SKKN một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục cơ sở vật chất trường tiểu học công bình - Pdf 57

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHON ĐỀ TÀI.
1. Cơ sở lí luận
Như chúng ta đã biết giáo dục là quốc sách hàng đầu vì vậy trong những
năm gần đây sự nghiệp giáo dục - đào tạo ở nước ta luôn được Đảng, Nhà nước
và xã hội quan tâm. Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, phát triển khoa
học kỹ thuật thì yêu cầu của xã hội về việc đào tạo con người ngày càng cao,
con người phát triển toàn diện, hài hoà mới đáp ứng được sự phát triển của công
nghiệp hoá, hiện đại hoá thì đòi hỏi cơ sở vật chất của trường học ngày càng
phong phú, phức tạp và nhiều mặt. Cơ sở vật chất trường học có vai trò rất quan
trọng là yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình giáo dục, góp phần vào quyết
định chất lượng của nhà trường. Thực tiễn giáo dục của các nước trên thế giới
cũng như ở nước ta cho thấy không thể đào tạo con người phát triển toàn diện
theo yêu cầu phát triển của xã hội nếu không có những cơ sở vật chất tương ứng.
Cơ sở vật chất kỹ thuật của trường học là những điều kiện vật chất cần thiết giúp
học sinh nắm vững kiến thức, hoạt động văn nghệ và rèn luyện thân thể, bảo
đảm thực hiện tốt phương pháp giáo dục và đào tạo mới, nhất là trong giai đoạn
ngành giáo dục chúng ta đang tiến đến phát triển toàn diện, xây dựng, hoàn thiện
cơ sở vật chất các trường trọng điểm và trường chuẩn Quốc gia. Việc đầu tư cơ
sở vật chất và quản lý sử dụng tài sản nếu có hiệu quả sẽ góp phần rất lớn nâng
cao chất lượng giáo dục. Bởi vì nó là thành tố của quá trình sư phạm, nó có quan
hệ tương hỗ với các thành tố khác của quá trình dạy học.
Cơ sở vật chất là điều kiện thiết yếu của quá trình sư phạm bởi nó là
phương tiện để tác động đến thế giới tâm hồn của học sinh. Một trường học
khang trang, sạch đẹp có đủ vườn hoa, sân chơi, nơi rèn luyện thể dục thể thao.
Một nhà trường có đầy đủ thiết bị làm cho học sinh yêu mến trường lớp, thúc
đẩy được động cơ học tập của các em hơn là một ngôi trường lộn xộn, thiếu thốn
đủ điều sẽ giảm đi lòng yêu mến và ý thức phấn đấu học tập của học sinh.
Cơ sở vật chất trong đó có thiết bị dạy học là phương tiện công cụ để
truyền thụ, lĩnh hội kiến thức nó có khả năng to lớn nhưng hiệu quả của chúng
còn phụ thuộc vào việc đào tạo nghề của giáo viên, việc quản lý của cán bộ quản

góp sức của địa phương, của ngành và của cộng đồng, giúp nhà trường có điều
kiện xây dựng cơ sở vật chất làm thay đổi bộ mặt của nhà trường, đồng thời
nâng cao chất lượng giáo dục, giúp uy tín của trường được nâng lên. Song, làm
sao để có biện pháp tuyên truyền huy động phụ huynh học sinh và các tổ chức
xã hội đều hướng về nhà trường bằng cả tâm huyết và lòng tự nguyện, làm sao
để đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục trong nhà trường là điều tôi luôn trăn
trở. Từ đó tôi đã nghiên cứu những đặc thù của đơn vị, áp dụng, tìm giải pháp và
phối hợp thực hiện để đạt được kế hoạch đề ra cho công tác xã hội hoá giáo dục
tại trường tiểu học Công Bình.
Qua hơn 2 năm, tích cực huy động xã hội hóa giáo dục để xây dựng và
phát triển nhà trường, bản thân đã rút ra được: “Một số giải pháp của hiệu
trưởng nhằm nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục xây dựng cơ sở
vật chất trường tiểu học Công Bình” và đã áp dụng có hiệu quả cao.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Xuất phát từ thực tế CSVC của nhà trường trong vài năm gần đây chưa
đáp ứng được yêu cầu giảng dạy và giáo dục trong giai đoạn mới. Đề tài nhỏ này
nhằm mục đích phân tích thực trạng, nguyên nhân, đề ra cơ sở lý luận, giải pháp
giải quyết thực trạng, làm tốt công tác quản lý CSVC trường học, đặc biệt là vấn
đề xây dựng CSVC nhà trường theo hướng kiên cố hoá, đồng bộ hoá, chuẩn hoá
và hiện đại hoá.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
Công tác xã hội hóa giáo dục để tăng cường CSVC trường học đối với
trường Tiểu học Công Bình.
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về biện pháp xã hội hóa cơ sở vật
chất trường học.
2. Nghiên cứu thực trạng về cơ sở vật chất và công tác xã hội hóa cơ sở vật
chất ở trường Tiểu học Công Bình.
V. PHẠM VI VÀ GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU.
Trong đề tài này, tôi xin được giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khuôn

