Thực hiện chính sách lao động, việc làm ở huyện hoài đức, thành phố hà nội hiện nay theo tư tưởng hồ chí minh - Pdf 57

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======

NGUYỄN THU HUYỀN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM
Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN
NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tư tưởng Hồ Chí Minh

HÀ NỘI - 2019


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======

NGUYỄN THU HUYỀN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM
Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN
NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tư tưởng Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học


hiện chính sách lao động, việc làm ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội hiện
nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh” được thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Vi Thị
Lại. Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong các công
trình khác.
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!

Hà Nội, ngày tháng

năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Thu Huyền


BẢNG KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

STT

Ký hiệu

Nguyên nghĩa

1

CĐCS

Công đoàn cơ sở



MỤC LỤC

MỞ ĐẦU.....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.....................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................................2
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...........................................................................3
5. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................4
6. Kết cấu khóa luận....................................................................................................4
CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHÍNH SÁCH LAO ĐỘNG,
VIỆC LÀM..................................................................................................................5
1.1. Một số khái niệm cơ bản ......................................................................................5
1.1.1. Chính sách .........................................................................................................5
1.1.2. Chính sách lao động, việc làm ..........................................................................6
1.2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách lao động, việc làm ....................7
1.2.1. Quan điểm về vị trí, vai trò của chính sách lao động, việc làm ........................7
1.2.2. Quan điểm về nội dung chính sách lao động, việc làm ....................................9
1.2.3. Quan điểm về biện pháp thực hiện chính sách lao động, việc làm .................23
1.3. Giá trị của quan điểm Hồ Chí Minh về chính sách lao động, việc làm .............28
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ
HÀ NỘI HIỆN NAY.................................................................................................30
2.1. Những yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách lao động, việc làm ở
huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội hiện nay ...........................................................30
2.1.1. Điều kiện tự nhiên ...........................................................................................30
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội................................................................................33
2.1.3. Tình hình dân số và đặc điểm dân cư..............................................................35



việc làm cho nhân dân và coi đó là vấn đề xuyên suốt trong công tác cải tạo đời
sống kinh tế - văn hóa. Đặc biệt, Người cũng luôn trăn trở đến việc đảm bảo quyền,
lợi ích của người lao động bởi theo Người con người là vốn quý nhất. Đối với Hồ
Chí Minh, tình yêu thương con người luôn gắn với mong muốn dân tộc thoát khỏi
cảnh bị đày đọa, lầm than.
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh
vực, nhất là trên lĩnh vực kinh tế - xã hội; thực hiện tốt quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước đưa nước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu, nghèo
nàn, chậm phát triển thành một quốc gia văn minh, tiên tiến. Việc đạt được những
thành tựu này là nhờ một phần không nhỏ của các chính sách xã hội trong đó đặc
biệt phải kể đến chính sách lao động, việc làm. Chính sách này là một trong những
chính sách cơ bản của mỗi quốc gia. Với mục tiêu xã hội là công bằng xã hội và
nâng cao phúc lợi cho người dân, đảm bảo hòa nhập xã hội và giảm dần sự tách biệt
xã hội cho người lao động thông qua công tác tạo việc làm và đảm bảo việc làm cho
họ. Thời gian qua, tuy nước ta đã từng bước thực hiện được các mục tiêu đó, tuy
nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục. Do vậy, trong tình hình
nền kinh tế thị trường ngày càng mở rộng, phát triển, việc thực hiện chính sách lao
động, việc làm vẫn luôn được ưu tiên quan tâm hàng đầu.
Cùng với sự quan tâm triển khai thực hiện chính sách lao động, việc làm trên
phạm vi cả nước, huyện Hoài Đức cũng đã góp một phần không nhỏ tạo nên thay
đổi đáng kể về mặt kinh tế - xã hội. Sự tiến bộ đó đã góp phần làm cho nhân dân địa
bàn nói riêng và toàn xã hội nói chung dần ổn định và cải thiện cuộc sống của mình.
Huyện Hoài Đức là một huyện giáp với nội đô Hà Nội, có vị trí chiến lược trong
việc phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa – xã hội; là huyện có nhiều tiềm năng về

