn ................................................................................. 32
2.4.3. Điều tra theo tuyến có sự tham gia của người cung cấp thông tin. ................ 33
2.4.4. Phương pháp xử lý số liệu .............................................................................. 36
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .................................. 37
3.1.
Tính đa dạng về thành phần loài, dạng sống và đặc điểm phân bố của
các loài cây dược liệu tại khu vực .................................................................. 37
3.1.1. Đa dạng thành phần loài sử dụng làm thuốc đã ghi nhận được tại KBT ....... 37
3.1.2. Sự phong phú và đa dạng về dạng sống ......................................................... 38
3.1.3. Đặc điểm phân bố của các loài cây dược liệu tại khu vực ............................. 39
3.2.
Tri thức địa phương trong sử dụng cây dược liệu của người dân địa
phương ............................................................................................................ 40
3.3.
Thực trạng sử dụng và giá trị bảo tồn của tài nguyên cây thuốc tại khu
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DD
: Thiếu dữ liệu
ĐDSH
: Đa dạng sinh học
EN
: Nguy cấp
KBTTN : Khu bảo tồn thiên nhiên
LC
: Ít quan tâm
ODB
: Ô dạng bản
OTC
: Ô tiêu chuẩn
RNSL
Bảng 1.5.
Phân loại thực vật theo công dụng ........................................................ 25
Bảng 1.6.
Mức độ nguy cấp của các loài thực vật ................................................. 26
Bảng 3.1.
Đa dạng bậc ngành cây dược liệu trong Khu bảo tồn ........................... 37
Bảng 3.2.
Tri thức địa phương trong việc khai thác và sử dụng cây dược liệu ..... 41
Bảng 3.3.
Phân cấp bảo tồn các loài cây dược liệu tại khu vực nghiên cứu.......... 52
viii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1.
Vị trí địa lý khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu ...................................... 17
Hình 1.2.
Hiện trạng rừng năm 2017 khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu .............. 21
Dứa dại ................................................................................................ 55
Hình 3.9.
Cỏ cứt lợn ............................................................................................ 56
Hình 3.10.
Khôi tía ................................................................................................ 56
Hình 3.11.
Đơm nem ............................................................................................. 57
Hình 3.12.
Diếp cá ................................................................................................. 57
Hình 3.13.
Râu hùm .............................................................................................. 58
Hình 3.14.
Dây quai ba lô ..................................................................................... 58
Hình 3.15.
Thảo quả .............................................................................................. 59
Bọt Ếch lông ........................................................................................ 63
Hình 3.24.
Vàng đắng............................................................................................ 63
Hình 3.25.
Vú Bò .................................................................................................. 64
Hình 3.26.
Cỏ may ................................................................................................ 64
Hình 3.27.
Ngải cứu rừng ...................................................................................... 65
Hình 3.28.
Rau Sam .............................................................................................. 65
Hình 3.29.
Muồng Lạc .......................................................................................... 66
Hình 3.30.
Thồm Lồm ........................................................................................... 66
hợp lý nguồn tài nguyên này đối với Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, là yêu cầu hết sức
cần thiết. Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tính đa
dạng loài cây dược liệu tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, tỉnh Yên Bái”.
2
2. Mục tiêu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá được mức độ đa dạng của nguồn tài nguyên cây thuốc, nghiên cứu
tri thức bản địa về việc sử dụng tài nguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc từ đó đề
xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển các loài cây này tại khu vực nghiên cứu.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Đánh giá được tính đa dạng về thành phần loài, số lượng loài, dạng sống và
phân bố của cây dược liệu tại khu vực nghiên cứu.
Nghiên cứu thực trạng sử dụng, tri thức bản địa (hay tri thức địa phương) về
việc sử dụng tài nguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc.
Đề xuất được các giải pháp bảo tồn và phát triển các loài cây này ở Khu bảo
tồn thiên nhiên Nà Hẩu.