bản Giáo dục).
Điều 12: Luật giáo dục đã ghi: “Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát
triển sự nghiệp giáo dục, thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và hình
thức giáo dục, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân
tham gia phát triển giáo dục. Mọi tổ chức gia đình và công dân đều có trách
nhiệm chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục
tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn.
Chỉ thị số 3399/CT-BGD&ĐT Về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm
non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp đã
nêu: “Đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa giáo dục, tăng cường huy động các nguồn
lực để phát triển giáo dục”.
Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu là động lực thúc đẩy sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là điều kiện để phát huy nguồn lực con
người. Vì vậy hình thành và phát triển nhân cách con người ở bậc Tiểu học là rất
quan trọng. Muốn có con người có nhân cách phát triển toàn diện thì từ lứa tuổi
học sinh Tiểu học cần được học tập và rèn luyện ở những môi trường giáo dục
có chất lượng. Như vậy mới đáp ứng được nhu cầu về nhân lực đào tạo nhân tài
trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mới phát triển được con
người bền vững. Trường Tiểu học muốn phấn đấu về chất lượng thì nhất thiết
phải đủ cả 5 tiêu chuẩn. Năm tiêu chuẩn của trường Tiểu học là những quy định
bắt buộc, các tiêu chuẩn có giá trị như nhau. Năm tiêu chuẩn có quan hệ mật
thiết, bổ sung, hỗ trợ lần nhau tạo nên một hệ thống đồng bộ để đủ điều kiện
thực hiện mục tiêu giáo dục là phát triển nhân cách học sinh.

CHƯƠNG 2
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC
ĐỂ TĂNG CƯỜNG CƠ SỞ VẬT CHẤT TRƯỜNG TIỂU HỌC CÔNG BÌNH
I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH TÌNH XÃ CÔNG BÌNH.

Công Bình là một xã thuộc vùng sâu, vùng xa của huyện Nông Cống.

của học sinh đã hư hỏng và xuống cấp không đủ để xe, lán xe giáo viên xuống
cấp nghiêm trọng, chưa có nhà vệ sinh cho giáo viên, nhà vệ sinh của học sinh
cũng cần phải tu sửa. Sân trường đổ bê tông nhưng đã xuống cấp, trước sân
trường còn là một bãi cỏ, mỗi khi mùa mưa nước lầy lội ảnh hưởng đến hoạt
động của học sinh. Khuôn viên, bãi tập chưa được qui hoạch. Nhà trường có các
phòng để làm việc như: phòng làm việc của hiệu trưởng, phòng chuyên môn,
phòng hội họp, phòng thư viện, phòng đồ dùng còn chật hẹp (15m 2), phòng hoạt
động đội, phòng y tế học đường. Có 13 phòng học. Chưa có phòng tin học,
Trang thiết bị văn phòng có hai máy vi tính sử dụng được, một phục vụ cho
công tác kế toán, một máy phục vụ cho công tác chuyên môn... Nhìn chung, Các
phòng học và phòng chức năng còn thiếu trang thiết bị chưa đáp ứng được nhu
cầu dạy và học theo hướng đổi mới.
Về thư viện: Đầu sách còn ít tài liệu tham khảo dành cho giáo viên,
không có bàn, ghế, tủ giá để sách còn thiếu.
Về thiết bị đồ dùng: Thiết bị đồ dùng còn thiếu so với yêu cầu của việc
đổi mới phương pháp dạy học, nhiều đồ dùng cũ, hỏng không còn khả năng sử
dụng, nhiều bộ đồ dùng không đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập.
Ngoài ra khu vệ sinh giáo viên chưa có, khu vệ sinh của học sinh cần phải
tu sửa.
Các phòng chức năng khác như phòng hoạt động Đội, truyển thống, văn
phòng... thiếu trang thiết bị như: tủ giá treo, bàn ghế, bảng.

