SKKN một số biện pháp giúp học sinh giữ vở sạch viết chữ đẹp ở lớp 1e trường tiểu học thị trấn thường xuân - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THƯỜNG XUÂN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP
GIÚP HỌC SINH GIỮ VỞ SẠCH – VIẾT CHỮ ĐẸP Ở
LỚP 1E TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN THƯỜNG XUÂN

Người thực hiện: Lương Thanh Huyền
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thị trấn Thường Xuân
SKKN thuộc môn: Tiếng Việt

THANH HOÁ NĂM 2018


MỤC LỤC
Nội dung
Trang
1. Mở đầu........................................................................................................1
1.1. Lý do chọn đề tài .....................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu ...............................................................................2
1.3. Đối tượng nghiên cứu .............................................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu .........................................................................2
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm..............................................................2
2.1. Cơ sở lý luận của SKKN..........................................................................2
2.2. Thực trạng của vấn đề..............................................................................3
2.3. Biện pháp giữ vở sạch – viết chữ đẹp cho HS lớp 1 CNGD ...................4
2.3.1. Biện pháp giúp HS viết chữ đẹp............................................................5

Nhiều thế hệ thầy cô giáo đã trăn trở, góp công, góp sức để cải tiến kiểu chữ,
nội dung cũng như phương pháp dạy học chữ viết.
Tuy vậy, thực tế hiện nay, chữ viết của các em HS tiểu học chưa được đẹp,
chưa đúng mẫu, sự liên kết giữa các nét chữ hoặc liên kết giữa các chữ cái
chưa chuẩn, tốc độ viết còn chậm, HS sử dụng nhiều loại bút để viết bài nên
còn hạn chế trong việc “Giữ vở sạch - Viết chữ đẹp”. Đây là một mảng quan
trọng có ảnh hưởng đến chất lượng học sinh và được các trường quan tâm, đặc
biệt đối với HS lớp 1. Nâng cao chất lượng giờ dạy để học sinh viết đúng, viết
nhanh, viết đẹp thì phong trào “Giữ vở sạch - Viết chữ đẹp” mới có chất lượng.
Với tình hình hiện nay, đa số các em HS nói chung, đặc biệt là các em HS lớp 1
nói riêng hầu như các em chưa có ý thức trong việc rèn chữ, giữ vở. Trong
những năm dạy lớp 1 tôi thường kể cho các em nghe câu chuyện “Văn hay chữ
tốt”, nói về danh nhân Cao Bá Quát nổi tiếng là văn hay chữ đẹp để giáo dục
các em vì sao phải rèn chữ đẹp. Vì bài văn, bài toán dù hay, dù đúng đến đâu
mà chữ viết nguệch ngoạc, xấu không đọc được thì bài văn, bài toán đó không
còn giá trị vì có ai đọc được nó.
Với những lí do trên, tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp học sinh
Giữ vở sạch - Viết chữ đẹp ở lớp 1E trường Tiểu học Thị Trấn Thường
Xuân” .
1


1.2. Mục đích nghiên cứu:
Nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy môn Tiếng Việt và việc rèn chữ giữ vở
cho học sinh lớp 1, để các em viết đúng cỡ chữ, độ cao chữ, khoảng cách giữa
các chữ, các con chữ... từ đó dẫn đến viết sạch, viết đẹp, trình bày bài được tốt
hơn, các em có khả năng nhận thức và nhớ được tư thế ngồi viết, quy tắc viết
chính tả. Đó chính là mục đích của việc rèn chữ, giữ vở cho học sinh lớp 1 nói
chung, HS lớp 1E trường Tiểu học Thị Trấn Thường Xuân nói riêng.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:



Vở “Em tập viết - CNGD lớp 1” hiện nay chất lượng tốt, giấy dày, có kẻ li
(đường kẻ ngang và dọc) như vở ô li, có dấu chấm để HS biết được điểm đặt bút.
Từ đó các em dễ căn vào đường kẻ ngang và kẻ dọc để viết chữ đúng và chính xác
hơn, dễ viết hơn. Giúp các em viết đúng về khoảng cách giữa các chữ, câu, từ.
Vở em tập viết có phần luyện viết ở nhà giúp HS được luyện viết nhiều
hơn nhằm củng cố thêm kỹ năng viết, đọc cho HS. Ngoài ra, trong các tiết tự
học, tiết ôn luyện GV cho HS luyện thêm vào vở ô li nhằm giúp HS viết tốt
hơn, ở nhà HS có thể luyện viết thêm trong vở ô li.
Như vậy ta thấy vở tập viết, vở ô li và chương trình rất phù hợp thuận lợi
cho GV và HS trong quá trình học tập viết.
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
2.2.1. Thuận lợi:
- Đa số các em đều qua mẫu giáo.
- Sĩ số lớp không quá đông (24 em), nên thuận lợi trong việc theo dõi, hướng
dẫn, giúp đỡ cũng như kiểm tra tới từng học sinh trong quá trình học tập.
- Cơ sở vật chất tốt, bàn ghế đúng kích cỡ, đủ ánh sáng, không gian thoáng
mát, chữ mẫu đầy đủ.
- Ban giám hiệu quan tâm sâu sát, tạo cơ sở vật chất tốt cho lớp học.
- Đa số phụ huynh quan tâm đến việc học của các em, các em có đầy đủ
đồ dung học tập.
- Hiện nay trường tôi đã triển khai học chương trình Tiếng Việt lớp 1
Công nghệ giáo dục (CNDG) được 4 năm. Với chương trình CNDG học sinh
nắm chắc hơn về hệ thống cấu trúc ngữ âm, về luật chính tả đặc biệt là cách đặt
dấu thanh, điều này giúp HS viết đúng hơn.
2.2.2. Khó khăn:
- Đa số các em ngồi chưa đúng tư thế, khi viết còn tì ngực vào bàn, đầu
còn cúi sát vở.
- Các em cầm bút còn chưa đúng, cầm sát ngòi bút, cầm bút chặt quá nên


Lỗi viết không
đúng li

Lỗi viết thiếu
nét, chưa đều

Lỗi viết nét
nối liền

Lỗi viết dấu
thanh

24 em

18 em

17 em

17 em

15 em

Từ thực tế trên, tôi thấy cần thiết phải tìm ra cách rèn chữ viết cho HS
ngay từ đầu năm học.
2.2.4. Thực trạng giữ vở của học sinh
- Do các em mới bước vào lớp 1, bắt đầu làm quen với cách sử dụng và
bảo quản sách vở nên các em chưa biết phải giữ như thế nào cho sạch, đẹp.
- Học sinh lấy, cất vở chưa cẩn thận, chưa đúng cách nên làm sách vở quăn
mép, rách, nhàu nát.

chữ, tôi thường sử dụng tên gọi các nét cơ bản để mô tả hình dạng, cấu tạo của
từng con chữ.
Ở học kì I chủ yếu là viết chữ thường, sang học kì II mới tập làm quen
với chữ hoa nên tôi tập trung vào cách hướng dẫn học sinh viết chữ thường
và quy trình viết một chữ cái theo các nét viết đã quy định ở bảng mẫu
chữ. Để tạo sự ổn định cho việc học tập viết của học sinh tôi đã sử dụng tên
gọi 5 loại nét cơ bản (theo tài liệu hướng dẫn chỉ đạo chuyên môn từ 1989)
cụ thể:
Loại nét cơ bản
1. Nét thẳng

2. Nét cong

3. Nét móc

4. Nét khuyết

Dạng - kiểu
-Thẳng đứng
-Thẳng ngang
-Thẳng xiên
- Cong kín
- Cong phải
- Cong trái
- Móc xuôi (móc trái)
- Móc ngược (móc phải)
- Móc hai đầu
- Khuyết trên