2


công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến và các làng nghề truyền
thống. Tuy nhiên, do điều kiện sản xuất còn khó khăn, các khu công nghiệp, khu



- Phạm Minh Hạc (2001), Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã tiếp cận và đề cập vấn đề tư
tưởng Hồ Chí Minh về chính sách lao động, việc làm ở những khía cạnh và mức độ
khác nhau. Tuy nhiên, hiện nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách
độc lập về vấn đề thực hiện chính sách lao động, việc làm ở huyện Hoài Đức, thành
phố Hà Nội hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Do vậy, trên cơ sở học tập, kế
thừa và phát triển những kết quả thu được từ các công trình nghiên cứu nêu trên, em
mong muốn tìm hiểu một cách sâu sắc hơn tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách lao
động, việc làm và sự vận dụng tư tưởng đó vào việc thực hiện chính sách lao động,
việc làm ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội hiện nay.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách lao động, việc
làm, vận dụng tư tưởng đó vào nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách lao động,
việc làm ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách lao động,
việc làm.
Thứ hai, phân tích thực trạng thực hiện chính sách lao động, việc làm ở
huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2018.
Thứ ba, đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực
hiện chính sách lao động, việc làm ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội trong giai
đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Việc thực hiện chính sách lao động, việc làm ở huyện Hoài Đức, thành phố
Hà Nội hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

“Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính
sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào
đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của
đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”. [11]
Theo từ điển tiếng Anh Oxford, chính sách được hiểu là một đường lối hành
động được thông qua và theo đuổi bới chính quyền, đảng, nhà cai trị, chính sách…
Theo sự giải thích này, chính sách không chỉ đơn thuần là một quyết định mà nó là
một đường lối, một phương hướng hành động.
Ở một góc độ khác, trong cuốn “Giáo trình khoa học chính sách” của tác giả
Vũ Cao Đàm đã đưa ra một loạt các khái niệm của các nhà khoa học về chính sách.
Trong đó, tiêu biểu có:
Guy Peters đưa ra định nghĩa: “Chính sách là toàn bộ hoạt động của nhà
nước có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của công dân”. [4]
Theo James E. Anderson(1984): “Chính sách là một quá trình hành động có
mục tiêu, mà một hoặc một số chủ thể theo đuổi, để giải quyết những vấn đề mà họ
quan tâm”. [4]
Theo Thomas R. Dye cho rằng: “Chính sách là điều mà một chính phủ chọn
để làm hoặc không làm”. [4]
Từ việc xem xét các khái niệm mà các nhà khoa học đã chỉ ra, tác giả Vũ
Cao Đàm đã kết luận: Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà

6


một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc
một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một
mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội. [4]
William N. Dunn: "Chính sách là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn
liên quan lẫn nhau, bao gồm các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà
nước hay các quan chức nhà nước đề ra". [11]

Ở Việt Nam, cùng với việc tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, Bộ luật
Lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chỉ rõ: “Việc làm là hoạt
động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. [36]
Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ
thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Một người lao động có việc làm
khi người ấy chiếm được một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội.
Thông qua việc làm để người ấy thực hiện quá trình lao động tạo ra sản phẩm và thu
nhập của người ấy.
Hai phạm trù lao động và việc làm có liên quan với nhau và cùng phản ánh
một loại lao động có ích của con người, nhưng hai phạm trù đó hoàn toàn không
giống nhau, vì: có việc làm thì chắc chắn có lao động nhưng có lao động thì chưa
chắc có việc làm vì nó phụ thuộc vào mức độ ổn định của công việc mà người lao
động đang làm. Do vậy, cần phải có chính sách lao động, việc làm để có những chủ
trương giải quyết những vấn đề về lao động, việc làm.
Từ khái niệm chính sách, khái niệm lao động và việc làm, có thể hiểu khái
niệm chính sách lao động, việc làm đó là: Chính sách lao động, việc làm là tổng thể
các quan điểm, tư tưởng, các mục tiêu, các giải pháp và công cụ nhằm sử dụng lực
lượng lao động và tạo việc làm cho lực lượng lao động đó. Nói cách khác, chính
sách lao động, việc làm là sự thể chế hóa pháp luật của Nhà nước trên lĩnh vực lao
động và việc làm, là hệ thống các quan điểm, phương hướng mục tiêu và giải pháp
giải quyết việc làm cho người lao động.
1.2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách lao động, việc làm
1.2.1. Quan điểm về vị trí, vai trò của chính sách lao động, việc làm
Một là, chính sách lao động, việc làm là một bộ phận quan trọng trong hệ
thống chính sách xã hội của một quốc gia, dân tộc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người luôn hướng trái tim về những con người
lao động cực khổ trong xã hội, do đó Người luôn đặc biệt quan tâm đến những
chính sách xã hội trong đó có thể kể đến chính sách lao động, việc làm. Người đã
sớm nhận thức được rằng việc làm là một trong những nhu cầu cơ bản nhất giúp con
người ổn định cuộc sống và phát triển một cách toàn diện. Do vậy, Người cho rằng