5


Sau đây là bảng thống kê cơ sở vật chất của nhà trường năm 2016.
Bảng 1
Cơ sở vật chất
Số lượng
Hiện trạng

0
Phòng y tế
0
Tường bao
800
Lán xe GV
1
- Đang xuống cấp
Lán xe học sinh
1
- Đang xuống cấp
Nhà vệ sinh GV
0
Nhà vệ sinh học sinh
1
- Đang xuống cấp
Sân chơi, bãi tập
1
- Đang xuống cấp
Bồn hoa, cây cảnh.
- Ít, chưa quy hoạch
Ghế đá
0
2. Thực trạng của nhân dân xã Công Bình.
Một bộ phận nhân dân có tư tưởng khoán trắng việc giáo dục con, em học
cho nhà trường. Họ cho rằng chỉ có nhà trường mới có chức năng giáo dục.
Không thấy rõ vai trò của giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Họ trông chờ
vào sự đầu tư của ngân sách nhà nước. Việc xây dựng nhà trường là của cấp trên
họ chỉ biết cho con cái mình đi học. Đặc biệt là không thấy được tầm quan trọng
của tính thống nhất giáo dục giữa 3 lực lượng: Nhà trường - Gia đình - Xã hội.

địa phương thì nội dung huy động phải là chủ trương, văn bản chỉ đạo.
- Dân chủ: tạo môi trường công khai, bình đẳng để cộng đồng hiểu đúng
về giáo dục và nhà trường hơn, đồng thời góp phần thực hiện nguyên tắc “dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” các hoạt động XHHGD để mối quan hệ
giữa nhà trường, gia đình và xã hội phát triển toàn diện và mang lại hiệu quả
thiết thực.
- Luật pháp: XHHGD phải tuân thủ pháp luật Nhà nước, có nghĩa là cần
dựa trên cơ sở pháp lý. Ngược lại, các cơ quan đoàn thể, các tổ chức xã hội,...
cũng cần có những cơ sở pháp lý để triển khai cũng như để tham gia huy động
nguồn lực cho giáo dục.
- Phù hợp và thích ứng: Cán bộ quản lý giáo dục phải biết lựa chọn thời
gian thích hợp nhất để đưa ra một chủ trương XHHGD. Tuy nhiên, để thực hiện
nguyên tắc này là phải xây dựng cho được kế hoạch cụ thể và kế hoạch mang
tính định hướng.
- Truyền thống, tình cảm: là sự khơi dậy và phát huy truyền thống hiếu
học, tôn trọng đạo lý, đề cao sự học, đề cao giá trị của học vấn... của mỗi gia tộc,
dòng họ; niềm tin của cá nhân vào sự nghiệp phát triển chung của giáo dục, của
từng nhà trường để có thể huy động nhiều nguồn lực khác nhau chăm lo cho sự
nghiệp giáo dục đào tạo.
- Kế hoạch hóa: kế hoạch hóa là một trong bốn chức năng quản lý và là
một chức năng mang tính chủ đạo trong quá trình quản lý của người Hiệu
trưởng. Cần chi tiết hóa kế hoạch và hệ thống giải pháp cụ thể.
2. Giải pháp 2: Lập kế hoạch chi tiết xây dựng đổi mới CSVC nhà trường.
Để tiến hành công tác xã hội hóa cơ sở vật chất nhà trường cần phải có kế
hoạch xây dựng hoặc đổi mới CSVC theo từng giai đoạn: Từng năm hoặc vài
năm. Để có kế hoạch xây dựng CSVC cần xác định mục tiêu của kế hoạch là
nâng cấp hay hoàn thiện CSVC của trường. Xây dựng thiết bị dạy học theo quy
đinh của Bộ GD&ĐT. Sửa chữa nâng cấp phòng học, phòng làm việc. Xây dựng
thư viện theo quy định của Bộ GD&ĐT. Sau khi đã xác định mục tiêu của kế
hoạch sẽ tập hợp nội dung của kế hoạch. Lập một kế hoạch các công việc về