3. Ý nghĩa của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Cung cấp cơ sở dữ liệu về tính đa dạng sinh học các loài cây dược liệu, phục
vụ công tác nghiên cứu, quản lý và bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá một cách đầy đủ các đặc điểm của tài nguyên cây dược liệu tại khu
vực như thành phần loài, phân bố, giá trị làm cơ sở phục vụ công tác quản lý, bảo
tồn và khai thác, sử dụng.
3
Chương 1
4
tìm thuốc, ông đã gặp phải rất nhiều loài cây có độc nên có khi một ngày ngộ độc
đến 70 lần”, rồi soạn ra sách thuốc đầu tiên gọi là “Thần Nông bản thảo”. Trong bộ
này có ghi chép tất cả 365 vị thuốc và là bộ sách thuốc cổ nhất Đông Y (chừng 4000
năm nay)[20].
1.1.2. Khái niệm đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học được hiểu là sự phong phú về sự sống trên trái đất của
hàng triệu loài thực vật, động vật, vi sinh vật cùng nguồn gen của chúng và các hệ
sinh thái (HST) mà chúng là thành viên. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về đa
dạng sinh học (ĐDSH). Tuy nhiên trong số này thì định nghĩa được sử dụng trong
Công ước Đa dạng sinh học (1992) được coi là “đầy đủ và toàn diện nhất” xét về
mặt khái niệm. Theo Công ước ĐDSH thì “ĐDSH là sự phong phú của cơ thể sống
có ở các nguồn trong HST trên cạn, ở biển và các HST dưới nước khác, và mọi tổ
hợp sinh thái mà chúng tạo nên; ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di
truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài), và các HST (đa
dạng HST)” [20].
Đa dạng di truyền được hiểu là sự đa dạng của các gen và bộ gen trong mỗi
quần thể và giữa các quần thể với nhau.
Đa dạng loài là sự phong phú về trạng thái của các loài khác nhau.
Đa dạng HST là sự phong phú về trạng thái và tần số của các HST khác nhau.
1.1.3. Khái niệm suy thoái đa dạng sinh học
Suy thoái đa dạng sinh học có thể hiểu là sự suy giảm tính đa dạng, bao gồm
sự suy giảm loài, nguồn gen và các hệ sinh thái, từ đó suy giảm giá trị, sự suy thoái
đa dạng sinh học được thể hiện ở các mặt:
- Hệ sinh thái bị biến đổi.
- Mất loài.
- Mất, giảm đa dạng di truyền.
1.1.4. Bảo tồn đa dạng sinh học
Theo khoản 1 điều 3 của luật ĐDSH năm 2008 [11], bảo tồn ĐDSH được
hiểu như sau: Bảo tồn ĐDSH là việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự
dụng Xương rồng Mehico mà ngày nay được biết là chứa chất gây ảo giác, kháng
khuẩn [17].
Các tài liệu cổ xưa nhất về sử dụng cây thuốc đã được người Ai Cập cổ đại
ghi chép trong khoảng thời gian 3.600 năm trước đây với 800 bài thuốc và trên 700
6
cây thuốc trong đó có Lan kim tuyến (cỏ nhung), hoàng thảo tam bảo sắc, hoàng tảo
henri, lan phi điệp, cây thất diệp nhất chi hoa, hoàng liên chân chim, quả toả dương,
tam thất hoang, bạch hạc thunia, củ bạch đẳng sâm, sâm đương quy, sâm cheo, sâm
cau, quả toả dương,cây râu hùm, bát giác niên, nấm hác linh chi, linh chi cổ cò, chè
dây, cây hoằng đằng, hà thủ ô, cốt toái, máu chó, cây chìa vôi, Người Trung Quốc
cổ đại ghi chép trong bộ Thần nông Bản thảo (khoảng 5.000 năm trước đây) 365 vị
thuốc và loài cây thuốc. Người Ấn Độ cổ đại đã ghi chép nền y học của người
Hinđu khoảng 2.000 năm trước, trong đó có các loài cây gây ngủ, ảo giác, chữa rắn
cắn,… [17].