Nét minh họa

dạy HS đọc các chữ in thường, GV phải dạy cho học sinh tập viết các chữ cái
viết thường cỡ vừa, viết các vần, tiếng, từ ứng dụng theo cỡ vừa và cỡ nhỏ (HK
II). Do vậy để giúp HS dễ hình dung biểu tượng chữ viết và thực hiện quy trình
viết chữ trên bảng con hay trong vở tập viết, tôi thường mô tả đặc điểm, cấu
tạo, cách viết từng chữ cái cỡ vừa theo dòng kẻ li (trùng với cách thể hiện mẫu
chữ viết theo ô tọa độ ở bảng mẫu chữ viết trong trường Tiểu học), không cần
dùng đến thuật ngữ đơn vị chữ.
Muốn mô tả được chữ viết trên đường kẻ li trước hết phải hướng dẫn và
chỉ ra cho HS nhớ và xác định được li, đường kẻ. Tọa độ chữ được xác định
trên đường kẻ ngang của vở Tập viết. Mỗi dòng viết trong vở gồm có 4 dòng kẻ
ngang (1 dòng đầu đậm và 3 dòng còn lại được in nhạt hơn), ta kí hiệu đường
kẻ trên là số 1 các đường kẻ khác là 2,3,4 kể từ dưới lên trên.
Li: Là khoảng cách giữa hai dòng kẻ (0,25 cm). Trong vở ô li cứ 2 dòng kẻ
tạo thành 1 li, đó cũng là một đơn vị chữ ghi nguyên âm khi viết chữ nhỏ.
Ví dụ:

Cách xác định tọa độ trên khung chữ phải dựa vào đường kẻ dọc, đường
kẻ ngang và các ô vuông làm định hướng. Đây là một trong những điều kiện để
dạy chữ viết thành một quy trình. Quy trình được thực hiện lần lượt bởi các
thao tác mà hành trình ngòi bút đi qua tọa độ các chữ.
Từ đó ta có thể mô tả chữ viết như sau
6


VD: Khi dạy chữ cái d, tôi mô tả theo dòng kẻ li như sau:
+ Đặc điểm: Cao 4 li (5 đường kẻ ngang); Viết 2 nét
+ Cấu tạo: Nét 1(N 1): cong kín, nét 2 (N 2): móc ngược
+ Cách viết:
- N 1 đặt bút dưới đường kẻ 3 (ĐK 3) một chút, viết nét cong kín (từ phải
sang trái)

thường viết liền mạch.Viết liền mạch là viết tất cả các hình cơ bản của chữ cái
trong một chữ ghi tiếng rồi sau đó mới đặt dấu (kể cả dấu phụ của chữ cái và
dấu thanh) theo trình tự: Dấu phụ trước (từ trái sang phải), dấu thanh sau.
Hướng dẫn cách đặt dấu thanh
7


Hiện nay chương trình Tiếng Việt1 - CNGD vấn đề đặt dấu thanh được
hướng dẫn cụ thể trong từng bài học, thống nhất như trong SGK của chương
trình tiểu học do nhà xuất bản giáo dục ấn hành, cụ thể.
Dấu thanh (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng) được đánh ở âm chính. VD: "Bạn"
âm chính là âm a
Nếu âm chính là âm đôi thì dấu thanh được đánh ở yếu tố cuối của nguyên
âm đôi đó: VD: "Cuội" âm đôi là uô.
Ngoài ra cách đặt đấu thanh trong các chữ viết Tiếng Việt cũng cần đảm
bảo sự hài hòa, cân đối và mang tính thẩm mĩ. Do đó các dấu: huyền, hỏi, ngã,
sắc, nặng thường được dặt vào vị trí khoảng giữa (trên, dưới) đối với các chữ
cái a, ă, o, e, i (y) u, ư. VD: "Núi"
Riêng đối với các chữ cái â, ê, ô (có dấu mũ) thì các dấu huyền, sắc được
đặt về phía bên phải của dấu mũ.