phải trở thành Nghị quyết của Đảng của hội đồng nhân dân mới được mọi người
dân đồng tình, ủng hộ.
4. Giải pháp 4: Làm tốt công tác tuyên truyền.
Trong Hội nghị cán bộ công chức viên chức đầu năm, hiệu trưởng đưa ra
quy chế làm việc, quy chế chi tiêu nội bộ trong đó có kinh phí từ nguồn xã hội
hóa giáo dục để tập thể cán bộ giáo viên biết chủ trương của nhà trường, cùng
tham gia góp ý và thảo luận. đảm bảo tính công khai minh bạch và dân chủ.
Thông qua các buổi sinh hoạt hội đồng, chuyên môn nhà trường thông báo rõ
chủ trương mục đích huy động XHH. Công khai kịp thời các kế hoạch thực hiện
nhiệm vụ giáo dục của nhà trường theo từng giai đoạn để tất cả tập thể sư phạm
trong nhà trường đề được tham gia, góp ý và hiến kế hay cho nhà trường
Từ đó, cán bộ, giáo viên, nhân viên là người tuyên truyền có hiệu quả đến
phụ huynh học sinh và các mạnh thường quân trên địa bàn, phải làm sao để họ
thấy được đây là ngôi nhà chung của tập thể sư phạm và mọi người đều có trách
nhiệm cùng chung tay xây dựng. Khi tập thể sư phạm nhà trường thấy kế hoạch
của Hiệu trưởng là đúng đắn họ sẵn sàng ra sức ủng hộ bằng tấm lòng tự
nguyện.
Làm tốt công tác tuyên truyền tới các phụ huynh và nhân dân. Tranh thủ
những kì họp phụ huynh trong năm. Hiệu trưởng kết hợp với giáo viên chủ
nhiệm tuyên truyền về công tác xã hội hóa giáo dục. Trước khi tuyên truyền phải
8


xây dựng nội dung cụ thể chi tiết. Biết lắng nghe ý kiến của phụ huynh học sinh
tổng hợp những ý kiến chung nhất để để tạo được sự đồng thuận cao nhất.
Thông qua hệ thống loa truyền thanh của xã nhà trường làm tốt công tác
tuyên truyền, nhiều người dân sẽ hiểu về giáo dục hơn. Đồng thời tuyên dương
những điển hình tiên tiến trong công tác xã hội hóa giáo dục để nhân rộng phong
trào.
Phối hợp chặt chẽ với các ban ngành đoàn thể của địa phương để làm tốt

đạo nâng cao chất lượng giáo dục học sinh. Căn cứ vào 5 nhiệm vụ của người
học sinh tiểu học, nhà trường xây dựng kế hoạch chỉ đạo các giáo viên chủ
nhiệm làm tốt công tác giáo dục ý thức đạo đức của các em thông qua: Dạy
đúng, dạy đủ chương trình môn đạo đức ở từng khối lớp. Nêu gương người tốt
việc tốt; Phát động các phong trào thi đua: “Nói lời hay, làm việc tốt”; Tổ chức
đọc sách báo, thi kể chuyện.... Khen thưởng và trách phạt phải đúng người, đúng
việc. Tổ chức các hoạt động thực tiễn: Giao việc, rèn luyện, tập thói quen ứng
sử, sử lý tình huống... thông qua các bài tập thực hành, các hội thi.
9


Chỉ đạo giáo viên dạy đúng chương trình, tích cực đổi mới phương pháp,
hình thức tổ chức lớp học sao cho phù hợp đối tượng học sinh, khuyến khích học
có năng khiếu vươn lên, giúp đỡ các em còn yếu không nản lòng. Nhà trường
được tiếp cận với những phương pháp dạy học mới như: dạy học Mĩ thuật theo
chuyên đề Đan Mạch,…hướng dẫn học sinh tích cực chủ động, sáng tạo rèn
luyện thói quen tự học, tinh thần học tập hợp tác trong học tập... Tổ chức mở các
chuyên đề giảng dạy các phân môn: Tiếng việt, toán, TNXH... để nâng cao chất
lượng soạn giảng, các hình thức tổ chức lớp học sao cho linh hoạt, phù hợp đối
tượng học sinh...
Nhà trường thành lập các câu lạc bộ để cho các em có điều kiện phát
phiển năng khiếu. Như câu lạc bộ văn nghệ, câu lạc bộ Mĩ Thuật, câu lạc bộ
Tiếng Anh, câu lạc bộ Toán – Tiếng Việt…
Khi nhà trường đã có uy tín cho mình bằng chất lượng giáo dục, tạo cho
các em có một môi trường học tập thoải mái, học sinh ham thích đến trường, coi
mỗi ngày đến trường là một niềm vui. Mỗi giáo viên phải coi học sinh như chính
con em ruột thịt của mình, giảng dạy bằng cả tình thương, lương tâm và trách
nhiệm để học sinh thấy tự tin hơn khi được sống trong ngôi nhà chung ấm áp
cùng các bạn. Phụ huynh sẽ tin tưởng và yên tâm khi gửi con em học tại trường
và ủng hộ xây dựng nhà trường.