tư tưởng của Người về chính sách lao động, việc làm nhằm mục tiêu đáp ứng được
mục tiêu trung tâm đó là nâng cao đời sống nhân dân.
Hai là, thực hiện chính sách lao động, việc làm đóng vai trò to lớn vào việc
tăng trưởng kinh tế cho nhân dân, góp phần kiến thiết đất nước.
Thông qua chính sách lao động, việc làm, Người nêu ra việc chủ và thợ phải
có sự hợp tác chặt chẽ, có vậy việc tăng gia sản xuất mới có kết quả “Tăng gia sản
xuất chẳng những có lợi riêng cho chủ và thợ, mà còn có lợi chung cho nền kinh tế
của Tổ quốc, lợi chung cho toàn thể đồng bào” [16, tr.124]. Qua đó có thể thấy
Người đã chỉ ra được vai trò kinh tế của việc thực hiện chính sách lao động, việc
làm, thấy được rằng kinh tế có phát triển thì mới góp phần xây dựng đất nước vững
mạnh hơn. Trong “Thư gửi đồng bào lao động toàn quốc” ngày 1/5/1948, Người đã
9


khẳng định vai trò quan trọng của lao động “Xã hội có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, là
nhờ lao động. Xây nên giàu có, tự do, dân chủ cũng là nhờ lao động. Trí thức mở
mang cũng nhờ lao động (lao động trí thức). Vì vậy lao động là sức chính của sự
tiến bộ loài người, cũng là sức mạnh của sự giải phóng dân tộc” [16, tr.514].
Ba là, chính sách lao động, việc làm góp phần trong việc nâng cao đời sống
của nhân dân
Chính sách lao động, việc làm được chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng,
và công tác thực hiện chính sách này cũng được thể hiện rõ nét trong các chủ
trương, biện pháp, quan điểm, đường lối của Đảng và Chính phủ trong giai đoạn
hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn lấy nhân dân làm trung tâm, làm cốt lõi và
luôn chú trọng công tác chăm lo đời sống nhân dân, Người coi đó như nhiệm vụ
đánh thắng cái đói, cái nghèo, cái lạc hậu, là nhiệm vụ song song với nhiệm vụ đấu
tranh đánh bại đế quốc Pháp hùng mạnh, xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân, vì dân.
Trong khi trả lời một nhà báo nước ngoài, Hồ Chí Minh đã nêu rõ quan điểm
“Chương trình kiến thiết của Việt Nam bước đầu tiên là làm cho dân khỏi khổ, khỏi