1.2.2. Nghiên cứu cây dược liệu trên thế giới
Theo các tài liệu cổ xưa nhất về sử dụng cây thuốc đã được người Ai Cập cổ
đại ghi chép trong khoảng thời gian 3.600 năm trước đây với 800 bài thuốc và trên
700 cây thuốc trong đó có Lan kim tuyến (cỏ nhung) lan thạc hộc tía, hoàng thảo
tam bảo sắc, hoàng tảo henri, lan phi điệp, cây thất diệp nhất chi hoa, hoàng liên
chân chim, quả toả dương, tam thất hoang, bạch hạc thunia, củ bạch đẳng sâm, sâm
đương quy, sâm cheo, sâm cau, quả toả dương,cây râu hùm, bát giác niên, nấm hác
linh chi, linh chi cổ cò, chè dây, cây hoằng đằng, hà thủ ô, cốt toái, máu chó, cây
chìa vôi, Người Trung Quốc cổ đại ghi chép trong bộ Thần nông Bản thảo (khoảng
5.000 năm trước đây) 365 vị thuốc và loài cây thuốc. Người Ấn Độ cổ đại đã ghi
chép nền y học của người Hinđu khoảng 2.000 năm trước, trong đó có các loài cây
gây ngủ, ảo giác, chữa rắn cắn,… [18].
Manju Panghal và cs. (2010) nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng các loài cây
thuốc của các cộng đồng tại huyện Jhajjar, bang Haryana, Ấn độ [18]. Kết quả cho
thuộc chi Amomum trong đó có Thảo quả. Ở đây tác giả đề cập đến đặc điểm phân
loại của Thảo quả, công dụng, phân bố, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái
học của Thảo quả. Tác giả cũng trình bày kỹ thuật nhân giống, trồng, chăm sốc bảo
vệ, thu hái, chế biến, tình hình sản xuất và buôn bán Thảo quả trên thế giới (Dẫn
theo Phan Văn Thắng, 2002) [16].
Theo ước tính của quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 35.000 70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên
toàn thế giới. Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của các dân
tộc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khỏe, phát triển kinh tế, giữ gìn
bản sắc của các nền văn hóa. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay
8
có khoảng 80% dân số các nước đang phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu
phụ thuộc vào nguồn dược liệu hoặc qua các chất chiết suất từ dược liệu (Dẫn theo
Nguyễn Văn Tập, 2006) [12].
Parinitha và cs. (2005) nghiên cứu kiến thức sử dụng các loài cây thuốc của
các cộng đồng tại huyện Shimoga, bang Karnataka, Ấn độ [19]. Kết quả cho thấy có
47 loài thực vật thuộc 46 chi trong 28 họ được sử dụng để điều trị 9 bệnh nhiễm
trùng và 16 bệnh không truyền nhiễm. Mười hai tuyên bố mới về kiến thức
ethnomedical đã được báo cáo và có công thức mà là tương tự như mô tả đã có
trong văn học.
Các nghiên cứu khảo cổ cho thấy người Neanderthal cổ ở Iraq từ 60.000 năm
trước đã biết sử dụng một số cây cỏ mà ngày nay vẫn thấy sử dụng trong y học cổ
truyền như cỏ thi, cúc bạc,... Người dân bản xứ Mehico từ nhiều nghìn năm trước đã
biết sử dụng Xương rồng Mehico mà ngày nay được biết là chứa chất gây ảo giác,
kháng khuẩn [17].
Rey G. Tantiado (2012) nghiên cứu tài nguyên cây thuốc bản địa tại Iloilo,
Philippines [20]. Kết quả thống kê cho thấy có 101 loài cây thuộc 92 chi và 44 họ.