Hướng dẫn việc công khai tài chính đối với các quỹ có nguồn từ ngân sách nhà
nước và các quỹ có nguồn từ các khoản đóng góp của nhân dân và Thông tư số
09/2009/TT-BGDĐT ngày 07/5/2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy
chế thực hiện công khai đối với cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân.
II. KẾT QUẢ
Hơn 2 năm qua, nhờ có công tác XHHGD mà điều kiện dạy và học nhà
trường không ngừng thay đổi. Các hoạt động dạy và học trong nhà trường, bên
cạnh sự cố gắng của giáo viên, công nhân viên thì sự hỗ trợ của cha mẹ học sinh
và các tổ chức xã hội khác đã mang lại kết quả đáng kể. Chất lượng giáo dục
toàn diện ngày càng được nâng cao, các em không chỉ giỏi giang về văn hoá, mà
còn được giáo dục để phát triển về thể chất, tâm hồn, tài năng nghệ thuật… Tôi
cho rằng, trong khi ngân sách chi cho giáo dục còn hạn hẹp, thì nguồn huy động
11


vật chất từ cha mẹ học sinh, tổ chức xã hội đem lại cho học sinh môi trường giáo
dục tốt. Nếu toàn xã hội và các gia đình quan tâm với công tác XHHGD thì em
học sinh được hưởng môi trường giáo dục tốt hơn. Trong 2 năm qua, nhờ
XHHGD, cơ sở vật chất và điều kiện dạy học của trường được đánh giá là khá
tốt so với các trường trên địa bàn của huyện.
Về hướng đi trong công tác XHHGD thời gian tới của trường, nhà trường
đã tổ chức hội thảo đánh giá lại công tác XHHGD, điểm gì chưa được thì khắc
phục, điểm gì đã được thì phát huy… Phần đông cha mẹ học sinh đều có ý kiến
nhà trường cần có tuyên truyền rộng rãi hơn nữa; thông tin kịp thời để cha mẹ
học sinh hiểu được việc làm cụ thể chủ trương XHHGD; biểu dương các gương
điển hình đối với các nguồn thu từ XHH; cùng với Ban đại diện cha mẹ học sinh
sử dụng nguồn đầu tư cho hiệu quả; xây dựng trang web để quảng bá hình ảnh
nhà trường, cũng như là kênh trao đổi thông tin; thành lập Hội đồng tư vấn, làm
công tác XHHGD cùng với nhà trường đề ra phương hướng cụ thể XHHGD
trong thời gian tới. Trong những năm học tiếp theo, nhà trường chúng tôi tiếp

Văn phòng
Phòng Hiệu trưởng

1(45m2)
1(30m2)

Phòng Phó hiệu trưởng

1(15m2)

- Trang thiết bị đầy đủ: Có bàn ghế, tủ
đựng hồ sơ, máy tính phụcvụ công tác
quản lý, có kết nối Internet.

Phòng đoàn đội

1(15m2)

Đầy đủ trang thiết bị: Tủ, lao, trống, …

Phòng y tế

1(15m2)

Tường bao

2

Nhà xe GV
Nhà xe học sinh

1

Bồn hoa, cây cảnh.
Ghế đá

Nhiều
10

- Đảm bảo cho GV nam, nữ sử dụng.
- Đảm bảo cho riêng HS nam, nữ sử
dụng
- Đã được đổ bê tông .
- Được xây dựng lát gạch men để học
sinh và giáo viên hoạt động
- Được quy hoạch
- Đảm bảo cho học sinh vui chơi.