công nhân trong các ngành kỹ nghệ và thương mại, có thể định cho công nhân tham
gia vào việc chia lãi hằng năm” [37]. Đây là những quan điểm rất mới về “lao-tư
tưởng lợi”. Bên cạnh đó, thể lệ tìm việc làm cho công nhân lao động được quy định
cụ thể trong một văn bản riêng biệt tại Thông tư số 21-LĐ/TT ngày 17/11/1959 của
Bộ Lao động về việc hướng dẫn tuyển mộ, sử dụng công nhân ở các xưởng, xí
nghiệp, công tư hợp danh. Trong đó văn bản đó đã nêu ra những quy định rõ ràng,
cụ thể những vấn đề về sắp xếp hợp lý tổ chức lao động, vấn đề tuyển dụng người
mới, vấn đề đào tạo thợ mới và bổ túc thợ cũ…
Người cũng đã nêu trong Thư gửi đồng bào tản cư: “Các anh em công nhân
thì Liên đoàn lao động và Chính phủ đã có kế hoạch sắp xếp công ăn việc làm cho
cả mọi người. Anh em phải lập tức đến đăng ký tại Liên đoàn lao động để nhận
công việc” [16, tr.64]. Người đã nhận thấy vai trò quan trọng của lao động và sản
xuất để từ đó đưa ra được những quan điểm nhằm tạo việc làm cho nhân dân
Để tạo việc làm cho người lao động, chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đặc
biệt đến phát triển kinh tế, bởi chỉ có phát triển kinh tế thì mới có việc làm cho
người lao động và ngược lại phải có việc làm cho người lao động thì sẽ tạo một
động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế - xã hội.
Do vậy, ngay khi đất nước vừa giành được độc lập, trong bối cảnh đất nước
còn khó khăn, nghèo nàn, chính trị chưa được củng cố hoàn toàn thì chủ tịch Hồ
Chí Minh đã đề nghị với Hội đồng Chính phủ lâm thời phát động chiến dịch tăng
gia sản xuất. Người đưa ra khẩu hiệu: “Tăng gia sản xuất. Tăng gia sản xuất ngay.
Tăng gia sản xuất nữa!” [15, tr.135]. Người cho rằng tăng gia sản xuất, phát triển
kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc giành, giữ và củng cố chính quyền. Trong
nông nghiệp, Người chỉ ra rằng: “Trồng nhiều lúa, nhiều màu, nhiều bông, để quân
và dân đủ ăn, đủ mặc, đủ dùng, bảo vệ mùa màng cất dấu thóc lúa, sẵn sàng tiếp tế

11


lương thực cho quân đội... tổ chức làng kháng chiến; chủ ruộng phải giảm tô cho

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để phát huy được vai trò lãnh đạo, để thực hiện
được quyền làm chủ của mình thì người lao động phải ra sức học tập văn hóa, nắm
bắt những kiến thức khoa học – công nghệ - kỹ thuật, phương pháp quản lý, học
12


nghề, học kiến thức ở trường, học trong thực tiễn đời sống, trau dồi kiến thức với
các chuyên gia nước ngoài, học hỏi cán bộ hay phải tự có ý thức học hỏi lẫn nhau…
Đảng, Nhà nước và bộ máy quản lý các cấp cần phải chú trọng việc đào tạo người
lao động một cách đồng bộ, toàn diện, quan tâm xây dựng phát triển đội ngũ cán bộ
khoa học – kỹ thuật, đội ngũ công nhân có trình độ và tay nghề cao. Trong 8 điều
của bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” do Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị
Vécxây năm 1919 có một điều đáng chú ý, đó là tại điều 6: “Tự do học tập, thành
lập các trường kỹ thuật, và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ” [12,
tr.441]. Đây được coi là đòi hỏi đầu tiên một cách chính thức cho quyền được học
tập và đào tạo nghề nghiệp của người lao động ở các nước thuộc địa. Đây là một
bước tiến mới trong tư tưởng về lao động, việc làm của Người, có thể thấy rằng
Người đã sớm hình thành tư tưởng hướng nghiệp, kết hợp việc học với việc thực
hành và đào tạo nghề.
Người cũng chủ trương: “Lại nên có những lớp học cho thợ, và con thợ. Thợ
học cho tinh xảo hơn. Con thợ học sẽ dễ thế cho những người thợ già về hưu”, “Chủ
và thợ hợp tác chặt chẽ, thì hai bên đều có lợi. Vì hợp tác chặt chẽ, mới thực hiện
được tăng gia sản xuất và tăng gia sản xuất càng có kết quả thì chủ và thợ càng
được lợi”, “tăng gia sản xuất chẳng những lợi riêng cho chủ và thợ, mà còn lợi
chung cho nền kinh tế của Tổ quốc, lợi chung cho toàn thể đồng bào” [16, tr.124] .
Người cho rằng, khoa học phải từ sản xuất mà ra và trở lại phục vụ sản xuất,
phục vụ quần chúng nhằm nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải thiện
đời sống của nhân dân, Phát biểu tại Hội nghị Cán bộ phát động cuộc vận động “Cải
tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp toàn
diện, mạnh mẽ và vững chắc” ngày 07/03/1963, Người nói: “Chúng ta cần phải tập