Bộ phận sử dụng, có 59% số loài dùng lá, 13% số loài dùng quả, 10% số loài dùng
thân, 7% số loài dùng rễ, 5% số loài dùng hoa, 4% số loài dùng cả cây và 2% số loài
Việt Nam là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh vật cao với
khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao, cũng như sự phong phú về tri thức sử dụng cây
cỏ. Theo kết quả của viện Dược liệu (Bộ y tế) kết quả điều tra từ năm 1991 đến năm
2004 đã ghi nhận được ở nước ta có 3948 loài cây thuốc thuộc 307 họ của 9 ngành
thực vật bậc cao cũng như bậc thấp, trong số 3948 loài cây thuốc này phần lớn được
ghi nhận từ kinh nghiệm sử dụng của cộng đồng các dân tộc ở khắp các địa phương.
Trong số đó có khoảng 6.000 loài cây có ích, được sử dụng làm thuốc, rau
ăn, lấy gỗ, nhuộm,... Khoảng 3.200 loài cây cỏ và nấm đã được ghi nhận là có giá trị
hay tiềm năng làm thuốc. Nguồn tài nguyên cây cỏ tập trung chủ yếu ở 6 trung tâm đa
dạng sinh vật trong cả nước là (i) Đông Bắc, (ii) Hoàng Liên Sơn, (iii) Cúc Phương,
(iv) Bạch Mã, (v) Tây Nguyên, (vi) Cao nguyên Đà Lạt [5]. Theo thống kê của ngành
Dược, cả nước có khoảng 40 bệnh viện y học cổ truyền và các khoa y học cổ truyền
trong các bệnh viện đa khoa. Có 5.000 người hành nghề thuốc y học cổ truyền với
gần 4.000 cơ sở chuẩn trị đông y. Có khoảng 700 loài thường được nhắc đến trong
sách đông y, sách về cây thuốc, 150-180 vị thuốc thường được sử dụng ở các bệnh
10
viện y học cổ truyền, lương y, 120 loài thường được nhân dân sử dụng như các cây
thuốc thông thường để chữa bệnh trong gia đình, nhu cầu dược liệu cho y học cổ
truyền khoảng 30.000 tấn/năm.
Việt Nam có một nền y học cổ truyền hết sức đa dạng, đặc sắc với bề dày lịch
sử hàng nghìn năm và từ đó hình thành nên nền y học dân tộc không ngừng phát triển
qua các thời kỳ lịch sử. Trong đó, nhiều cây thuốc, bài thuốc được áp dụng chữa bệnh
trong dân gian có hiệu quả cao, các kinh nghiệm dân gian quý báu đó đã dần đúc kết
thành những cuốn sách có giá trị và lưu truyền rộng rãi trong nhân dân, nghiên cứu
cây dược liệu không chỉ góp phần sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc của
đất nước, làm phong phú thêm tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc chữa bệnh của cả
dân tộc mà còn là cơ sở để sản xuất các loại dược phẩm mới để điều trị các căn bệnh
hiểm nghèo. Đây thực sự là một hướng nghiên cứu có triển vọng lớn trong tương lai.
Theo Lê Trần Đức, 1997 [7], Sa nhân là cây thuốc quý trong y học cổ truyền
phương Đông, thuộc chi Sa nhân (Amomum Roxb), họ Gừng (Zingiberaceae). Trên
thế giới chi Amomum roxb có khoảng 250 loài phân bố phân bố chủ yếu ở vùng
nhiệt đới núi cao. Ở Ấn Độ có 48 loài, Malaysia có 18 loài, Trung Quốc có 24
loài. Ở nước ta, Sa nhân phân bố hầu hết các tỉnh vùng núi Bắc và Trung Bộ có
khoảng 30 loài trong đó có gần 30 loài mang tên Sa nhân, trong đó 23 loài đã được
xác định chắc chắn. Ở Viện dược liệu và trường Đại học Dược hiện có 12 mẫu vật
chưa đủ tài liệu định tên loài đều mang tên Sa nhân. Ở Việt Nam, Sa nhân đã được
biết đến từ rất lâu đời là vị thuốc cổ truyền trong y học dân tộc bước đầu đã thống
kê được trên 60 đơn vị thuốc có vị Sa nhân dùng trong các trường hợp ăn không
tiêu, kiến lỵ, đâu dạ dày, phong tê thấp, sốt rét, đau răng,… Ngoài ra Sa nhân còn
dùng trong sản xuất hương liệu để sản xuất xà phòng, nước gội đầu. Các tác giả đã
nghiên cứu đặc điểm sinh thái học, vòng đời tái sinh, cấu tạo, nơi phân bố, kỹ
thuật, thời gian trồng, thu hoạch của Sa nhân [4].