Với một xã nghèo, số lượng học sinh ít số tiền ủng hộ của nhân dân và các
tổ chức xã hội như trên không phải ở đâu cũng có. Nhờ làm tốt công tác xã hội
hóa giáo dục, có sự ủng hộ của phụ huynh, của nhân dân, của các tổ chức xã hội,
của các mạnh thường quân mà hiện nay nhà trường có một khuôn viên khang
trang, “Xanh – sach - đẹp - an toàn”, “trường học thân thiện học sinh tích cực”
Nhìn vào hình ảnh của nhà trường hiện nay và so sánh đối chiếu giữa Bảng 1 và
Bảng 4, thấy được rằng trong các năm qua nhà trường đã đạt được những tiêu
chí của trường Chuẩn Quốc gia mức độ 1 năm học 2017- 2018

13


C.PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.

rõ ràng về công tác xã hội hoá giáo dục, nên dựa vào Ban phụ huynh để phát huy
tính dân chủ và tạo lòng tin của nhà trường đối với Ban phụ huynh. Nguồn huy
động được từ công tác xã hội hóa phải công khai minh bạch, có sơ kết, tổng kết,
niêm yết tại cơ quan đơn vị và báo cáo với phụ huynh học sinh.
- Để làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục đòi hỏi người Hiệu trưởng cần
phải năng động, sáng tạo trong quản lý. Có ý thức trách nhiệm cao với ngành,
với phong trào, với nhân dân và phụ huynh. Có lòng yêu nghề nhiệt tình, kiên trì
nhẫn nại. Có kế hoạch xây dựng nhà trường một cách cụ thể dựa trên tình hình
địa phương, có tính thuyết phục, tính khả thi cao. Biết dựa vào sức mạnh tập thể,
bàn bạc thảo luận, công khai kế hoạch và việc làm trong Hội đồng sư phạm để
có nhiều biện pháp thực hiện tốt hơn, điều hành, sử dụng có hiệu quả nguồn
14


nhân lực đó là sự thành công trong công tác xã hội hoá giáo dục của người Hiệu
trưởng. Từ đó khẳng định vị thế của nhà trường trước nhân dân địa phương.
III. KIẾN NGHỊ
1. Nhà trường.
Nhà trường tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền và công tác tham mưu
để phát triển nhà trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1.
2. Lãnh đạo các cấp.
Tổ chức giao lưu giữa các trường trong huyện, trong tỉnh để chia sẻ về
công tác xã hội hóa giáo dục.
Cấp trên cần có đường lối chỉ đạo kịp thời bằng các văn bản để các nhà
trường hiểu đúng về công tác xã hội hóa giáo dục tránh tình trạng hiểu sai lệch
khái niệm xã hội hóa giáo dục lạm dụng thu tiền đóng góp của dân dùng vào
mục đích khác.
IV. KẾT LUẬN CHUNG.
Công tác xã hội hóa CSVC trường học là một phạm trù rộng lớn của nhà
quản lý. Những nội dung trình bày ở trên chỉ đề cập đến vấn đề công tác xã hội



thành để bổ sung, sửa chữa, hoàn chỉnh hơn, khả dĩ vận dụng tốt hơn vào thực tế
quản lý, xây dựng CSVC của nhà trường, để trong thời gian tới có nhiều trường
đạt chuẩn hơn nữa, đưa sự nghiệp giáo dục của huyện ngày một phát triển.
Từ những việc làm và số liệu thực tế ở nhà trường tôi mạnh dạn viết sáng
kiến kinh nghiệm này. Tuy nhiên vì sự hiểu biết còn nhiều hạn chế, kinh nghiệm
trong công tác quản lý trường tiểu học chưa nhiều nên không tránh khỏi những
thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý của đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG

Nông Cống, ngày 02 tháng 4 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.

Người viết

Trần Thế Định

16


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ giáo dục và đào tạo - Quy chế công nhận trường Tiểu học đạt chuẩn
Quốc gia.
2. Bộ giáo dục và đào tạo – Thông tư 41/2010/TT-BGDĐT ban hành Điều
lệ trường Tiểu học.
3. Bộ giáo dục và đào tạo – Thông tư 55/2011/TT-BGDĐT của Bộ giáo
dục và Đào tạo ban hành Điều lệ Ban đại diện cha mẹ học sinh.


PHẦN MỞ ĐẦU

1
1
2
2
2
2
3

B

C

Lí do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng
Nhiệm vụ nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG

4

Chương 1: Cở sở pháp lí

4

Chương 2: Thực trạng

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status