VD: "Cố"

Khi hướng dẫn HS viết dấu thanh GV sử dụng thuật ngữ âm chính tạo cho
HS thói quen đặt dấu thanh đúng vị trí và đặc biệt rèn cho HS viết dấu không
quá to, quá nhỏ hay cao quá, thấp quá như vậy mới tạo được sự cân đối thẩm
mĩ và chính xác trong chữ viết.
* Viết ứng dụng từ ngữ, câu:
Khi dạy viết từ ngữ ứng dụng ngoài việc hướng dẫn HS thực hiện các yêu
cầu về viết chữ và ghi tiếng như đã nêu trên, tôi còn phải quan tâm, nhắc nhở

kì I tôi đọc cho HS nghe rồi phân tích từng tiếng và viết. Sang đầu học kì II tôi
cho HS nhắc lại tiếng rồi viết, đến giữa học kì II HS nghe - viết. Việc chú ý đến
từng giai đoạn viết của HS giúp HS có kỹ năng nghe - viết tốt hơn. Việc luyện
kỹ năng viết chữ phải được tiến hành đồng bộ ở lớp và cũng như ở nhà.
Để giúp HS có kỹ năng viết tốt với chương trình Tiếng Việt- CNGD lớp 1
GV không chỉ kiên trì, chịu khó, viết đúng chuẩn, cận thận trong từng con chữ
tuân thủ đúng các bước nêu trên mà GV cần phát âm thật rõ, chuẩn để HS nghe
- viết cho đúng.
* Một số hình thức luyện tập viết chữ học sinh lớp 1
Tập viết chữ (chữ cái, chữ số, từ ngữ, câu) trên bảng lớp
Hình thức tập viết trên bảng có tác dụng kiểm tra sự tiếp thu cách viết và
các bước đầu đánh giá kỹ năng viết chữ của HS. Hình thức này dùng để kiểm
tra bài cũ hoặc sau bước giải thích cách viết chữ, bước luyện tập viết chữ ở lớp.
Từ đó, GV phát hiện những chỗ sai của HS để uốn nắn (Sai về kích cỡ, hình
dáng, thứ tự các nét viết).
Tập viết chữ vào bảng con của HS
Học sinh luyện tập viết bằng phấn (hoặc bút bảng) vào bảng con trước khi
viết vào vở. HS có thể viết chữ cái, vần, chữ khó vào bảng. Khi sự dụng bảng,
GV phải hướng dẫn HS cả cách lau bảng, cách sử dụng và bảo quản phấn,…
Luyện viết trong vở:
Muốn cho HS sự dụng có hiệu quả vở tập viết, GV cần hướng dẫn tỉ mỉ
nội dung và yêu cầu kỹ năng viết của từng bài (chữ mẫu, các dấu chỉ khoảng
cách giữa các chữ, dấu chỉ vị trí đặt bút, thứ tự viết nét…) giúp các em viết đủ
viết đúng số dòng đầu tiên ở mỗi phần bài viết.
Sự nghiêm khắc của GV về chất lượng ở tất cả các môn học là cần thiết,
có như thế việc luyện tập viết chữ mới được củng cố đồng bộ và thường xuyên.
Việc làm này yêu cầu người GV ngoài những hiểu biết về chuyên môn còn cần
có sự kiên trì, cận thận và lòng yêu nghề - mến trẻ.
* Rèn nếp viết chữ rõ ràng sạch, đẹp
Chất lượng về viết chữ của HS không chỉ phụ thuộc vào điều kiện chủ

+ Khăn lau sạch.
- Sử dụng bảng con hợp lý và đảm bảo vệ sinh:
+ Ngồi viết đúng tư thế.
+ Cầm và điều khiển viên phấn đúng cách.
+ Viết xong cần kiểm tra lại. Tự nhận xét và bổ sung chỗ còn thiếu, đặt
bảng ngay ngắn để GV kiểm tra nhận xét.
+ Đọc lại chữ đã viết trước khi xóa bảng.
Vở tập viết, bút chì, bút mực:
- Vở tập viết cần được giữ gìn sạch sẽ, không để quăn góc hoặc giấy bẩn.
- Bút chì dùng ở HK I - lớp 1 cần được bọc cho cẩn thận, đầu chì không
nhọn quá hay dài quá để dễ viết rõ nét chữ. Nên khuyến khích phụ huynh mua
loại bút có độ 2 b (loại này mềm, dễ viết).
Riêng về bút mực, trước đây đòi hỏi HS sử dụng loại bút có quản, ngòi bút
nhọn đầu viết được nét thanh nét đậm. Từ khi loại bút bi (bút chữ A) được sử
dụng phổ biến thay thế cho bút mực, việc học tập viết chữ của HS có phần tiện
lợi (viết nhanh, đỡ dây mực) song chất lượng chữ viết có phần giảm sút. Vì vậy,
GV cần quy định cả lớp dùng một loại bút (bút chữ A ngòi bi) và dùng một màu
mực.
* Thực hiện đúng quy định khi viết chữ:
Tư thế ngồi viết: Tư thế lưng thẳng, không tì ngực vào bàn, đầu hơi cúi, mắt
cách vở 25 - 30 cm; cầm bút tay phải, tay trái tì nhẹ lên mép vở để trang viết
10