Khi nghiên cứu về trồng cây Nông nghiệp, dược liệu và đặc sản dưới tán
rừng, Nguyễn Ngọc Bình đã tìm hiểu kỹ thuật gây trồng các loài cây dưới tán rừng
để tạo ra sản phẩm, tăng thu nhập cho các họ gia đình nhận khoán, bảo vệ, khoanh
nuôi rừng. Tác giả chỉ ra giá trị kinh tế, đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, kỹ
thuật gây trồng 28 loài lâm sản ngoài gỗ như: Ba kích, Sa nhân, Thảo quả, Trám
trắng, Mây nếp,… [4].
12
1.3.2. Những nghiên cứu về cây thuốc địa phương ở Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của Phạm Thanh Huyền tại xã Địch Quả- huyên Thanh
Sơn tỉnh Phú Thọ về việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn cây thuốc của cộng
đồng dân tộc cho thấy kiến thức về việc sử dụng nguồn cây thuốc của đồng bào dân
tộc Dao ở đây. Với kiến thức đó họ có thể chữa khỏi rất nhiều loại bệnh nan y bằng
những bài thuốc cổ truyền. Tuy nhiên những kiến thức quý báu này chưa được phát
huy và có cách duy trì hiệu quả, có tổ chức. Tác giả đã chỉ rõ những loài thực vật
trong hệ thống các khu rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, bảo tồn chuyển vị kết hợp
với nghiên cứu gieo trồng tại chỗ, có như vậy các loại cây thuốc quý hiếm mới thoát
khỏi nguy cơ bị tuyệt chủng. Đồng thời lại tạo ra thêm nguyên liệu để làm thuốc
ngay tại các vùng phân bố vốn có của chúng [14].
Cũng trong thời gian này tác giả Nguyễn Tập và cộng sự đã điều tra đánh giá
hiện trạng và tiềm năng về y học cổ truyền trong cộng đồng các dân tộc tỉnh Bắc Kạn,
kết quả đã thu thập được nhiều cây thuốc, bài thuốc các thời gian trong cộng đồng
thường sử dụng, nhằm kế thừa và quảng bá rộng rãi những tri thức bản địa này [11].
Năm 2006 nhóm tác giả thuộc Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản - Viện
Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phối hợp với Viện Dược liệu đã tổ chức điều tra
nguồn tài nguyên cây thuốc tại xã Đồng Lâm - Hoàng Bồ - Quảng Ninh và ghi nhận
được 288 loài thuộc 233 chi, 107 họ và 6 ngành thực vật, tất cả đều là cây thuốc
mọc hoang dại trong các quần xã rừng thứ sinh và đồi cây bụi. Trong đó có 8 loài
được coi là mới chưa có tên trong danh lục cây thuốc Việt Nam [12].
Đỗ Hoàng Sơn và cộng sự đã tiến hành đánh giá thực trạng khai thác, sử
dụng và tiềm năng gây trồng cây thuốc tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm.
Qua điều tra họ thống kê được tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm có 459 loài
cây thuốc thuộc 346 chi và 119 họ trong 4 ngành thực vật là: Equisetophyta,
Polypodiophyta, Pinophyta và Magnoliophyta. Người dân thuộc vùng đệm ở đây
chủ yếu là cộng đồng dân tộc và Sán Dìu sử dụng cây thuốc để chữa 16 nhóm bệnh
khác nhau. Trong đó trên 90% số loài được sử dụng trong rừng tự nhiên. Mỗi năm
có khoảng hơn 700 tấn thuốc tươi từ Vườn quốc gia Tam Đảo được thu hái để buôn
bán. Nguồn tài nguyên cây thuốc ở đây đang bị suy giảm khoảng 40% so với 5 năm
trước đây. Trên cơ sở các nghiên cứu các tác giả đã đề xuất 26 loài cây thuốc cần
được ưu tiên và bảo tồn [13].