chức. Về mặt này và mặt kia, hiện nay chúng ta đều còn kém. Cho nên phải “học,
học nữa, học mãi”, như Lênin đã dạy”. [23, tr.527]
Người viết: “Bởi vậy, ý thức làm chủ không phải chỉ tỏ rõ ở tinh thần hăng
hái lao động mà còn phải tỏ rõ ở tinh thần say mê học tập để không ngừng nâng cao
năng lực làm chủ của mình”[23, tr.527]. Học tập không ngừng sẽ giúp cho người
lao động phát triển về trình độ kiến thức cũng như kỹ năng nghề nghiệp. Học tập
cũng giúp người lao động có năng lực làm chủ, có đủ năng lực tổ chức, đủ năng lực
thực hành nghề nghiệp. Do đó, bản thân mỗi người phải tỏ rõ tinh thần say mê học
tập, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp để không ngừng nâng cao tay nghề, giúp ích cho
sự phát triển của kinh tế - xã hội, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Như vậy là
làm cho sáng kiến, kinh nghiệm chung ngày càng dồi dào, trình độ tư tưởng, tổ
chức, kỹ thuật chung ngày càng nâng cao. Do đó sản xuất phát triển ngày càng
nhanh và vững, đời sống nhân dân ngày càng ấm no, đầy đủ.” [23, tr.528]
Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc đào tạo nghề và nâng cao trình độ
cho người lao động là việc tất yếu nhằm nâng cao năng suất lao động, sản xuất ra
nhiều của cải vật chất, xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi.

14


Ba là, đảm bảo tiền lương hợp lý cho người lao động
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc thực hiện chính sách tiền lương cũng là
một trong những động lực quan trọng của phát triển kinh tế đất nước. Nó là một
chính sách hết sức cần thiết và cấp bách của mỗi quốc gia, tác động lớn đến sự phát
triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh của đất nước. Nó có mối quan
hệ mật thiết và tác động đa chiều đối với động lực phát triển, tăng trưởng kinh tế
cũng như nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Người cho rằng, nếu tiền
lương không xứng đáng với giá trị sức lao động thì những tư liệu sinh hoạt cần thiết
của người lao động cũng không được đáp ứng, người lao động sẽ không nâng cao
được trách nhiệm, hiệu quả, phát huy tài năng và cống hiến theo đúng năng lực mà

nhau… Chính vì vậy mà người lao động làm việc hăng say, miệt mài và có hiệu
quả, có trách nhiệm hơn. Đồng thời, Người chỉ ra rằng, trong khi thực hiện chính
sách tiền lương cần phải đảm bảo sự công bằng, điều này không có nghĩa là cào
bằng mà là làm theo năng lực, hưởng theo lao động. Điều này có thể thấy rõ, nếu xí
nghiệp, công ty trả lương thiếu công bằng, bất hợp lý hay vì bất cứ một mục tiêu lợi
nhuận nào đó mà không chú ý đến lợi ích của người công nhân lao động thì nguồn
công nhân sẽ bị suy giảm về thể chất và tinh thần dẫn tới giảm sút chất lượng lao
động và việc làm.
Không giống với công nhân, nông dân là thành phần xã hội không được trả
lương do họ thực hiện việc lao động cày cấy trên chính mảnh ruộng của mình, mọi
sản phẩm lương thực, thực phẩm trên chính mảnh ruộng đó là thu nhập chính của
người nông dân. Nông dân sản xuất nông nghiệp, do vậy những sản phẩm của người
nông dân phụ thuộc phần nhiều vào điều kiện tự nhiên như thời tiết, khí hậu, đất,
nước…do vậy, họ không thể tránh khỏi sâu bọ, mất mùa, thất bát. Vì vậy, việc cứu
tế người dân trong những năm mất mùa là một trong những chính sách an sinh xã
hội tiến bộ và có ý nghĩa tích cực trong sản xuất nông nghiệp. Thấy rõ được tình
hình thực tế xã hội của người nông dân, Người yêu cầu: “Nông dân ai cũng có
ruộng cày. Giảm địa tô. Cứu tế nông dân trong những năm mất mùa” [14, tr.631].
Chính sách này thể hiện sự chu đáo, chu toàn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người
luôn đặc biệt quan tâm đến những thành phần xã hội nghèo đói nhất, điều này phần
nào thể hiện được tính nhân văn, nhân đạo của chế độ xã hội chủ nghĩa – xã hội mà
Người luôn hướng tới.
Đối với bộ đội, Người cũng đặc biệt quan tâm đến chính sách tiền lương, tiền
thưởng, Người chủ trương: “Hậu đãi binh lính có công giữ gìn Tổ quốc và phụ cấp
gia đình binh lính được đầy đủ” [14, tr.631]. Người cho rằng ngoài tiền lương và
tiền thưởng cho bộ đội theo quy định chung thì cần phải có phụ cấp thêm cho gia
đình của họ một cách đầy đủ để họ yên tâm chiến đấu, làm tròn nhiệm vụ bảo vệ Tổ
quốc của mình.
Cuối cùng, đối với thành phần tri thức, Người cho rằng: “Hậu đãi viên chức
xứng đáng với công học hành của họ” [14, tr.631]. Bên cạnh công nhân, nông dân