không bị xê dịch ; hai chân để song song thỏa mái (tham khảo hình ảnh minh
họa).

Cách cầm bút: Học sinh cầm bút bằng 3 ngón tay (ngón cái, ngón trỏ và
ngón giữa) với độ chắc vừa phải (không cầm bút chặt quá hay lỏng quá). Khi
viết dùng 3 ngón tay di chuyển bút nhẹ nhàng, từ trái sang phải, cán bút

Khi chấm gặp phải chỗ sai của học sinh GV gạch chân chữ đó rồi viết mẫu chữ
đúng bên cạnh hoặc bên dưới bài viết cho HS đối chiếu, so sánh, tự rút ra chỗ
chưa được để khắc phục. GV cần ghi lời nhận xét ngắn gọn thể hiện sự biểu
dương hay góp ý, yêu cầu về chữ viết đối với HS.
Ngoài việc viết mẫu phải cận thận, thì trong quá trình chấm bài GV cũng
cần chấm chính xác và cận thận từng con chữ, từng lời nhận xét. Thế mới có
thể làm gương cho học sinh và tạo cho HS nết viết và trình bày cận thận.
* Chú ý luyện chữ cho học sinh trong tất cả các môn học:
Không chỉ chú ý luyện chữ trong môn Tiếng Việt, mà còn cần rèn cho HS
nếp viết, trình bày cận thận và đẹp trong tất cả các môn học. Điều này tạo cho
HS thói quen rèn chữ, luôn có ý thức rèn chữ - giữ vở thường xuyên.
Ngoài việc rèn chữ cho học sinh ở vở tập viết, tôi còn dành một tuần một tiết
luyện viết vào vở ô li trong các tiết luyện Tiếng Việt để luyện chữ cho học sinh.
Luôn tạo cho các em phong trào thi đua vở sạch chữ đẹp trong lớp.
Thêm vào đó, GV cần liên hệ với phụ huynh để cùng hợp tác nhắc nhở
cho các bài viết ở nhà của các em vì rèn chữ không phải một ngày, một buổi mà
phải luyện trong suốt quá trình học tập của tất cả các phân môn, cả ở trường lẫn
ở nhà. Khuyến khích phụ huynh mua bảng mẫu chữ (viết thường và viết hoa)
treo vào góc học tập của con, và cùng tìm hiểu về độ cao từng chữ cái và cách
viết chúng để có thể phối hợp với GV giúp các em viết đúng và đẹp hơn.
Tôi còn có cách xếp học sinh viết chữ chưa đẹp ngồi gần học sinh viết chữ
đẹp để em đó học hỏi và cố gắng cho bằng bạn. Cách làm này tôi thể nghiệm và
thấy có hiệu quả rất cao. Nhưng giáo viên cũng không quên nhiệm vụ kiểm tra
và hướng dẫn thường xuyên, kịp thời cho những em còn viết chưa đẹp này.
Sau khi áp dụng các biện pháp trên và chú ý sửa sai cho từng nhóm học
sinh theo lỗi sai cơ bản, tôi thấy các em tiến bộ hẳn, số lỗi sai giảm đi rất nhiều.
Sau đây tôi xin nêu một số em đặc biệt và có sự tiến bộ vượt trội qua một thời
gian áp dụng các biện pháp trên và sự dày công khổ luyện của cô và trò.
- Em: Trịnh Khánh Hạ, Đỗ Bảo Ngọc đầu năm các em thường mắc lỗi về
cách viết nối liền nhưng nay hai em đã viết rất tốt.