14
Theo Nguyễn Văn Tập trong nguồn Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam, cây thuốc
chiếm một vị trí quan trọng về thành phần loài cũng như về giá trị sử dụng và kinh tế.
15
31%; tiếp đến là cả cây 73 loài chiếm 30%; rễ, củ 68 cây chiếm 28%; hoa quả 15
loài chiếm 7%; các bộ phận khác 9 loài chiếm 4%. Người Vân Kiều sử dụng rễ củ
13 loài chiếm 42%; cành lá 8 loài chiếm 26%; cả cây 5 loài chiếm 16%; các bộ
phận khác (nhựa, dịch thân,...) 4 loài chiếm 13% và hoa quả 1 loài chiếm 3%) mà
còn đa dạng về các nhóm bệnh được chữa trị (11 nhóm bệnh) [2].
Bùi Văn Hướng và cộng sự (2013) nghiên cứu đa dạng nguồn tài nguyên cây
thuốc của đồng bào dân tộc tại tỉnh Gia Lai. Qua điều tra nghiên cứu, bước đầu đã
xác định được 145 loài thực vật được sử dụng làm thuốc thuộc 112 chi và 61 họ của
3 ngành thực vật bậc cao có mạch đó là Ngọc lan (Magnoliophyta), Dương xỉ
(Polypodiophyta), Thông đất (Lycopodiophyta). Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta)
chiếm ưu thế với 53 họ, chiếm 86,9%; 105 chi, chiếm 93,8% và 137 loài, chiếm
94,5% so với tổng số họ, chi, loài cây thuốc đã điều tra. Về dạng sống của cây thuốc
thì nhóm cây bụi với 62 loài, chiếm 42,8%; tiếp đến là nhóm cây thân thảo với 31
loài, chiếm 21,4%; nhóm cây dây leo với 25 loài, chiếm 17,2%; nhóm cây gỗ với 21
loài, chiếm 14,5% và cuối cùng là nhóm cây thân rễ với 6 loài, chiếm 4,1% tổng số
loài cây thuốc đã điều tra được. Trong các bộ phận của cây thuốc, rễ là bộ phận
được sử dụng nhiều nhất với 51 loài chiếm 35,2%; thân với 33 loài chiếm 22,8%; lá
và cả cây được sử dụng với tỷ lệ bằng nhau là 17,2%. Các bộ phận khác như: Vỏ,
củ, quả... tuy được sử dụng nhưng tỷ lệ không đáng kể. Có 13 nhóm bệnh chủ yếu
được chữa trị bằng cây thuốc bản địa với kiến thức của đồng bào dân tộc. Trong đó,
nhóm bệnh về tiêu hoá là nhiều nhất với 14 loài chiếm 9,7%; tiếp đến là nhóm bệnh
phụ nữ với 13 loài, chiếm 9,0%. Các bệnh về ngoài da và động vật côn trùng cắn có
số loài lần lượt là 12 loài, chiếm 8,3% và 9 loài, chiếm 6,2%. Một số bệnh về răng
và dạ dày tỷ lệ sử dụng cây thuốc để chữa trị là khá ít [9].
Võ Văn Minh và cộng sự (2014) nghiên cứu cây thuốc của người Hre tại
huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi. Kết quả đã điều tra xác định được 45 loài cây thuốc,
thuộc 26 họ, thông qua việc sử dụng trong cuộc sống hàng ngày của cộng đồng
người Hre huyện Ba Tơ, Quảng Ngãi. Trong đó có 2 loài thuốc quý trong danh lục
Đỏ cây thuốc Việt Nam, 6 loài quý theo kiến thức bản địa của người dân. Cây thuốc