thể hiện ở việc Người đề cập đến việc các chủ xưởng phải có sổ biên và phải thi
hành theo những điều quy định trong đó, đồng thời chủ phải “trù liệu chỗ ở” cho thợ
nếu họ không tìm được chỗ ở. Cụ thể: “Nếu công nhân tự tìm được chỗ ở gần nơi
làm thì chủ không phải trù liệu chỗ ở cho họ. Nhưng nếu số công nhân nhiều đến
nỗi không tìm được chỗ ở trong các vùng gần nơi làm hoặc nếu họ đông đến nỗi
làm hại vệ sinh chung, và trong các vùng mỏ, các khu tập trung công nhân xa thành
thị, thì chủ sẽ bắt buộc lo nhà ở cho tất cả hay một phần thợ thuyền làm với mình.
Gặp một vài trường hợp đặc biệt, nhất là trong những khi có bệnh dịch tả, chủ cũng
có thể bị bắt buộc phải tạm trù liệu nhà ở cho công nhân ở” [37].

17


Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú ý đảm bảo an toàn cho người lao
động cho các đối tượng đặc biệt như: công nhân hầm mỏ, phụ nữ và trẻ em. Cụ thể,
trong bài nói ngày 27/10/1946 của báo Cứu quốc số 390 ngày 29/10/1946 Người
nói: “Bộ Luật lao động Việt Nam sẽ nhận cho công nhân Việt Nam có quyền tự do
tổ chức, tự do bãi công. Luật Lao động sẽ ấn định giờ làm, tiền công, bảo vệ đàn
bàm người già và trẻ con” [15, tr.477]. Người nêu, Bộ Lao động phải quy định rõ
“Những công việc coi là nguy hiểm, quá sức, đối với đàn bà trẻ con để cấm họ
không được làm”; phải có “Những thể lệ đặc biệt cho phép đàn bà, trẻ con làm
trong các cơ sở có hại cho sức khỏe hay nguy hiểm vì phải gần những chất hay hơi
độc, với những sự bảo vệ cần phải có cho họ”[37]. Những công nhân làm công việc
dưới hầm mỏ, với điểu kiện đặc biệt nguy hiểm cũng phải có những “Thể lệ riêng
về việc bảo vệ sức khỏe và sinh mệnh cho công nhân các hầm mỏ” [37] sau khi hỏi
ý kiến các cơ quan chuyên môn; những công nhân, người lao động làm việc ở vùng
sâu, vùng xa cũng được đặc biệt quan tâm “Ở các vùng có bệnh sốt rét rừng, chủ
phải chịu phí tổn về việc đề phòng bệnh này mà phát thuốc cho công nhân không
lấy tiền” [37]…
Để đảm bảo an toàn cho người lao động, Người đặc biệt quan tâm đến vấn đề


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status