1 em

1 em

0 em

Như vậy so với đầu năm thì các em đã tiến bộ rõ nét. Có nhiều em viết chữ
đẹp. Lớp tôi được tuyên dương là lớp có HS viết đều chữ, sạch và đẹp.
2.3.2. Biện pháp giúp HS giữ vở sạch
Ngay từ đầu năm học GV phổ biến cho phụ huynh nên mua loại vở bốn ô
li, giấy dày, viết không thấm, hàng kẻ rõ ràng, bọc vở và nhãn dán đầy đủ.
Đối với HS, giáo viên giới thiệu cho các em xem một vài quyển vở mẫu
của các anh chị học năm trước có ý thức tốt trong việc giữ vở sạch viết chữ đẹp,
từ đó giáo dục các em thế nào là một quyển vở sạch, chữ đẹp.
* Biện pháp:
Để có một quyển vở sạch - đẹp ta phải:
Ngay từ đầu năm giáo viên thống nhất bọc vở cho học sinh bằng loại tờ ni
lông làm lớp áo bên ngoài rất tốt giữ vở được sạch đẹp.
Khi bọc vở cho học sinh ta phải bao thêm trang một vào sẽ tránh được tình
trạng sụt bìa.
Vở được mua một loại vở (để thống nhất một loại vở giống nhau) có hàng
kẻ rõ ràng, các ô li đều nhau, giấy không thấm và lem mực, vở có cắt góc để
tránh tình trạng quăn mét vở.
Để vở được sạch không bị quăn góc, không bị viết lem do mồ hôi tay và
hạn chế được tình trạng chữ bút chì in từ trang này qua trang kia, mỗi em cần
sử dụng tờ giấy kê (loại giấy bìa) bọc cả quyển vở bên ngoài lẫn bên trong lại,
khi viết trang nào lật trang đó lên và một tờ giấy kê rời có kích thước chiều
rộng khoảng 15 cm chiều dài, dài hơn chiều ngang quyển vở. Khi viết ta đặt tờ
giấy kê nằm ngang giữ cho mồ hôi tay không bị lem ra vở và vở không bị quăn

C

Đầu năm

3 em

13 em

8 em

Giữa học kì I

10 em

9 em

5 em

Cuối học kì I

17 em

5 em

2 em

Tháng 3/2018

18 em


để cùng nhau thực hiện.
3.2. Kiến nghị:
- Nhà trường nên tuyên dương, trưng bày các cuốn vở sạch, chữ viết đẹp,
trước học sinh toàn trường.
- Cung cấp đầy đủ và nhiều kiểu mẫu chữ khác nhau cho giáo viên ở tất cả
các khối lớp để giáo viên tham khảo và hướng dẫn học sinh được nhiều cách
viết chữ đẹp, phong phú hơn.
Trên đây là một số biện pháp giúp học sinh lớp 1E giữ vở sạch - viết chữ
đẹp. Để sáng kiến kinh nghiệm này của tôi thực hiện tốt và đạt hiệu quả cao
hơn trong phong trào "Giữ vở sạch - Viết chữ đẹp" tôi rất mong sự đóng góp ý
kiến nhiệt tình của các cấp lãnh đạo và các anh chị đồng nghiệp để tôi có thêm
vốn kinh nghiệm nhằm dạy tốt hơn, đặc biệt trong phong trào luyện chữ và giữ
vở cho HS lớp 1.
Tôi xin chân thành cảm ơn !

XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thị Trấn, ngày 9 tháng 3 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người thực hiện
Lương Thanh Huyền

15


DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN

sạch – chữ đẹp lớp 2C.
Một số biện pháp hướng dẫn
học sinh chơi mà học trong
môn Tự nhiên và Xã hội ở
lớp 1C trường Tiểu học Thị
trấn Thường Xuân.

Cấp đánh giá xếp
loại
(Ngành GD cấp
huyện/tỉnh; Tỉnh...)

Kết quả
đánh giá xếp
loại

Huyện

C

2004

Huyện

C

2006

Huyện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status